Cụ thể một số mặt hàng trong biểu thuế, tránh kê khai gian lận

11:32 | 31/07/2021 Print
Để hạn chế gian lận trong kê khai, xác định tỷ lệ giá trị tài nguyên, khoáng sản trong giá thành sản phẩm, giảm thủ tục cho cơ quan hải quan, doanh nghiệp, Bộ Tài chính sẽ cụ thể các mặt hàng đã được chi tiết cụ thể mã số thuộc nhóm có số thứ tự 211 thì áp dụng thuế xuất khẩu tương ứng.

khoáng sản

Khoáng sản chỉ được chế biến ở một mức độ nhất định có thuế xuất khẩu 5%. Ảnh: TL.

Trước khi Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ban hành, pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ quy định nhóm có số thứ tự (STT) 211 là: “vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm (gọi chung là hàng hóa) không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” mà không chi tiết cụ mã số, mô tả hàng hóa của các mặt hàng thuộc nhóm này.

Để đảm bảo thu đúng thu đủ thuế, hạn chế gian lận thương mại, tại Nghị định số 57/2020/NĐ-CP đã chi tiết cụ thể 7 nhóm mặt hàng có tổng giá trị tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng từ 51% giá thành sản phẩm trở lên hoặc khoáng sản chỉ được chế biến ở một mức độ nhất định (ví dụ như clanke xi măng) thuộc STT 211 với mức thuế suất thuế xuất khẩu 5%.

Tuy nhiên, do được chi tiết tại nhóm “vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm (gọi chung là hàng hóa) không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” nên dẫn đến cách hiểu là 7 mặt hàng trên mặc dù đã chi tiết cụ thể tên gọi nhưng vẫn phải tính toán tỷ lệ giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng trong giá thành sản phẩm để áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu 5% (nếu tỷ lệ từ 51% trở lên) hoặc 0% (nếu tỷ lệ dưới 51%).

Qua công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan hải quan, 7 mặt hàng nêu trên đều là khoáng sản thô có giá trị tài nguyên, khoáng sản lớn hơn 51% giá thành sản phẩm.

Theo đó, để hạn chế gian lận trong việc kê khai, xác định tỷ lệ giá trị tài nguyên, khoáng sản trong gia thành sản phẩm và giảm thiểu thủ tục cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan, Bộ Tài chính trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 Nghị định số 57/2020/NĐ-CP quy định cụ thể các mặt hàng đã được chi tiết cụ thể mã số và mô tả hàng hóa thuộc nhóm có STT 211 thì áp dụng thuế xuất khẩu tương ứng quy định tại nhóm này mà không phải xác định giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng trong tổng giá thành sản phẩm./.

Minh Anh

Minh Anh

© Thời báo Tài chính Việt Nam