Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
aa

Áp lực giai đoạn lãi suất thả nổi, cùng điều khoản “cài sẵn”

Mặt bằng lãi suất vay mua nhà đang duy trì ở mức cao. Ngay cả giai đoạn được coi là ưu đãi, nhiều ngân hàng đều áp dụng lãi suất từ 10%/năm trở lên, song nỗi lo lớn hơn nằm ở giai đoạn lãi suất thả nổi.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên viên khách hàng cá nhân của Ngân hàng MB cho biết, lãi suất vay mua nhà ưu đãi 10,9%/năm nếu cố định 12 tháng, hoặc 11,5 - 11,7%/năm nếu cố định 24 - 36 tháng.

Hết thời gian ưu đãi, khoản vay mua bất động sản trên 10 năm áp dụng lãi suất tham chiếu 9,3%/năm, cộng biên độ từ 3 - 7% tùy theo xếp hạng tín dụng của khách hàng. Theo nhân viên này, lãi suất sau thời gian ưu đãi của một số khách hàng đang quản lý đã lên tới 14 - 15%/năm.

Lãi suất vay mua nhà
Mặt bằng lãi suất vay mua nhà đang duy trì ở mức cao. Ảnh: An Thư

Tại VIB, một giám đốc phòng kinh doanh cho biết, gói vay mua nhà đang áp dụng lãi suất cố định 12%/năm trong 24 tháng, sau đó lãi suất thả nổi, được tính theo lãi suất cơ sở (lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng do VIB công bố) cộng biên độ khoảng 3%. Khách hàng tham gia bảo hiểm khoản vay với mức phí khoảng 1% giá trị khoản vay trong năm đầu, sẽ trình giảm lãi suất ưu đãi xuống còn 11,5%/năm.

Đối với khách hàng cũ đang hưởng lãi suất ưu đãi, nhiều phản ánh cũng cho thấy, nhiều ngân hàng không thực hiện đúng cam kết. Một khách hàng vay hơn 3 tỷ đồng, ký hợp đồng lãi suất cố định 7,9%/năm trong 2 năm và mua bảo hiểm theo tư vấn để được hưởng mức lãi suất này, song sau 7 tháng lãi suất tăng lên 9%/năm, mà ngân hàng không thông báo.

Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng “cài” thêm điều khoản cho phép điều chỉnh lãi suất cho vay, nếu lãi suất huy động tăng quá 10%, kể cả trong thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi cố định. Khách hàng cần đặc biệt lưu ý điều khoản này trước khi ký hợp đồng.

Thống kê của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI cho thấy bức tranh rõ nét hơn. Lãi suất ưu đãi cố định 12 tháng tăng lên 8,5 - 10%, từ mức 6,5 - 8,2% trước đó, trong khi lãi suất vay mua nhà thả nổi tăng lên 11 - 15%, từ mức 9 - 11%.

Thị trường bất động sản chững lại do lãi suất cao và tăng trưởng tín dụng bất động sản bị khống chế. Cùng với đó, việc chương trình ân hạn gốc vay mua nhà hết hiệu lực, với “điểm rơi rủi ro” trong quý III/2026, tiếp tục tạo sức ép lên người mua nhà, thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng trong các quý tới.

“Các khoản vay được giải ngân trong giai đoạn 2023 - 2024 với mức lãi suất trong thời gian ân hạn 2 - 3 năm sẽ chuyển sang giai đoạn thả nổi với lãi suất cao. Nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến, tốc độ hình thành nợ xấu trong phân khúc này có thể tăng nhanh trong quý III - IV/2026” - chuyên gia SSI nhận định.

Lãi suất hợp lý, cố định trong dài hạn để “kích” nhu cầu

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Kinh doanh Batdongsan.com.vn cho rằng, người mua nhà mong muốn khoản trả góp hằng tháng, bao gồm cả gốc và lãi, chiếm khoảng 20 - 40% thu nhập. Theo khảo sát của đơn vị, 81% người được hỏi sẵn sàng vay mua nhà nếu lãi suất ở mức dưới 9%. Đây là một ngưỡng rất rõ ràng để thúc đẩy nhu cầu trên thị trường. Khi lãi suất ở trên 10%, nhu cầu mua nhà vẫn tồn tại, nhưng người dân sẽ thận trọng hơn nhiều.

Trước tâm lý lo ngại của nhiều khách hàng về việc lãi suất vay thường chỉ được cố định trong một thời gian, sau đó chuyển sang thả nổi với mức phải trả khó dự đoán, bà Vũ Thị Thu Hà - Giám đốc Sản phẩm tín dụng, Khối Khách hàng cá nhân ABBank chia sẻ, chỉ cần nghe đến cụm từ “lãi suất thả nổi”, nhiều khách hàng đã cảm thấy lo lắng. Tuy nhiên, để khách hàng yên tâm hơn, ngân hàng hoàn toàn có thể minh bạch và giải thích rõ cơ chế tính lãi suất.

Kỳ vọng đưa lãi suất vay mua nhà về mức phù hợp

“Với các khoản vay mua nhà phục vụ nhu cầu ở thực, mức lãi suất 14 - 16%/năm là khá cao so với khả năng chi trả của đa số người dân. Kỳ vọng với sự phối hợp của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, lãi suất cho vay mua nhà thời gian tới có thể được điều chỉnh về khoảng 11 - 14%/năm, tùy từng phân khúc và mức độ tín nhiệm của khách hàng”.

Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi

Chẳng hạn, với khoản vay thời hạn 35 năm, trong 2 hoặc 3 năm đầu lãi suất được cố định ở một mức nhất định; sau thời gian ưu đãi sẽ chuyển sang lãi suất thả nổi. Dù ngân hàng không thể cam kết một mức lãi suất cụ thể cho giai đoạn sau, nhưng hoàn toàn có thể cung cấp công thức tính để khách hàng chủ động kiểm tra, hình dung mức lãi suất theo điều kiện thị trường tại từng thời điểm.

“Điều này giúp khách hàng sẽ yên tâm về mức độ minh bạch, công khai của ngân hàng để có thể tiếp cận vốn” - bà Hà bày tỏ.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, các ngân hàng nên thiết kế những gói vay có lãi suất cố định trong 2 năm, 3 năm, 5 năm, thậm chí 10 năm trước khi chuyển sang thả nổi, qua đó, giúp người trẻ mua nhà yên tâm hơn trong việc lập kế hoạch tài chính.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cũng cần nghiên cứu các sản phẩm tín dụng phù hợp cho người có nhu cầu thuê mua nhà, với thời hạn 5 - 15 năm và mức lãi suất nằm giữa lãi suất nhà ở xã hội và nhà ở thương mại, tạo điều kiện để người thuê tích lũy tài chính trước khi sở hữu nhà.

Về mặt bằng lãi suất, ông Huy nhận định trong vài năm tới, việc duy trì mức hiện nay hoặc giảm thêm khoảng 1 - 2 điểm phần trăm đã là nỗ lực rất lớn của hệ thống ngân hàng.

Dư địa giảm lãi suất không còn nhiều khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn rất lớn do các dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân quy mô lớn. Vì vậy, kỳ vọng giảm mạnh lãi suất thông qua kênh tín dụng rất khó.

Lãi suất chưa dễ giảm, chờ “gió thuận”

Dự báo về mặt bằng lãi suất cuối năm 2026, nhóm phân tích SSI Research cho rằng, sự cải thiện đáng kể về thanh khoản hệ thống ngân hàng khó có khả năng xảy ra, và lãi suất được kỳ vọng sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn.

Việc hạ lãi suất trên diện rộng vẫn khó xảy ra, mức độ nới lỏng tiếp theo của chính sách tiền tệ sẽ tùy thuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố: lạm phát hạ nhiệt, huy động tiền gửi cải thiện, áp lực tỷ giá được kiềm chế và dự trữ ổn định.

Còn cho vay mua nhà nhiều khả năng chỉ phục hồi rõ hơn khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt. Theo quan điểm của SSI Research, đây có thể là câu chuyện của năm 2027 hơn là của năm nay.

Ông Đào Văn Hà - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho rằng, khi lạm phát, tỷ giá được kiểm soát tốt thì biên độ dao động lãi suất thả nổi sẽ giảm thiểu, tạo ra môi trường tiền tệ có độ dự báo cao. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng để doanh nghiệp có thể tính toán dòng tiền đầu tư và người mua nhà có thể chủ động được nghĩa vụ trả nợ dài hạn, mà không lo ngại áp lực tài chính đột biến.

“Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng minh bạch với khách hàng, công khai lãi suất cho vay, các nguyên tắc điều chỉnh lãi suất sau thời gian ưu đãi, để người vay có thể so sánh và lựa chọn trước khi quyết định đưa ra quyết định của mình” - ông Hà nhấn mạnh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

(TBTCO) - Từ gần bốn thập kỷ kinh nghiệm trên nhiều thị trường tài chính quốc tế đến vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị HDBank, ông Kim Byoungho ghi dấu ấn ở khả năng kết nối các chuẩn mực quản trị toàn cầu với thực tiễn Việt Nam, trong một giai đoạn HDBank tăng tốc về quy mô, hiệu quả và hội nhập.
VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

(TBTCO) - Công ty TNHH Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank (VCBF) đã kết thúc đợt chào bán lần đầu (IPO) của Quỹ Đầu tư Tối ưu Dòng tiền VCBF (VCBF-CFO), dự kiến bắt đầu giao dịch từ tháng 10/2026. Quỹ được thiết kế cho những khoản tiền nhàn rỗi ngắn hạn của doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân: có thể đặt lệnh bán/giao dịch hằng ngày; thời gian tiền về theo quy định của quỹ; đầu tư vào tài sản rủi ro thấp và được quản lý chuyên nghiệp.
Mở dòng vốn đa tầng, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Mở dòng vốn đa tầng, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

(TBTCO) - Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo gặp nhiều rào cản tiếp cận vốn do sự lệch pha giữa đặc thù hoạt động và phương thức cấp tín dụng truyền thống. Nhiều ý kiến đề xuất phát triển cấu trúc vốn đa tầng, phù hợp với vòng đời phát triển của doanh nghiệp; đồng thời, kết nối dữ liệu và mở rộng vai trò ngân hàng nhằm khơi thông nguồn lực.
Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

(TBTCO) - Thị trường carbon đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với bài toán vốn cho chuyển đổi xanh: biến kết quả giảm phát thải thành một giá trị có thể được ghi nhận, giao dịch và từng bước đi vào quyết định đầu tư. Nhưng để điều đó xảy ra, Việt Nam cần cả hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn, định giá, tín dụng và thị trường vốn đủ tin cậy để biến giá trị carbon thành tín hiệu tài chính.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn tại các doanh nghiệp không thay đổi so với phiên trước, lần lượt giao dịch trong khoảng 141 - 144,8 triệu đồng/lượng và 139,6 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

(TBTCO) - Ngày càng tự chủ mảng bảo hiểm, các ngân hàng có nhiều lợi thế phát triển bảo hiểm nhúng tại các "điểm chạm", ngay từ quá trình chuyển khoản. Tuy nhiên, cách triển khai đang khiến khách hàng thêm bận tâm thay vì an tâm, đòi hỏi bảo hiểm nhúng trên app ngân hàng phải được thiết kế minh bạch, tách bạch với giao dịch chính và đảm bảo tính tự nguyện.
Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.195 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến trái chiều.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 143,800
Hà Nội - PNJ 140,800 143,800
Đà Nẵng - PNJ 140,800 143,800
Miền Tây - PNJ 140,800 143,800
Tây Nguyên - PNJ 140,800 143,800
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 143,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,940 14,340
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,620 14,220
Trang sức 99.99 13,630 14,230
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 1,428
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 141,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 107,261
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 97,264
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 87,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 83,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 59,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/10/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17540 17812 18391
CAD 17650 17924 18542
CHF 30484 30860 31505
CNY 0 3832 3928
EUR 28362 28579 29662
GBP 33512 33900 34837
HKD 0 3173 3376
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14787
SGD 19710 19992 20563
THB 687 750 803
USD (1,2) 25670 0 0
USD (5,10,20) 25708 0 0
USD (50,100) 25736 25750 26120
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,725 25,725 26,105
USD(1-2-5) 24,696 - -
USD(10-20) 24,696 - -
EUR 28,426 28,449 29,801
JPY 159.07 159.36 169
GBP 33,690 33,781 34,949
AUD 17,726 17,790 18,471
CAD 17,825 17,882 18,544
CHF 30,743 30,839 31,761
SGD 19,814 19,876 20,665
CNY - 3,797 3,943
HKD 3,235 3,245 3,381
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.32 744.4 797.09
NZD 14,195 14,327 14,750
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,813 3,948
NOK - 2,657 2,754
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.63 - 6,694.63
TWD 732.73 - 887.77
SAR - 6,781.41 7,144.03
KWD - 81,832 87,080
AED - 6,800 7,328
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25750 26110
AUD 17721 17821 18751
CAD 17826 17926 18940
CHF 30714 30744 32332
CNY 3814.1 3839.1 3974.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28545 28575 30298
GBP 33816 33866 35624
HKD 0 3315 0
JPY 160 160.5 171.02
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14316 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19867 19997 20720
THB 0 716 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Cập nhật: 13/10/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30