Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Doanh số vay “nóng” vượt 1 triệu tỷ đồng, tức tốc bơm thanh khoản

Trong tuần từ ngày 29/6 - 3/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều tiết thanh khoản mạnh qua kênh thị trường mở (OMO).

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 69.077,2 tỷ đồng, chủ yếu ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày; lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 59.529,8 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.547,4 tỷ đồng ra thị trường qua kênh OMO, nối tiếp đà bơm ròng khoảng 4.000 tỷ đồng của tuần liền trước, cho thấy nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 239.199,38 tỷ đồng.

Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt, đặc biệt vào thời điểm cuối tháng. Đáng chú ý, trong phiên 30/6, Ngân hàng Nhà nước đã bơm mạnh 31.551,1 tỷ đồng, trùng với giai đoạn thanh khoản hệ thống căng thẳng nhất khi doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vượt 1,1 triệu tỷ đồng kỳ hạn qua đêm.

Cùng thời điểm, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng vọt lên 12,49%/năm, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng đột biến, chủ yếu do áp lực chốt sổ cuối tháng, cuối quý.

Sau khi được bơm thanh khoản, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể. Chốt phiên 2/7, lãi suất qua đêm giảm xuống 6,62%/năm, giảm 3,71 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tuần giảm còn 6,92%/năm (giảm 0,43 điểm phần trăm), kỳ hạn 2 tuần xuống 7,07%/năm (giảm 0,65 điểm phần trăm) và kỳ hạn 3 tháng giảm còn 7,7%/năm (giảm 0,49 điểm phần trăm). Riêng kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ lên 7,88%/năm, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Lãi suất có thể đã tạo đỉnh, nhưng chưa dễ đảo chiều

“Với các động thái hỗ trợ thanh khoản và tăng trưởng tín dụng gần đây, chúng tôi cho rằng, khả năng mặt bằng lãi suất đã ở vùng đỉnh. Tuy nhiên, xu hướng đảo chiều vẫn cần thêm thời gian và phụ thuộc vào tốc độ cải thiện của huy động vốn, tín dụng, hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Nhìn chung, dù áp lực thanh khoản đã dịu bớt sau nhịp bơm vốn mạnh từ Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, cho thấy thanh khoản VND trong hệ thống chưa thực sự trở lại trạng thái dồi dào.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, sau 2 tháng liên tiếp bơm ròng, Ngân hàng Nhà nước đã quay trở lại hút ròng hệ thống trong tháng 6 hơn 86,9 nghìn tỷ đồng.

Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm quay đầu tăng trở lại, do yếu tố mùa vụ khi áp lực thanh khoản thường tăng vào tháng cuối quý - thời điểm các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng các khoản thanh toán nhằm phục vụ cho việc chuẩn bị báo cáo tài chính.

Còn theo Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), dù Ngân hàng Nhà nước đã quay lại bơm ròng nhẹ và lãi suất qua đêm giảm nhanh, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tuần - 9 tháng vẫn neo ở vùng cao, cho thấy các ngân hàng thận trọng trong cân đối nguồn vốn trung hạn, nhất là khi tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn tăng trưởng huy động.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT NHNN, nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đây là một biện pháp kỹ thuật giúp giải tỏa phần nào áp lực nguồn vốn trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, cũng có nhiều thông tin hỗ trợ cho tín dụng và áp lực lãi suất như: Văn bản số 5386/NHNN-TD mở cơ chế tín dụng đặc biệt cho 18 dự án trọng điểm; Nghị quyết số 168/NQ-CP yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu tăng tiền gửi Kho bạc tại ngân hàng; Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước theo hướng linh hoạt hơn.

Tỷ giá chính thức vẫn “leo dốc”, USD tự do hạ nhiệt

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp đà tăng trên thị trường chính thức, song hạ nhiệt ở thị trường tự do.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.203 đồng chốt phiên 3/7, nối tiếp đà tăng tuần thứ 8, cho thấy áp lực lên tỷ giá chính thức vẫn còn.

Chung diễn biến tỷ giá trung tâm, tỷ giá USD tại các ngân hàng tăng tương ứng. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.073 - 26.463 VND/USD, trong đó chiều mua vào giảm 11 đồng, chiều bán ra tăng 9 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.083 - 26.463 VND/USD, với giá mua vào giảm mạnh 51 đồng, còn giá bán ra tăng 9 đồng.

Trên thị trường tự do, khi tỷ giá USD giảm 20 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán, xuống 26.580 - 26.610 VND/USD, trái ngược hoàn toàn với mức tăng 100 đồng của tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lùi nhẹ 0,05% xuống 100,82 điểm.

Kỳ vọng Fed tăng lãi suất giảm rõ rệt sau dữ liệu việc làm yếu

Ngân hàng MUFG lưu ý quan điểm trước đây của 9 thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) về sự cần thiết phải tăng lãi suất thêm ít nhất 1 lần hiện không còn thuyết phục như trước, do thị trường lao động đã yếu hơn đáng kể. Thị trường hiện chỉ còn đánh giá khoảng 20% khả năng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp ngày 29/7 và khoảng 60% khả năng tăng lãi suất vào tháng 9.

Ngân hàng MUFG (Nhật Bản) cho rằng, dữ liệu thị trường lao động Mỹ suy yếu đang buộc thị trường phải định giá lại triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Thay vì kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất, nhà đầu tư đang chuyển dần sang kịch bản nguy cơ Fed cắt giảm lãi suất cao hơn.

Theo MUFG, báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 6 là chất xúc tác quan trọng cho sự thay đổi này. Trước đó, thị trường từng định giá gần hai lần tăng lãi suất của Fed từ nay đến tháng 3/2027, song kịch bản này hiện bị đánh giá là quá “diều hâu” và kém thực tế hơn.

Đại diện Ngân hàng MUFG nhấn mạnh, xu hướng tăng trưởng việc làm chậm lại, cùng với sự suy yếu của các chỉ số tâm lý kinh tế và việc rủi ro lạm phát giảm bớt, đang làm suy yếu cơ sở để Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Từ đó, MUFG dự báo, Fed nhiều khả năng duy trì chính sách hiện tại, trong khi đà tăng gần đây của đồng USD có thể suy yếu hoặc điều chỉnh giảm.

Theo nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta, trong ngắn hạn, USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang đến nhích nhẹ nếu DXY duy trì trên vùng 101 điểm.

“Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương và Ngân hàng Nhà nước còn dư địa điều tiết thanh khoản nên áp lực không lớn. Ngoài ra, dự thảo sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối kỳ vọng sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm công cụ và linh hoạt hơn trong việc điều tiết thị trường ngoại hối và ổn định tỷ giá” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm./

Ánh Tuyết

Đọc thêm

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18135 18410 18993
CAD 18375 18651 19272
CHF 31690 32070 32716
CNY 0 3830 3940
EUR 29741 29963 31050
GBP 34717 35110 36060
HKD 0 3209 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15205 15798
SGD 19991 20273 20849
THB 709 772 826
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 18325 18425 19347
CAD 18562 18662 19676
CHF 31962 31992 33582
CNY 3829.7 3854.7 3989.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29943 29973 31696
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3330 0
JPY 161.16 161.66 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20158 20288 21011
THB 0 738.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14120000 14120000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80