10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng/2023 và 4 tháng/2024.
10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng/2023 và 4 tháng năm 2024.

10 nhóm hàng xuất khẩu tăng trên 500 triệu USD

Thống kê cho thấy, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 4/2024 đạt 31,05 tỷ USD, giảm 7,7% (tương ứng giảm 2,61 tỷ USD) so với tháng trước.

Nhìn cụ thể, có 27/45 nhóm hàng chính giảm và có 5 nhóm hàng giảm trên 20%. Đó là các nhóm hàng như: sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 43,2% (tương ứng giảm 61 triệu USD); dầu thô giảm 39% (tương ứng giảm 116 triệu USD); cao su giảm 34,8% (tương ứng giảm 63 triệu USD); quặng và khoáng sản khác giảm 34,5% (tương ứng giảm 7,5 triệu USD); phân bón các loại giảm 29,8% (tương ứng giảm 19 triệu USD).

Tổng trị giá xuất khẩu 10 nhóm hàng này tăng 13,12 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước và bằng 81% mức tăng trị giá xuất khẩu của cả nước.

Bên cạnh đó, trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lại tăng so với tháng trước. Cụ thể, xuất khẩu hàng rau quả tăng 28,2% (tương ứng tăng 133 triệu USD); chè tăng 21,3% (tương ứng tăng 3 triệu USD); hạt điều tăng 13,7% (tương ứng tăng 43 triệu USD); giày dép các loại tăng 12,4% (tương ứng tăng 204 triệu USD)…

Tính chung trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 4 tháng năm 2024 đạt tới 123,98 tỷ USD, tăng 15,1%, tương ứng tăng tới 16,26 tỷ USD (so với cùng kỳ năm trước).

Trong đó, có tới 10 nhóm hàng xuất khẩu tăng trên 500 triệu USD. Dẫn đầu là nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 5,44 tỷ USD; tiếp theo là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 1,42 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 1,14 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 0,98 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 0,87 tỷ USD; cà phê tăng 0,87 tỷ USD; sắt thép các loại tăng 0,71 tỷ USD; hàng dệt may tăng 0,66 tỷ USD; hàng rau quả tăng 0,52 tỷ USD và gạo tăng 0,51 tỷ USD.

Kịp thời tiêu thụ hết lúa gạo hàng hóa của nông dân  Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2023, ngành lúa gạo sẽ tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh xuất khẩu gạo để kịp thời tiêu thụ hết lúa gạo hàng hóa của nông dân và bảo đảm hiệu
Đơn giá bình quân xuất khẩu gạo trong 4 tháng năm 2024 đạt 643 USD/tấn, tăng cao 22% so với cùng kỳ năm trước và tăng tới 30% so với cùng kỳ hai năm trước đó.

Nhiều nhóm hàng tăng cao

Đi sâu phân tích các nhóm hàng chính để thấy rõ sự tăng trưởng. Cụ thể, xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 4/2024 là 3,97 tỷ USD, nâng mức trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2024 lên 18,14 tỷ USD, chiếm 15% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 5%.

Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong 4 tháng năm 2024 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ với 3,81 tỷ USD, tăng 21,8%; Trung Quốc với 3,47 tỷ USD, giảm 13,9%; EU với 2,55 tỷ USD, giảm 1,6%; Hàn Quốc với 1,16 tỷ USD, tăng 7,5%.

Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện xuất khẩu trong 4 tháng năm 2024 đạt 21,48 tỷ USD, chiếm tới 17% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 33,9%.

Mặt hàng này chủ yếu xuất khẩu sang Hoa Kỳ với 6,8 tỷ USD, tăng 43,8%; Trung Quốc với 3,99 tỷ USD, tăng 23,5%; Hồng Kông với 2,56 tỷ USD, tăng 84,7%; Hàn Quốc với 1,86 tỷ USD, tăng 14,5%.

10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng/2023 và 4 tháng/2024
10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng/2023 và 4 tháng năm 2024.

Trị giá xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác 4 tháng qua đạt 14,64 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; chủ yếu sang Hoa Kỳ với 5,64 tỷ USD, tăng 5,7%; EU với 2,23 tỷ USD, tăng 16,8%; Hàn Quốc với 1,02 tỷ USD, tăng 16%.

Trong 4 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu nhóm hàng dệt may là 10,42 tỷ USD, tăng 6,7%.

Giày dép các loại xuất khẩu trong 4 tháng là 6,64 tỷ USD, tăng 7,2%.

Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,89 tỷ USD, tăng mạnh 25% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, với 2,66 tỷ USD, tăng mạnh 31,9% và chiếm 54% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Phương tiện vận tải và phụ tùng xuất khẩu trong tháng 4/2024 đạt 1,11 tỷ USD, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu trong 4 tháng năm 2024 của nhóm hàng này đạt 4,78 tỷ USD, tăng 5,7%.

Máy ảnh máy quay phim và linh kiện xuất khẩu đột biến. 4 tháng năm 2024 của nhóm hàng này đạt 2,93 tỷ USD, tăng 63,9%.

Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 1,89 tỷ USD, tăng 103%; sang Hoa Kỳ là 318 triệu USD, tăng 38,6%; Hàn Quốc là 172 triệu USD, tăng 6,3%.

Lượng sắt thép xuất khẩu trong tháng 4/2024 là 1,1 triệu tấn và trị giá đạt 835 triệu USD, mức tương đương với tháng trước. Tính chung, lượng sắt thép xuất khẩu trong 4 tháng năm 2024 là 4,34 triệu tấn, tăng cao tới 33,7% và trị giá đạt 3,22 tỷ USD, tăng 28,1%.

Gạo cũng tiếp tục là mặt hàng chủ lực khi lượng xuất khẩu gạo 4 tháng năm 2024 lên tới 3,17 triệu tấn, tăng 9,5% và trị giá đạt 2,04 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm trước. Gạo của Việt Nam chủ yếu được xuất sang thị trường ASEAN với 2,33 triệu tấn, chiếm 74% tổng lượng gạo của cả nước và tăng 28%.

Xuất khẩu nói chung cũng như xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói riêng tăng trưởng tích cực là một tín hiệu đáng mừng đối với nền sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế.