
Trải qua 81 năm xây dựng và trưởng thành, Hải quan Việt Nam đã không ngừng chuyển mình, từ lực lượng thực hiện nhiệm vụ thu thuế, đấu tranh chống buôn lậu trong những ngày đầu trở thành cơ quan quản lý nhà nước ngày càng hiện đại, chuyên nghiệp. Cùng với bước phát triển của đất nước, Hải quan hôm nay vừa kiên định giữ vững “cửa ngõ” quốc gia, vừa chủ động mở rộng những cánh cửa giao thương, góp phần bảo vệ lợi ích kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, sẵn sàng vững bước vào kỷ nguyên mới.

Ngày 10/9/1945, chỉ ít ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Sở Thuế quan và Thuế gián thu được thành lập. Trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, khi đất nước vừa thoát khỏi ách thuộc địa, nền kinh tế kiệt quệ và chính quyền non trẻ phải đối mặt với vô vàn khó khăn, sự ra đời của cơ quan thuế quan có ý nghĩa vượt xa một nhiệm vụ thu thuế thông thường.
Đó là bước đi đầu tiên để Nhà nước Việt Nam độc lập xác lập quyền quản lý đối với hàng hóa qua biên giới, bảo vệ nguồn thu và lợi ích kinh tế quốc gia. Từ Sở Thuế quan và Thuế gián thu, tổ chức tiền thân của Hải quan Việt Nam tiếp tục được kiện toàn qua nhiều tên gọi, mô hình tổ chức khác nhau, phù hợp với từng chặng đường phát triển của đất nước.
Năm 1954, tên gọi Sở Hải quan chính thức được sử dụng, đánh dấu lần đầu tiên thuật ngữ “Hải quan” xuất hiện trong tên gọi của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu. Năm 1962, Cục Hải quan Trung ương được thành lập thuộc Bộ Ngoại thương. Sau ngày đất nước thống nhất, lực lượng Hải quan được tổ chức trên phạm vi cả nước; đến năm 1984, Tổng cục Hải quan được thành lập trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.

Những năm tháng ấy, Hải quan lớn lên trong những hoàn cảnh rất đặc biệt của lịch sử dân tộc. Trong chiến tranh, những người làm công tác Hải quan không chỉ quản lý hàng hóa, thu thuế và chống buôn lậu, mà còn góp phần bảo vệ các tuyến biên giới, kiểm soát hoạt động ngoại thương và bảo đảm nguồn lực cho công cuộc xây dựng miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Sau năm 1975, nhiệm vụ ấy được mở rộng trên phạm vi cả nước trong điều kiện nền kinh tế phải khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất và từng bước ổn định đời sống.
Với những phương tiện, điều kiện làm việc hết sức giản đơn trong những ngày đầu, sau 81 năm, Hải quan đã dần hình thành một lực lượng có tổ chức, có hệ thống từ Trung ương đến các địa bàn biên giới, cửa khẩu. Hành trình trưởng thành của Hải quan luôn gắn với những bước chuyển của đất nước, qua mỗi giai đoạn lại đảm nhận những nhiệm vụ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Một bước chuyển lịch sử quan trọng đó là công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mở ra một chương hoàn toàn khác đối với Hải quan.
Nền kinh tế chuyển mình, quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) ngày càng sôi động. Khi hàng hóa bắt đầu đi qua biên giới với quy mô lớn hơn, thường xuyên hơn, phương thức quản lý dựa nhiều vào hồ sơ giấy tờ, kiểm tra trực tiếp và xử lý thủ công dần bộc lộ những giới hạn. Hải quan buộc phải thay đổi nếu không muốn trở thành điểm nghẽn của một nền kinh tế đang mở cửa.
Pháp lệnh Hải quan năm 1990, Luật Hải quan năm 2001 và việc Tổng cục Hải quan chuyển về Bộ Tài chính năm 2002 trở thành những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng nền tảng pháp lý và tổ chức của ngành. Sau đó, Luật Hải quan tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2005 và 2014, từng bước đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng.
Điều đáng chú ý là cùng với sự thay đổi của pháp luật, tư duy quản lý hải quan cũng từng bước thay đổi. Từ chỗ đặt nặng việc kiểm tra, kiểm soát trực tiếp, ngành chuyển dần sang quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, phân luồng hàng hóa và ứng dụng công nghệ thông tin. Câu chuyện tạo thuận lợi thương mại bắt đầu xuất hiện ngày càng rõ trong tư duy quản lý. Hàng hóa của những doanh nghiệp tuân thủ tốt cần được thông quan nhanh hơn; nguồn lực kiểm tra phải được tập trung vào những nơi có nguy cơ rủi ro cao hơn.
Thay đổi này có ý nghĩa nền tảng. Bởi trong một nền kinh tế mở, cơ quan Hải quan hiện đại không thể đo năng lực quản lý bằng việc kiểm tra được bao nhiêu lô hàng, mà phải được đo bằng khả năng kiểm soát đúng những gì cần kiểm soát và giải phóng nhanh những gì không có rủi ro.

Cùng với cải cách thể chế, Hải quan bắt đầu bước nhanh vào tiến trình điện tử hóa. Hệ thống VNACCS/VCIS, Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và các dịch vụ công trực tuyến lần lượt được triển khai. Những thủ tục từng gắn với những tập hồ sơ giấy dày cộp dần được đưa lên môi trường điện tử. Quá trình điện tử hóa từng bước thay đổi hình ảnh của ngành trong mắt cộng đồng doanh nghiệp. Từ vị trí kiểm tra hàng hóa ở cuối quy trình XNK, Hải quan ngày càng trở thành một mắt xích có ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian thông quan, chi phí logistics, khả năng thực hiện hợp đồng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Văn Thọ nhìn nhận, chính những nỗ lực cải cách, chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục và đồng hành cùng doanh nghiệp đã góp phần quan trọng vào hành trình đưa Việt Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ bé trở thành một trong 20 quốc gia có kim ngạch XNK lớn nhất thế giới.

Các cửa khẩu, cảng biển, sân bay là nơi nhìn thấy rõ sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam, nơi mỗi ngày những dòng hàng hóa nối nhau đi qua.
Quy mô ngoại thương từ chỗ còn khiêm tốn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế có độ mở rất lớn. Quy mô xuất nhập khẩu tăng nhanh qua từng năm, cùng với đó là trách nhiệm của Hải quan trong quản lý dòng chảy thương mại và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Trong nhiều năm liên tiếp, ngành Hải quan hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách với số thu vượt dự toán được giao, đóng góp gần một phần tư tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) hằng năm. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của Hải quan trong bảo đảm nguồn lực tài chính cho Nhà nước, chống thất thu và duy trì kỷ cương trong hoạt động XNK.
Năm 2025, quy mô thương mại của Việt Nam tiếp tục lập kỷ lục mới. Theo số liệu Cục Hải quan công bố, kim ngạch XNK cả nước đạt khoảng 930 tỷ USD, trong khi số thu ngân sách từ hoạt động XNK đạt gần 468.400 tỷ đồng. Cùng năm, toàn ngành phát hiện, bắt giữ và xử lý 19.123 vụ việc vi phạm, thu giữ khoảng 2,68 tấn ma túy.
Những kết quả trên cho thấy yêu cầu kép đặt ra đối với Hải quan hiện đại. Một mặt, ngành phải tạo điều kiện để hàng hóa hợp pháp lưu chuyển nhanh hơn, góp phần giảm chi phí cho nền kinh tế. Mặt khác, quy mô dòng hàng hóa càng lớn thì nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, trốn thuế, hàng giả, ma túy và các loại tội phạm xuyên biên giới càng phức tạp.
Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Văn Thọ khái quát rõ về sứ mệnh ấy: “Ở bất cứ giai đoạn nào, Hải quan Việt Nam luôn luôn kiên định với sứ mệnh bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia”.

Trong một nền kinh tế hội nhập sâu rộng, “bảo vệ chủ quyền” được thể hiện qua nhiều phương diện: kiểm soát đường biên, cửa khẩu, bảo vệ nguồn thu ngân sách, thị trường trong nước và doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, chủ động ngăn chặn từ sớm những nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh kinh tế.
Mỗi quyết định cải cách thủ tục của Hải quan đều phải giải bài toán kép: tạo thuận lợi để doanh nghiệp đi nhanh hơn, đồng thời giúp Nhà nước nhận diện rõ hơn những rủi ro trong dòng hàng hóa. Khả năng thực hiện đồng thời hai yêu cầu này là thước đo năng lực quản lý của Hải quan trong một nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng.

Tháng 3/2025 đánh dấu một bước chuyển lớn khi Tổng cục Hải quan được tổ chức lại thành Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính. Mô hình mới được tổ chức theo ba cấp gồm Cục Hải quan, Chi cục Hải quan khu vực và Hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu; số đầu mối giảm 485/902, tương ứng 53,77%.
Con số giảm hơn một nửa đầu mối chưa phải là mục tiêu cuối cùng. Điều quan trọng hơn là sau khi bộ máy được tinh gọn, phương thức quản lý phải thay đổi tương ứng.
Bộ máy ít tầng nấc hơn phải ra quyết định nhanh hơn; hệ thống được tổ chức theo hướng chuyên sâu phải phát huy tốt hơn năng lực của từng cán bộ. Quan trọng hơn, dữ liệu hình thành từ hàng triệu giao dịch XNK phải được khai thác hiệu quả, giúp cơ quan Hải quan theo dõi dòng chảy thương mại theo thời gian thực, nhận diện rủi ro sớm và xử lý chính xác.
Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số vì vậy được đặt ở vị trí trung tâm trong chương trình công tác của ngành.

Ngành Hải quan tiếp tục cắt giảm, sửa đổi nhiều thủ tục hành chính; đẩy mạnh xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ Hải quan số, mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Hệ thống VNACCS/VCIS cùng các hệ thống vệ tinh được duy trì ổn định, bảo đảm thông quan 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần. Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) phục vụ người dân và doanh nghiệp: Đến nay, đã có 182 thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực hải quan; trong đó, 171 thủ tục do cơ quan Hải quan thực hiện gồm: 96 TTHC được cung cấp DVCTT toàn trình; 49 TTHC được cung cấp DVCTT một phần; 26 TTHC được cung cấp thông tin trực tuyến. Từ ngày 01/01 - 13/8/2026 cơ quan hải quan đã tiếp nhận 83.571.395 hồ sơ, trong đó có 83.551.834 hồ sơ trực tuyến (bao gồm 68.378.713 hồ sơ trị giá nhỏ tiếp nhận qua hệ thống quản lý hải quan hàng hóa XK, NK giao dịch qua thương mại điện tử); 19.561 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và qua dịch vụ bưu chính.
Quan trọng hơn, bước chuyển từ “điện tử hóa thủ tục” sang “quản lý bằng dữ liệu” đang ngày càng rõ nét. Nếu điện tử hóa giúp doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần với những tập hồ sơ giấy, thì dữ liệu lớn và phân tích rủi ro sẽ giúp cơ quan Hải quan biết nên tập trung nguồn lực vào đâu. Nếu công nghệ được sử dụng đúng cách, việc giảm kiểm tra không đồng nghĩa với giảm kiểm soát; ngược lại, có thể giúp kiểm soát sâu hơn đối với những trường hợp thực sự có rủi ro.
Mô hình thông quan tập trung được thí điểm tại Chi cục Hải quan khu vực III từ ngày 1/6/2026 là một ví dụ rõ nét. Hồ sơ được xử lý tại Đội Thông quan tập trung, trong khi các đơn vị cửa khẩu tập trung hơn vào kiểm tra thực tế, giám sát và quản lý hàng hóa. Sau hơn một tháng, mô hình đã xử lý hơn 45.000 tờ khai, thời gian thông quan đối với tờ khai luồng vàng giảm 12 - 19% so với trước.
Số tờ khai được xử lý tiếp tục vượt 47.000, thời gian thông quan trung bình giảm khoảng 16%. Kết quả này đang tạo cơ sở để ngành nghiên cứu mở rộng mô hình tại những cửa khẩu đường bộ và đường hàng không có đủ điều kiện.
Những con số ấy cho thấy bài toán của Hải quan hôm nay không phải là lựa chọn giữa “thông quan nhanh” và “kiểm soát chặt”, mà là phải thực hiện được cả hai bằng một phương thức quản lý thông minh hơn.

Những chuyển biến trong phương thức quản lý đang tạo nền tảng để Hải quan tiếp tục đồng hành với một dòng chảy thương mại ngày càng lớn và năng động hơn.
Từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2026, dòng chảy thương mại tiếp tục tăng tốc. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 712,72 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ; số thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 331.020 tỷ đồng, bằng 73,4% dự toán được giao. Quy mô thương mại tăng nhanh vừa tạo thêm động lực cho nền kinh tế, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực quản lý của Hải quan. Mỗi bước tăng trưởng của thương mại đều kéo theo khối lượng công việc và yêu cầu quản lý lớn hơn.
Trong bối cảnh đó, cải cách Hải quan cần hướng tới xây dựng môi trường để doanh nghiệp nắm rõ chính sách, thực hiện thủ tục thuận tiện, giảm chi phí tuân thủ và dành nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Cục Hải quan đang tiếp tục hoàn thiện dự án sửa đổi Luật Hải quan năm 2014, hướng tới tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho Hải quan số, Hải quan thông minh, thương mại điện tử xuyên biên giới, cửa khẩu thông minh và các phương thức quản lý mới. Cục trưởng Nguyễn Văn Thọ xác định hoàn thiện thể chế phải đi trước một bước, tạo cơ sở pháp lý đủ rộng để công nghệ và phương thức quản lý mới phát huy hiệu quả.

Ngành Hải quan cũng tiếp tục hướng tới thống nhất đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và phương tiện xuất nhập cảnh tại cửa khẩu, qua đó giảm đầu mối quản lý, rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao hiệu quả kiểm soát. Với doanh nghiệp, tốc độ của một lô hàng phụ thuộc vào cả chuỗi thủ tục liên quan, nên việc đồng bộ các khâu kiểm tra có ý nghĩa trực tiếp trong giảm thời gian và chi phí.
Yêu cầu bảo vệ an ninh kinh tế ngày càng cao đặt ra nhiệm vụ mới trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và ma túy. Thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, các đường dây tội phạm có thể hoạt động qua nhiều quốc gia, đòi hỏi Hải quan nâng cao năng lực kiểm soát từ sớm, từ xa; dựa vào thông tin, dữ liệu và tăng cường phối hợp với các lực lượng trong nước, Hải quan các nước.
Hợp tác quốc tế vì vậy giữ vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động của Hải quan Việt Nam. Tham gia các cơ chế của ASEAN, Tổ chức Hải quan thế giới và APEC giúp tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp đấu tranh với tội phạm xuyên quốc gia, đồng thời tiếp cận các chuẩn mực quản lý tiên tiến của thế giới.
Công nghệ và thể chế tạo nền tảng cho hiện đại hóa, còn con người quyết định hiệu quả vận hành. Hệ thống có thể tự động hóa nhiều khâu, thuật toán có thể hỗ trợ nhận diện rủi ro, nhưng bản lĩnh, kinh nghiệm, trách nhiệm và sự liêm chính của cán bộ Hải quan vẫn giữ vai trò then chốt.
Xây dựng lực lượng Hải quan tinh nhuệ, chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính, làm chủ công nghệ và am hiểu thương mại quốc tế vì thế là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình hiện đại hóa. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng khi còn ở vị trí Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đặt yêu cầu xây dựng lực lượng Hải quan tinh nhuệ, hiện đại, có tư duy sáng tạo, nghiệp vụ sắc bén, kỷ cương, kỷ luật và liêm chính; đồng thời tiếp tục hoàn thiện pháp luật, xây dựng Hải quan số, Hải quan thông minh và tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, người dân.
Hải quan Việt Nam đang chuẩn bị cho một dòng chảy thương mại có quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, mức độ số hóa cao hơn và phương thức vận hành ngày càng phức tạp. Năng lực thích ứng, quản lý và kiểm soát hiệu quả sẽ là nền tảng để ngành tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và bảo đảm an ninh kinh tế trong giai đoạn mới.

Trong Chiến lược Phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2030, mục tiêu xây dựng ngành Hải quan chính quy, hiện đại, ngang tầm hải quan các nước phát triển trên thế giới, dẫn đầu trong thực hiện Chính phủ số, với mô hình hải quan thông minh đã được xác định rõ. Cùng với đó là nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch và vận tải hợp pháp qua biên giới; xây dựng môi trường xuất nhập khẩu minh bạch, công bằng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu trên, xây dựng lực lượng Hải quan chính quy, hiện đại, có chất lượng là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa then chốt. Cục Hải quan đã tập trung triển khai các giải pháp về tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực, từng bước xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Hệ thống tổ chức Hải quan các cấp cơ bản bảo đảm về cơ cấu, phương thức hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với từng địa bàn; vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan, vừa tạo thuận lợi cho thương mại và góp phần bảo vệ an ninh biên giới quốc gia. Ngành Hải quan tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Năm 2026 đánh dấu 81 năm Ngày truyền thống Hải quan Việt Nam (10/9/1945 - 10/9/2026), một dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của ngành. Đây là dịp để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành nhìn lại chặng đường đã qua, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống vẻ vang, phát huy tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
Phát huy thành quả của các thế hệ cán bộ, công chức, Hải quan Việt Nam tiếp tục xác định rõ vai trò trong thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan; hướng tới xây dựng lực lượng ngày càng chính quy, hiện đại, chuyên nghiệp, ngang tầm hải quan các nước phát triển.
Theo đó, Hải quan Việt Nam bám sát Chiến lược Phát triển Hải quan đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 20/5/2022; đồng thời thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương, chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Bộ Tài chính.
Cụ thể hóa các mục tiêu của Chiến lược, Hải quan Việt Nam tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, đơn giản, thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực và khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), góp phần giảm thời gian, chi phí thông quan và thúc đẩy giải phóng hàng hóa nhanh chóng.
Trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Cục Hải quan từng bước triển khai mô hình biên giới thông minh, hải quan xanh; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin theo hướng tập trung, tích hợp, thông minh, bảo đảm an toàn thông tin, phù hợp với kiến trúc Chính phủ điện tử, Chính phủ số và các chuẩn mực quốc tế.
Với sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, Hải quan Việt Nam phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, tạo thế và lực mới, góp phần cùng ngành Tài chính hoàn thành nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước và cùng cả nước thực hiện thành công các mục tiêu trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
