![]() |
![]() |
|
TS. Nguyễn Như Quỳnh: Kinh tế nhà nước là một khái niệm có tính mở với nội hàm rộng. Qua từng thời kỳ phát triển của đất nước, nhận thức về nội hàm và phạm vi của kinh tế nhà nước có sự thay đổi. Tuy nhiên, kinh tế nhà nước luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện tại Hiến pháp và các Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, từ Đại hội Đảng VIII tới Đại hội XIII. Với Nghị quyết số 79, khái niệm kinh tế nhà nước được xác định cụ thể, bao hàm toàn diện hơn các nền tảng vật chất quan trọng của Nhà nước, gồm tổ chức kinh tế và nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm; các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng; ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; doanh nghiệp nhà nước; tổ chức tín dụng nhà nước; vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; và đơn vị sự nghiệp công lập… Việc định hình rõ nội hàm khái niệm kinh tế nhà nước không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn, nhằm thống nhất nhận thức, hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhà nước. Điều này cụ thể thể hiện qua các khía cạnh như: Thứ nhất, thống nhất nhận thức và làm rõ nội hàm, phạm vi của kinh tế nhà nước; khắc phục cách hiểu chung chung về kinh tế nhà nước, phản ánh đầy đủ hơn các nền tảng vật chất, nguồn lực và công cụ mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng để điều tiết nền kinh tế. Thứ hai, tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước gắn với các nguồn lực then chốt của Nhà nước. Việc xác định rõ các thành tố của kinh tế nhà nước làm nổi bật vai trò của Nhà nước không chỉ thông qua hoạt động kinh doanh, mà còn thông qua quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt như đất đai, tài nguyên, ngân sách, hạ tầng, dự trữ quốc gia, tín dụng,… Thứ ba, tạo cơ sở cho việc xây dựng, phân định và hoàn thiện thể chế, chính sách đối với các chủ thể và nguồn lực của kinh tế nhà nước; từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế nhà nước cũng như hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực nhà nước vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu cho phát triển kinh tế – xã hội. |
![]() |
|
TS. Nguyễn Như Quỳnh: Ngoài những điểm mới về nội hàm kinh tế nhà nước, khẳng định vai trò chủ đạo, đặc biệt quan trọng, Nghị quyết số 79 còn thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế nhà nước như: kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác; phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường; phải được hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế… Đồng thời, Nghị quyết số 79 xác định một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế nhà nước và hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước. Ví dụ như: Mở rộng chức năng về tham gia điều tiết thị trường của dự trữ quốc gia; Không hình thành mới quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ các trường hợp cấp bách, cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; Tạo cơ sở ban hành cơ chế để doanh nghiệp cổ phần được chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng nhằm thu hút, giữ chân người lao động có trình độ cao về chuyên môn, quản lý, có đóng góp lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp; thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số doanh nghiệp nhà nước; Thiết lập cơ sở hình thành Quỹ đầu tư quốc gia; Xây dựng cơ chế, chính sách chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập trong những ngành, lĩnh vực phù hợp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ… |
![]() |
|
TS. Nguyễn Như Quỳnh: Nghị quyết số 79 đã khẳng định quan điểm “Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” và “Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh”. Yêu cầu về đánh giá lợi ích - chi phí xã hội theo thông lệ quốc tế là một yêu cầu kỹ thuật, thể hiện đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và hành động trong đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư từ nguồn lực nhà nước. Thứ nhất, đánh giá lợi ích – chi phí xã hội cho phép xem xét đầy đủ cả chi phí và lợi ích trực tiếp, gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn của hoạt động đầu tư từ nguồn lực nhà nước, bao gồm cả các yếu tố ngoại vi mà thị trường có thể chưa phản ánh đầy đủ. Qua đó, Nhà nước có cơ sở lựa chọn các hoạt động đầu tư mang lại lợi ích xã hội ròng cao nhất, hạn chế đầu tư dàn trải, kém hiệu quả hoặc thiên về lợi ích kinh tế. Thứ hai, theo thông lệ quốc tế, đầu tư nguồn lực nhà nước chỉ thực sự cần thiết khi khu vực tư nhân không làm hoặc không thể đầu tư hiệu quả. Việc đánh giá lợi ích - chi phí xã hội giúp xác định rõ các lĩnh vực Nhà nước cần can thiệp (hạ tầng, dịch vụ công, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh - quốc phòng), qua đó định vị đúng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong dẫn dắt thị trường, khắc phục thất bại thị trường thay vì cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân. Thứ ba, áp dụng đánh giá lợi ích - chi phí xã hội theo chuẩn mực quốc tế góp phần chuẩn hóa quy trình ra quyết định đầu tư, giảm thiểu yếu tố chủ quan. Điều này giúp tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quản lý nguồn lực nhà nước. Thứ tư, khác với đánh giá thuần túy về kinh tế, đánh giá lợi ích - chi phí xã hội cho phép lượng hóa các tác động về môi trường, xã hội, phân phối thu nhập và phát triển vùng. Theo đó, đầu tư của kinh tế nhà nước không chỉ hướng tới mục tiêu kinh doanh mà còn đóng góp vào các mục tiêu phát triển bền vững, bao trùm và dài hạn của quốc gia. Thứ năm, việc tuân thủ thông lệ quốc tế trong đánh giá lợi ích – chi phí xã hội đối với hoạt động đầu tư từ nguồn lực của Nhà nước nhằm tiệm cận chuẩn mực toàn cầu, tạo niềm tin cho các đối tác, nhà đầu tư và tổ chức quốc tế. Qua đó, kinh tế nhà nước nâng cao uy tín, khả năng huy động nguồn lực và tham gia hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Từ đó, góp phần nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. |
![]() |
|
TS. Nguyễn Như Quỳnh: Nghị quyết số 79 đề ra một số chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ như: Cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỉ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp; rà soát, đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng. Giải pháp này nhằm hướng tới tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Chủ trương này tác động tới cách thức phân bổ và quản lý nguồn lực nhà nước theo hướng tập trung, chiến lược và hiệu quả hơn; đồng thời, đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị, giám sát và kỷ luật sử dụng vốn để bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự phát huy vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế. Nội dung này được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu như: Phân bổ nguồn lực Nhà nước theo hướng tập trung, có chọn lọc; chuyển dịch từ phân bổ nguồn lực dàn trải sang tập trung đầu tư cho các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có khả năng dẫn dắt; Nâng cao tính chủ động trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Đòi hỏi phải nâng cao chuẩn mực quản trị doanh nghiệp, minh bạch tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình, bảo đảm việc gia tăng nguồn lực đi kèm với gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh; Thúc đẩy quan hệ hợp tác, dẫn dắt và khơi thông nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân. Ngoài ra, giải pháp này cũng nhằm bảo đảm tính bình đẳng giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân khi tham gia thị trường, khai thác các nguồn lực để cùng nhau phát triển. PV: Xin trân trọng cảm ơn ông! |




