Gắn ưu đãi đầu tư với cam kết lan tỏa, nâng giá trị doanh nghiệp Việt
Chuyển giao công nghệ vẫn là điểm nghẽn
Khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, song phần lớn giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào nguyên vật liệu và linh kiện nhập khẩu. Tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa chỉ đạt dưới 50%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến và điện tử. Tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 20 - 25%. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam tham gia ở các khâu gia công đơn giản, công đoạn giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị.
Chia sẻ với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, thực tiễn cho thấy, tại Việt Nam, tỷ lệ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI vẫn ở mức thấp và chậm cải thiện qua các giai đoạn.
![]() |
| Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy Rhythm Việt Nam tại Khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội. Ảnh: Đức Thanh |
Dẫn số liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ, bà Thủy thông tin, trong giai đoạn 2006 - 2016, cả nước chỉ ghi nhận khoảng 600 hợp đồng chuyển giao công nghệ được đăng ký, chiếm chưa đến 4,3% tổng số dự án FDI. Sang giai đoạn 2018 - 2022, có khoảng 400 hợp đồng và phần lớn trong số đó là chuyển giao nội bộ, giữa công ty mẹ và chi nhánh tại Việt Nam, chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất, vận hành của chính doanh nghiệp FDI. Các hoạt động chuyển giao chủ yếu xoay quanh hỗ trợ kỹ thuật (77%), đào tạo (71%) và quy trình sản xuất (73%), trong khi chuyển giao tài sản sở hữu trí tuệ chỉ chiếm 13%.
“Thực trạng này hạn chế khả năng hấp thụ và cải tiến công nghệ của doanh nghiệp trong nước - yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ nội sinh” - bà Thủy nhận định.
Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tư duy thu hút FDI của Việt Nam đang có sự thay đổi căn bản, từ thu hút thụ động sang chủ động lựa chọn dòng vốn có chất lượng, công nghệ cao và khả năng tạo tác động lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước.
Bộ Tài chính đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm thể chế hóa các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, qua đó định hướng lại hoạt động thu hút đầu tư theo hướng chọn lọc, không thu hút bằng mọi giá. Đáng chú ý, chính sách ưu đãi trong thời gian tới không chỉ tập trung vào việc thu hút dự án, mà gắn chặt hơn với kết quả và cam kết của nhà đầu tư. Các cam kết được nhấn mạnh gồm chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam, đào tạo nhân lực, hỗ trợ kỹ thuật và đưa doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái sản xuất tại Việt Nam
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I. Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 được phê duyệt theo Quyết định số 929/2026/QĐ-TTg xác định phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu, lấy yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng hỗ trợ.
Chuẩn bị tốt hạ tầng và hệ sinh thái ngànhĐể dòng vốn FDI lan tỏa, cùng với doanh nghiệp trong nước phát huy nội lực của nền kinh tế, Việt Nam cũng phải chuẩn bị tốt hạ tầng và hệ sinh thái ngành, trong đó không chỉ là hạ tầng truyền thống như (hạ tầng giao thông, logistics, sân bay, bến cảng), mà còn là hạ tầng số (5G, cơ sở dữ liệu), năng lực cung ứng nguồn năng lượng sạch, ổn định (điện gió, điện mặt trời). Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính |
Bà Bùi Thu Thủy cho biết, qua quá trình làm việc với các doanh nghiệp FDI, nhiều doanh nghiệp nước ngoài mong muốn tăng mua sắm từ doanh nghiệp Việt Nam.
Vấn đề nằm ở năng lực đáp ứng của khu vực doanh nghiệp trong nước. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, nhiều quốc gia như Malaysia, Thái Lan đã triển khai các chính sách hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp FDI khi dành nguồn lực để đào tạo, tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và phát triển nhà cung ứng nội địa. Cách tiếp cận này đang được thể hiện trong quá trình xây dựng chính sách thu hút các dự án công nghệ cao, trong đó có lĩnh vực bán dẫn.
“Cách làm trong thời gian tới là doanh nghiệp FDI sẽ có những cam kết cụ thể về chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi; đổi lại, Chính phủ sẽ có những ưu đãi đặc thù, vượt trội cho dự án” - bà Thủy chia sẻ.
Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông Cha Ji Ho - Phó Tổng Giám đốc phụ trách Trung tâm mua hàng, Samsung Việt Nam cho biết, để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng, Samsung đang chuyển trọng tâm từ hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất sang phát triển sâu hơn các năng lực chuyên môn và xây dựng hệ sinh thái nhà cung ứng tại Việt Nam. Trong giai đoạn tới, Samsung định hướng mở rộng phạm vi hỗ trợ theo vùng, tăng số lượng doanh nghiệp tham gia và nâng cao chiều sâu năng lực. Chương trình sẽ được mở rộng từ các địa bàn như Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh tới Phú Thọ, Hải Phòng, Thái Nguyên, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các nhà cung ứng địa phương.
Đáng chú ý, Samsung đề xuất thúc đẩy hợp tác có hệ thống giữa Chính phủ, Samsung và các doanh nghiệp Việt Nam, dựa trên cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, chính sách và khuôn khổ hỗ trợ rõ ràng. Mục tiêu là tăng tỷ lệ nội địa hóa, mở rộng khả năng tiếp cận chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Samsung cũng đề xuất công bố hằng năm “Sách trắng phát triển nhà cung ứng”, qua đó tạo cơ chế hợp tác và theo dõi tiến trình phát triển chuỗi cung ứng một cách dài hạn. Theo định hướng này, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt không chỉ dừng ở quan hệ mua - bán, mà hướng tới cùng phát triển, xây dựng quan hệ đối tác bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả hệ sinh thái sản xuất tại Việt Nam.
Mở rộng đối tượng áp dụng luồng xanh cho các dự án công nghệ chiến lượcTại dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi, Bộ Tài chính đề xuất mở rộng đối tượng áp dụng luồng xanh, thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án công nghệ chiến lược, bao gồm cả dự án ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Đồng thời, bổ sung nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt có cơ chế vượt trội để khuyến khích chính các tập đoàn nước ngoài chiến lược đào tạo nhân lực lao động Việt Nam. Dự thảo Luật cũng đề xuất cơ chế đột phá để thúc đẩy các doanh nghiệp FDI thực hiện nghiên cứu và phát triển (R&D), thành lập các trung tâm R&D và tuyển chọn, đào tạo lao động người Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành mắt xích sáng tạo trong chuỗi giá trị toàn cầu. |



