Cổ đông ngân hàng “hái lộc” cổ tức tiền mặt hơn 33.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm nay, làn sóng chia cổ tức tiền mặt tại các ngân hàng diễn ra sôi động, với 9 nhà băng chi 33.284 tỷ đồng, cho thấy kết quả kinh doanh tích cực và xu hướng cân bằng giữa tăng trưởng vốn và đáp ứng kỳ vọng của cổ đông. Trong đó, đã có 5/9 ngân hàng công bố kế hoạch chi trả chi tiết.
aa
Cổ đông ngân hàng sở hữu cổ phần vượt trần chưa được nhận cổ tức tiền mặt Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ "Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Trước mắt, có 5 ngân hàng công bố kế hoạch chi trả cổ tức bằng tiền mặt, gồm VIB chi trả 7%; TPBank với tỷ lệ 10% và VPBank 5% cùng thanh toán vào ngày 23/5; LPBank với tỷ lệ 25% dự kiến thanh toán vào ngày 28/5. Mới nhất là ACB với tỷ lệ 10%, dự kiến thanh toán vào ngày 13/6.

Làn sóng chia cổ tức tiền mặt sôi động, có ngân hàng lần đầu triển khai

Ngân hàng ACB vừa thông báo ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền nhận cổ tức năm 2024 là ngày 26/5. Theo đó, cổ đông sẽ nhận cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 10% (tương đương 1.000 đồng/cổ phiếu). Tổng số tiền ACB dự chi cho đợt thanh toán này là 4.467 tỷ đồng.

Ngoài cổ tức tiền mặt, ACB cũng dự kiến trả cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 15% (100 cổ phiếu được nhận thêm 15 cổ phiếu mới), tuy nhiên, thời điểm cụ thể vẫn chưa được công bố.

Cổ đông ngân hàng “hái lộc” cổ tức tiền mặt hơn 33.000 tỷ đồng
Đồ họa: Ánh Tuyết.

9 ngân hàng dự chi kỷ lục 33.000 tỷ đồng

Làn sóng chia cổ tức tiền mặt sôi động với 9 ngân hàng dự chi số tiền kỷ lục 33.284 tỷ đồng. Đơn cử như: VIB (7%), TPBank (10%), VPBank (5%), LPBank (25%), ACB (10%), OCB (7%)... Trong đó OCB lần đầu chia cổ tức tiền mặt sau khi niêm yết.

LPBank trở thành tâm điểm khi phê duyệt mức cổ tức tiền mặt lên tới 25%, cao nhất trong hệ thống ngân hàng hiện nay.

Ngoài ra, còn một số ngân hàng sẽ chia cổ tức bằng tiền mặt năm nay. Đơn cử, Techcombank cũng lên kế hoạch trả cổ tức tiền mặt với tỷ lệ 10% trên mỗi cổ phần (tương đương 1.000 đồng/cổ phiếu), tổng số tiền chi trả ước tính gần 7.065 tỷ đồng dựa trên số lượng cổ phiếu đang lưu hành.

OCB thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt với 700 đồng/cổ phiếu, tương đương tỷ lệ 7%. Đây là lần đầu tiên ngân hàng công bố kế hoạch chia cổ tức tiền mặt kể từ khi niêm yết, với tỷ lệ 7% tương ứng hơn 1.726 tỷ đồng, thay vì chia bằng cổ phiếu như các năm trước.

MB cũng tham gia vào làn sóng chia cổ tức tiền mặt, dự kiến chi 1.831 tỷ đồng để chia cổ tức tiền mặt với tỷ lệ 3%.

Cân bằng giữa lợi ích cổ đông và chiến lược tăng vốn điều lệ

Sau giai đoạn dài ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ qua hình thức phát hành bằng cổ phiếu, việc nhiều ngân hàng lớn đồng loạt công bố kế hoạch chia cổ tức tiền mặt với tỷ lệ cao cho thấy nền tảng tài chính ổn định và cam kết gia tăng giá trị cho cổ đông. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng tiếp tục kết hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ, củng cố bộ đệm tài chính, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn.

Cổ đông ngân hàng “hái lộc” cổ tức tiền mặt hơn 33.000 tỷ đồng
Cổ đông ngân hàng “hái lộc” cổ tức tiền mặt hơn 33.000 tỷ đồng. Ảnh: T.L.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, một cổ đông bày tỏ băn khoăn về việc ACB chia cổ tức tiền mặt với tỷ lệ lên tới 10%. Theo vị này, ngành ngân hàng có tính đặc thù, tăng trưởng gắn liền với diễn biến của nền kinh tế, nếu duy trì mức chia cổ tức tiền mặt như vậy, chỉ trong vòng 6 năm, ACB có thể mất đi một lượng vốn tương đương quy mô hiện tại. Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản của ACB là 14%, việc chia cổ tức bằng tiền mặt sẽ làm giảm nội lực để mở rộng quy mô.

Đáp lại, ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch Hội đồng Quản trị ACB cho biết, việc chia cổ tức tiền mặt là kết quả của quá trình cân nhắc kỹ lưỡng nhiều yếu tố, nhằm hài hòa lợi ích cổ đông. “Hội đồng Quản trị cân nhắc rất nhiều yếu tố và tỷ lệ để tối ưu vốn của cổ đông trong trung dài hạn chứ không chỉ ngắn hạn 6 tháng - 1 năm” - ông Huy khẳng định.

Trong khi đó, tại VPBank, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngô Chí Dũng tái khẳng định, chiến lược cổ tức tiền mặt đang được duy trì theo cam kết 5 năm từ năm 2022.

"Chúng tôi hiểu rằng vốn tự có đối với ngân hàng là vô cùng quan trọng. Từ năm 2010 đến năm 2022, suốt 12 năm, VPBank kiên trì không chia cổ tức, nhằm tập trung tối đa cho việc phát triển ngân hàng. Nhờ vậy, chúng ta đạt được sự tăng trưởng bền vững cả về quy mô lẫn hiệu quả hoạt động" - lãnh đạo VPBank bày tỏ.

Bắt đầu từ năm 2022, VPBank chuyển hướng cân bằng giữa lợi ích cổ đông và chiến lược dài hạn.

Trong ba năm qua, ngân hàng dùng tổng cộng gần 20.000 tỷ đồng để chia cổ tức tiền mặt. Ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì chính sách chia cổ tức bằng tiền mặt trong hai năm tới, tuy nhiên, mức chia cụ thể sẽ phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và được trình cổ đông xem xét theo từng năm.

Với OCB, Chủ tịch Trịnh Văn Tuấn cho biết, hoạt động kinh doanh ngân hàng phải tập trung đảm bảo năng lực tài chính, đi đôi với việc phát triển tín dụng tốt là đảm bảo hệ số an toàn vốn như đã thực hiện chuẩn Basel II, Basel III cũng như các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng sẽ không đưa ra cam kết cụ thể về việc có tiếp tục chia cổ tức tiền mặt trong năm tới hay không, mà sẽ đánh giá dựa trên tình hình tài chính, khả năng cân đối vốn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa được Hội đồng thương hiệu quốc gia vinh danh tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 9 BIDV được trao tặng danh hiệu uy tín này.
Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 17/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều sau hai tuần giảm liên tiếp. Ngược lại, USD tự do giảm mạnh lùi dưới 26.000 đồng, trong khi chỉ số DXY mất mốc 102 điểm. Lạm phát Mỹ gia tăng, trong khi Chủ tịch Fed chưa hé lộ lộ trình lãi suất trước cuộc họp ngày 27 - 28/10.
Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng từ 500.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa vàng miếng lên 143,9 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn lên cao nhất 143,5 triệu đồng/lượng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30