"Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những điểm nhấn mùa đại hội đồng cổ đông năm 2025 đó là từ các "ông lớn" quốc doanh đến các ngân hàng quy mô nhỏ đều rầm rộ tăng vốn điều lệ, nhằm củng cố sức mạnh tài chính và mở rộng dư địa tăng tín dụng.
aa
Nguồn: MBS. Đồ hoạ tư liệu

Ngay đầu năm 2025, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch tăng vốn điều lệ, nhằm nâng cao năng lực tài chính và mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Từ “ông lớn” đến nhóm nhỏ nhập cuộc

Ngày 18/4 tới đây, VietinBank trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 44,64%, tương đương phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu mới. Nguồn chi trả đến từ lợi nhuận sau thuế còn lại, sau khi trích lập các quỹ và cổ tức tiền mặt của giai đoạn 2009 - 2016 và năm 2021, 2022. Cuối năm 2024, vốn điều lệ của VietinBank là 53.700 tỷ đồng, xếp thứ 5 toàn ngành, đứng sau VPBank, Techcombank và hai "ông lớn" quốc doanh khác là BIDV và Vietcombank. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của VietinBank dự kiến sẽ tăng mạnh gần 24.000 nghìn tỷ đồng, từ 53.700 tỷ đồng lên 77.671 tỷ đồng.

Trước đó, giữa tháng 3/2025, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%, tương đương gần 2,8 tỷ cổ phiếu mới phát hành. Nguồn vốn được trích từ lợi nhuận sau thuế lũy kế đến cuối năm 2018 và phần còn lại năm 2021. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá đạt hơn 27.666 tỷ đồng, giúp vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng sau đợt phát hành.

Không chỉ các “ông lớn” trong ngành, nhiều ngân hàng có quy mô vốn điều lệ khiêm tốn hơn cũng tăng tốc chuẩn bị các kế hoạch tăng vốn, tạo nên cuộc đua sôi động toàn thị trường.

Ngày 26/4 tới đây, VietABank trình kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.399,6 tỷ đồng lên 11.582,4 tỷ đồng, tương đương mức tăng ấn tượng 115% trong lịch sử nhà băng này, tức tăng thêm 6.182,8 tỷ đồng. Kế hoạch triển khai dự kiến qua ba hình thức: một là, phát hành hơn 285,1 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối (tỷ lệ 52,8%); hai là, phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP (3,7%, hạn chế chuyển nhượng 1 năm); ba là, chào bán hơn 313 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 58%).

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 tổ chức cuối tháng 3/2025, NCB thông qua phương án phát hành riêng lẻ 750 triệu cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 11.780 tỷ đồng lên 19.280 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 63,67%. Trước đó, NCB đã thực hiện hai đợt tăng vốn: năm 2022 tăng thêm 1.500 tỷ đồng và năm 2024 tăng gần 6.200 tỷ đồng, cho thấy nỗ lực liên tục trong việc củng cố năng lực tài chính.

Giữa tháng 3/3025, PGBank chào bán 80 triệu cổ phiếu riêng lẻ với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến thu về khoảng 800 tỷ đồng. Sau phát hành, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng. Trước đó, vào đầu năm 2024, PGBank ghi dấu mốc tăng vốn lần đầu sau 10 năm, khi phát hành thành công 120 triệu cổ phiếu thưởng, nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 4.200 tỷ đồng.

Áp lực tăng vốn "lan" toàn hệ thống

Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận hoặc phát hành cổ phiếu để tăng vốn cấp 1, nhiều ngân hàng cũng lựa chọn phương án phát hành trái phiếu dài hạn nhằm bổ sung vốn cấp 2. Thống kê của FiinRatings cũng cho thấy, những tháng đầu năm, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành.

Các ngân hàng sẽ đẩy mạnh tăng vốn cấp 2

Theo FiinRatings, những tháng đầu năm nay, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành. Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn.

"Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và do yêu cầu giảm lãi suất tiết kiệm sẽ làm cho gia tăng khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động tiền gửi" - nhóm phân tích của FiinRatings đánh giá.

Hiện nhiều ngân hàng chưa công bố tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cuối năm 2024, song thống kê của phóng viên cho thấy, top 5 nhà băng có hệ số CAR thấp nhất hệ thống tính đến giữa năm 2024 đó là: Sacombank (8,99%); VietABank (9,2%); BIDV (9,5%); VietinBank (9,5%) và Kienlongbank (9,7%).

Những con số này cho thấy áp lực tăng vốn khá lớn, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới tuân thủ đầy đủ Basel II, từng bước tiếp cận Basel III và giúp các ngân hàng cung ứng tín dụng 16% năm nay cho nền kinh tế. Việc tăng vốn điều lệ là nền tảng giúp các nhà băng củng cố năng lực tài chính, nâng cao vị thế cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động.

Chia sẻ lý do NCB lựa chọn tăng vốn điều lệ ngay trong năm 2025 dù vừa có một đợt tăng vốn khá lớn vào năm 2024 (gần 6.200 tỷ đồng), bà Bùi Thị Thanh Hương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB cho biết, tính đến hết năm 2024, thực hiện các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại của NCB, ngân hàng phải thực hiện một loạt nghĩa vụ tài chính.

Ban lãnh đạo ngân hàng nhận thấy tính cấp bách của việc giảm nhanh tiến độ tăng vốn so với đề án cơ cấu lại đã trình NHNN phê duyệt. Theo đề án, dự kiến năm 2026 - 2027 mới tăng 7.000 tỷ đồng tiền vốn, tuy nhiên, NCB mong muốn tạo sức mạnh tài chính nội tại tốt hơn, sớm hơn để nắm bắt cơ hội kinh doanh của thị trường nhanh hơn.

Còn theo lãnh đạo VietinBank, phần vốn điều lệ tăng thêm dự kiến sẽ được sử dụng toàn bộ để phục vụ hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý vào các lĩnh vực trọng yếu theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông. Tiến độ giải ngân nguồn vốn này sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và diễn biến thị trường, ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ, mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư và các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi khác.

Tăng vốn giúp “vượt rào” Basel, nhiều ngân hàng còn chịu sức ép

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, hiện hơn 20 ngân hàng thương mại nhà nước và tư nhân đáp ứng và áp dụng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel II, tuân thủ Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Các ngân hàng đang có xu hướng nâng cấp tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo Basel III nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh với các tổ chức tín dụng toàn cầu.

Một trong những yêu cầu quan trọng của Basel III đối với tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 (CAR Tier 1) là đạt tối thiểu 6%. Theo báo cáo về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng cuối năm 2024, phần lớn các ngân hàng đã đạt được yêu cầu này.

"BIDV và VietinBank có tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tương đối thấp hơn so với các ngân hàng khác. Điều này cho thấy hai ngân hàng này sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tăng vốn để bổ sung vào tỷ lệ an toàn vốn" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

BIDV hiện có kế hoạch phát hành riêng lẻ 123,8 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp với giá 38.800 đồng/cổ phiếu, kỳ vọng huy động hơn 4.803 tỷ đồng. Nếu giao dịch diễn ra thuận lợi, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ vượt 70.200 tỷ đồng. MBS kỳ vọng đợt phát hành này sẽ giúp tỷ lệ an toàn vốn của BIDV đạt khoảng 10% vào cuối năm 2025.

Các ngân hàng khác cũng có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu trong năm 2025 để tăng cường vốn điều lệ, nhờ vào kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2024. Cổ tức bằng tiền mặt sẽ bị hạn chế do nhu cầu vốn lớn để phục vụ tăng trưởng dài hạn và quản trị rủi ro.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
NL 99.99 13,500 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▼50K
Trang sức 99.9 13,700 ▼100K 14,300 ▼100K
Trang sức 99.99 13,710 ▼100K 14,310 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,404 ▼10K 14,342 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,404 ▼10K 14,343 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,399 ▼10K 1,429 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,399 ▼10K 143 ▼1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,374 ▼10K 1,419 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,495 ▼990K 140,495 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,786 ▼750K 106,586 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,852 ▼680K 96,652 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,918 ▼610K 86,718 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,086 ▼583K 82,886 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,528 ▼417K 59,328 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Cập nhật: 28/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17694 17967 18549
CAD 17808 18082 18700
CHF 30641 31017 31667
CNY 0 3824 3919
EUR 28924 29142 30222
GBP 33562 33950 34894
HKD 0 3179 3381
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14400 14990
SGD 19767 20048 20616
THB 689 752 805
USD (1,2) 25697 0 0
USD (5,10,20) 25736 0 0
USD (50,100) 25764 25778 26145
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,767 25,767 26,147
USD(1-2-5) 24,737 - -
USD(10-20) 24,737 - -
EUR 28,980 29,003 30,377
JPY 160.02 160.31 170.02
GBP 33,753 33,844 35,029
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 17,996 18,054 18,719
CHF 30,909 31,005 31,927
SGD 19,887 19,949 20,731
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,242 3,252 3,388
KRW 17.61 18.37 19.99
THB 737.4 746.51 799.32
NZD 14,393 14,527 14,958
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,887 4,024
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.13 - 6,703.76
TWD 737.46 - 893.48
SAR - 6,795.01 7,157.81
KWD - 82,072 87,334
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25770 25770 26140
AUD 17877 17977 18908
CAD 17988 18088 19102
CHF 30896 30926 32508
CNY 3805.3 3830.3 3965.4
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33868 33918 35686
HKD 0 3315 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14513 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19928 20058 20781
THB 0 718.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14040000 14040000 14340000
SBJ 13000000 13000000 14340000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,670 25,790 26,180
USD20 25,640 25,790 26,180
USD1 25,633 25,790 26,180
AUD 17,892 18,042 19,181
EUR 28,866 29,016 30,717
CAD 17,903 18,053 19,382
SGD 19,965 20,165 20,751
JPY 161.38 162.88 168.64
GBP 33,703 33,903 35,027
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30