"Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những điểm nhấn mùa đại hội đồng cổ đông năm 2025 đó là từ các "ông lớn" quốc doanh đến các ngân hàng quy mô nhỏ đều rầm rộ tăng vốn điều lệ, nhằm củng cố sức mạnh tài chính và mở rộng dư địa tăng tín dụng.
aa
Nguồn: MBS. Đồ hoạ tư liệu

Ngay đầu năm 2025, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch tăng vốn điều lệ, nhằm nâng cao năng lực tài chính và mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Từ “ông lớn” đến nhóm nhỏ nhập cuộc

Ngày 18/4 tới đây, VietinBank trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 44,64%, tương đương phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu mới. Nguồn chi trả đến từ lợi nhuận sau thuế còn lại, sau khi trích lập các quỹ và cổ tức tiền mặt của giai đoạn 2009 - 2016 và năm 2021, 2022. Cuối năm 2024, vốn điều lệ của VietinBank là 53.700 tỷ đồng, xếp thứ 5 toàn ngành, đứng sau VPBank, Techcombank và hai "ông lớn" quốc doanh khác là BIDV và Vietcombank. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của VietinBank dự kiến sẽ tăng mạnh gần 24.000 nghìn tỷ đồng, từ 53.700 tỷ đồng lên 77.671 tỷ đồng.

Trước đó, giữa tháng 3/2025, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%, tương đương gần 2,8 tỷ cổ phiếu mới phát hành. Nguồn vốn được trích từ lợi nhuận sau thuế lũy kế đến cuối năm 2018 và phần còn lại năm 2021. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá đạt hơn 27.666 tỷ đồng, giúp vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng sau đợt phát hành.

Không chỉ các “ông lớn” trong ngành, nhiều ngân hàng có quy mô vốn điều lệ khiêm tốn hơn cũng tăng tốc chuẩn bị các kế hoạch tăng vốn, tạo nên cuộc đua sôi động toàn thị trường.

Ngày 26/4 tới đây, VietABank trình kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.399,6 tỷ đồng lên 11.582,4 tỷ đồng, tương đương mức tăng ấn tượng 115% trong lịch sử nhà băng này, tức tăng thêm 6.182,8 tỷ đồng. Kế hoạch triển khai dự kiến qua ba hình thức: một là, phát hành hơn 285,1 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối (tỷ lệ 52,8%); hai là, phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP (3,7%, hạn chế chuyển nhượng 1 năm); ba là, chào bán hơn 313 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 58%).

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 tổ chức cuối tháng 3/2025, NCB thông qua phương án phát hành riêng lẻ 750 triệu cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 11.780 tỷ đồng lên 19.280 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 63,67%. Trước đó, NCB đã thực hiện hai đợt tăng vốn: năm 2022 tăng thêm 1.500 tỷ đồng và năm 2024 tăng gần 6.200 tỷ đồng, cho thấy nỗ lực liên tục trong việc củng cố năng lực tài chính.

Giữa tháng 3/3025, PGBank chào bán 80 triệu cổ phiếu riêng lẻ với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến thu về khoảng 800 tỷ đồng. Sau phát hành, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng. Trước đó, vào đầu năm 2024, PGBank ghi dấu mốc tăng vốn lần đầu sau 10 năm, khi phát hành thành công 120 triệu cổ phiếu thưởng, nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 4.200 tỷ đồng.

Áp lực tăng vốn "lan" toàn hệ thống

Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận hoặc phát hành cổ phiếu để tăng vốn cấp 1, nhiều ngân hàng cũng lựa chọn phương án phát hành trái phiếu dài hạn nhằm bổ sung vốn cấp 2. Thống kê của FiinRatings cũng cho thấy, những tháng đầu năm, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành.

Các ngân hàng sẽ đẩy mạnh tăng vốn cấp 2

Theo FiinRatings, những tháng đầu năm nay, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành. Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn.

"Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và do yêu cầu giảm lãi suất tiết kiệm sẽ làm cho gia tăng khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động tiền gửi" - nhóm phân tích của FiinRatings đánh giá.

Hiện nhiều ngân hàng chưa công bố tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cuối năm 2024, song thống kê của phóng viên cho thấy, top 5 nhà băng có hệ số CAR thấp nhất hệ thống tính đến giữa năm 2024 đó là: Sacombank (8,99%); VietABank (9,2%); BIDV (9,5%); VietinBank (9,5%) và Kienlongbank (9,7%).

Những con số này cho thấy áp lực tăng vốn khá lớn, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới tuân thủ đầy đủ Basel II, từng bước tiếp cận Basel III và giúp các ngân hàng cung ứng tín dụng 16% năm nay cho nền kinh tế. Việc tăng vốn điều lệ là nền tảng giúp các nhà băng củng cố năng lực tài chính, nâng cao vị thế cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động.

Chia sẻ lý do NCB lựa chọn tăng vốn điều lệ ngay trong năm 2025 dù vừa có một đợt tăng vốn khá lớn vào năm 2024 (gần 6.200 tỷ đồng), bà Bùi Thị Thanh Hương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB cho biết, tính đến hết năm 2024, thực hiện các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại của NCB, ngân hàng phải thực hiện một loạt nghĩa vụ tài chính.

Ban lãnh đạo ngân hàng nhận thấy tính cấp bách của việc giảm nhanh tiến độ tăng vốn so với đề án cơ cấu lại đã trình NHNN phê duyệt. Theo đề án, dự kiến năm 2026 - 2027 mới tăng 7.000 tỷ đồng tiền vốn, tuy nhiên, NCB mong muốn tạo sức mạnh tài chính nội tại tốt hơn, sớm hơn để nắm bắt cơ hội kinh doanh của thị trường nhanh hơn.

Còn theo lãnh đạo VietinBank, phần vốn điều lệ tăng thêm dự kiến sẽ được sử dụng toàn bộ để phục vụ hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý vào các lĩnh vực trọng yếu theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông. Tiến độ giải ngân nguồn vốn này sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và diễn biến thị trường, ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ, mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư và các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi khác.

Tăng vốn giúp “vượt rào” Basel, nhiều ngân hàng còn chịu sức ép

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, hiện hơn 20 ngân hàng thương mại nhà nước và tư nhân đáp ứng và áp dụng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel II, tuân thủ Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Các ngân hàng đang có xu hướng nâng cấp tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo Basel III nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh với các tổ chức tín dụng toàn cầu.

Một trong những yêu cầu quan trọng của Basel III đối với tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 (CAR Tier 1) là đạt tối thiểu 6%. Theo báo cáo về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng cuối năm 2024, phần lớn các ngân hàng đã đạt được yêu cầu này.

"BIDV và VietinBank có tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tương đối thấp hơn so với các ngân hàng khác. Điều này cho thấy hai ngân hàng này sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tăng vốn để bổ sung vào tỷ lệ an toàn vốn" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

BIDV hiện có kế hoạch phát hành riêng lẻ 123,8 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp với giá 38.800 đồng/cổ phiếu, kỳ vọng huy động hơn 4.803 tỷ đồng. Nếu giao dịch diễn ra thuận lợi, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ vượt 70.200 tỷ đồng. MBS kỳ vọng đợt phát hành này sẽ giúp tỷ lệ an toàn vốn của BIDV đạt khoảng 10% vào cuối năm 2025.

Các ngân hàng khác cũng có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu trong năm 2025 để tăng cường vốn điều lệ, nhờ vào kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2024. Cổ tức bằng tiền mặt sẽ bị hạn chế do nhu cầu vốn lớn để phục vụ tăng trưởng dài hạn và quản trị rủi ro.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang từng bước khẳng định vai trò đồng hành cùng ngành du lịch qua việc phát triển các giải pháp thanh toán số an toàn, thuận tiện, góp phần tháo gỡ rào cản chi tiêu, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Kim TT/AVPL 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▼250K 14,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▼250K 14,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▼250K 14,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼140K 14,590 ▼140K
Trang sức 99.99 13,900 ▼140K 14,600 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1312K 14,702 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1312K 14,703 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▼16K 1,469 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▼16K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼16K 1,454 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼124849K 14,396 ▼131149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▼1200K 109,211 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲80470K 99,032 ▲89020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▼976K 88,853 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67791K 84,927 ▲76341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▼667K 60,788 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cập nhật: 23/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80