"Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những điểm nhấn mùa đại hội đồng cổ đông năm 2025 đó là từ các "ông lớn" quốc doanh đến các ngân hàng quy mô nhỏ đều rầm rộ tăng vốn điều lệ, nhằm củng cố sức mạnh tài chính và mở rộng dư địa tăng tín dụng.
aa
Nguồn: MBS. Đồ hoạ tư liệu

Ngay đầu năm 2025, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch tăng vốn điều lệ, nhằm nâng cao năng lực tài chính và mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Từ “ông lớn” đến nhóm nhỏ nhập cuộc

Ngày 18/4 tới đây, VietinBank trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 44,64%, tương đương phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu mới. Nguồn chi trả đến từ lợi nhuận sau thuế còn lại, sau khi trích lập các quỹ và cổ tức tiền mặt của giai đoạn 2009 - 2016 và năm 2021, 2022. Cuối năm 2024, vốn điều lệ của VietinBank là 53.700 tỷ đồng, xếp thứ 5 toàn ngành, đứng sau VPBank, Techcombank và hai "ông lớn" quốc doanh khác là BIDV và Vietcombank. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của VietinBank dự kiến sẽ tăng mạnh gần 24.000 nghìn tỷ đồng, từ 53.700 tỷ đồng lên 77.671 tỷ đồng.

Trước đó, giữa tháng 3/2025, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%, tương đương gần 2,8 tỷ cổ phiếu mới phát hành. Nguồn vốn được trích từ lợi nhuận sau thuế lũy kế đến cuối năm 2018 và phần còn lại năm 2021. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá đạt hơn 27.666 tỷ đồng, giúp vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng sau đợt phát hành.

Không chỉ các “ông lớn” trong ngành, nhiều ngân hàng có quy mô vốn điều lệ khiêm tốn hơn cũng tăng tốc chuẩn bị các kế hoạch tăng vốn, tạo nên cuộc đua sôi động toàn thị trường.

Ngày 26/4 tới đây, VietABank trình kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.399,6 tỷ đồng lên 11.582,4 tỷ đồng, tương đương mức tăng ấn tượng 115% trong lịch sử nhà băng này, tức tăng thêm 6.182,8 tỷ đồng. Kế hoạch triển khai dự kiến qua ba hình thức: một là, phát hành hơn 285,1 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối (tỷ lệ 52,8%); hai là, phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP (3,7%, hạn chế chuyển nhượng 1 năm); ba là, chào bán hơn 313 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 58%).

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 tổ chức cuối tháng 3/2025, NCB thông qua phương án phát hành riêng lẻ 750 triệu cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 11.780 tỷ đồng lên 19.280 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 63,67%. Trước đó, NCB đã thực hiện hai đợt tăng vốn: năm 2022 tăng thêm 1.500 tỷ đồng và năm 2024 tăng gần 6.200 tỷ đồng, cho thấy nỗ lực liên tục trong việc củng cố năng lực tài chính.

Giữa tháng 3/3025, PGBank chào bán 80 triệu cổ phiếu riêng lẻ với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến thu về khoảng 800 tỷ đồng. Sau phát hành, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng. Trước đó, vào đầu năm 2024, PGBank ghi dấu mốc tăng vốn lần đầu sau 10 năm, khi phát hành thành công 120 triệu cổ phiếu thưởng, nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 4.200 tỷ đồng.

Áp lực tăng vốn "lan" toàn hệ thống

Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận hoặc phát hành cổ phiếu để tăng vốn cấp 1, nhiều ngân hàng cũng lựa chọn phương án phát hành trái phiếu dài hạn nhằm bổ sung vốn cấp 2. Thống kê của FiinRatings cũng cho thấy, những tháng đầu năm, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành.

Các ngân hàng sẽ đẩy mạnh tăng vốn cấp 2

Theo FiinRatings, những tháng đầu năm nay, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành. Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn.

"Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và do yêu cầu giảm lãi suất tiết kiệm sẽ làm cho gia tăng khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động tiền gửi" - nhóm phân tích của FiinRatings đánh giá.

Hiện nhiều ngân hàng chưa công bố tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cuối năm 2024, song thống kê của phóng viên cho thấy, top 5 nhà băng có hệ số CAR thấp nhất hệ thống tính đến giữa năm 2024 đó là: Sacombank (8,99%); VietABank (9,2%); BIDV (9,5%); VietinBank (9,5%) và Kienlongbank (9,7%).

Những con số này cho thấy áp lực tăng vốn khá lớn, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới tuân thủ đầy đủ Basel II, từng bước tiếp cận Basel III và giúp các ngân hàng cung ứng tín dụng 16% năm nay cho nền kinh tế. Việc tăng vốn điều lệ là nền tảng giúp các nhà băng củng cố năng lực tài chính, nâng cao vị thế cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động.

Chia sẻ lý do NCB lựa chọn tăng vốn điều lệ ngay trong năm 2025 dù vừa có một đợt tăng vốn khá lớn vào năm 2024 (gần 6.200 tỷ đồng), bà Bùi Thị Thanh Hương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB cho biết, tính đến hết năm 2024, thực hiện các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại của NCB, ngân hàng phải thực hiện một loạt nghĩa vụ tài chính.

Ban lãnh đạo ngân hàng nhận thấy tính cấp bách của việc giảm nhanh tiến độ tăng vốn so với đề án cơ cấu lại đã trình NHNN phê duyệt. Theo đề án, dự kiến năm 2026 - 2027 mới tăng 7.000 tỷ đồng tiền vốn, tuy nhiên, NCB mong muốn tạo sức mạnh tài chính nội tại tốt hơn, sớm hơn để nắm bắt cơ hội kinh doanh của thị trường nhanh hơn.

Còn theo lãnh đạo VietinBank, phần vốn điều lệ tăng thêm dự kiến sẽ được sử dụng toàn bộ để phục vụ hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý vào các lĩnh vực trọng yếu theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông. Tiến độ giải ngân nguồn vốn này sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và diễn biến thị trường, ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ, mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư và các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi khác.

Tăng vốn giúp “vượt rào” Basel, nhiều ngân hàng còn chịu sức ép

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, hiện hơn 20 ngân hàng thương mại nhà nước và tư nhân đáp ứng và áp dụng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel II, tuân thủ Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Các ngân hàng đang có xu hướng nâng cấp tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo Basel III nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh với các tổ chức tín dụng toàn cầu.

Một trong những yêu cầu quan trọng của Basel III đối với tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 (CAR Tier 1) là đạt tối thiểu 6%. Theo báo cáo về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng cuối năm 2024, phần lớn các ngân hàng đã đạt được yêu cầu này.

"BIDV và VietinBank có tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tương đối thấp hơn so với các ngân hàng khác. Điều này cho thấy hai ngân hàng này sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tăng vốn để bổ sung vào tỷ lệ an toàn vốn" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

BIDV hiện có kế hoạch phát hành riêng lẻ 123,8 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp với giá 38.800 đồng/cổ phiếu, kỳ vọng huy động hơn 4.803 tỷ đồng. Nếu giao dịch diễn ra thuận lợi, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ vượt 70.200 tỷ đồng. MBS kỳ vọng đợt phát hành này sẽ giúp tỷ lệ an toàn vốn của BIDV đạt khoảng 10% vào cuối năm 2025.

Các ngân hàng khác cũng có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu trong năm 2025 để tăng cường vốn điều lệ, nhờ vào kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2024. Cổ tức bằng tiền mặt sẽ bị hạn chế do nhu cầu vốn lớn để phục vụ tăng trưởng dài hạn và quản trị rủi ro.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17852 18126 18712
CAD 18166 18442 19061
CHF 31445 31824 32480
CNY 0 3830 3940
EUR 29436 29656 30737
GBP 34362 34754 35692
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14916 15509
SGD 19828 20109 20681
THB 702 765 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80