"Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những điểm nhấn mùa đại hội đồng cổ đông năm 2025 đó là từ các "ông lớn" quốc doanh đến các ngân hàng quy mô nhỏ đều rầm rộ tăng vốn điều lệ, nhằm củng cố sức mạnh tài chính và mở rộng dư địa tăng tín dụng.
aa
Nguồn: MBS. Đồ hoạ tư liệu

Ngay đầu năm 2025, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch tăng vốn điều lệ, nhằm nâng cao năng lực tài chính và mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Từ “ông lớn” đến nhóm nhỏ nhập cuộc

Ngày 18/4 tới đây, VietinBank trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 44,64%, tương đương phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu mới. Nguồn chi trả đến từ lợi nhuận sau thuế còn lại, sau khi trích lập các quỹ và cổ tức tiền mặt của giai đoạn 2009 - 2016 và năm 2021, 2022. Cuối năm 2024, vốn điều lệ của VietinBank là 53.700 tỷ đồng, xếp thứ 5 toàn ngành, đứng sau VPBank, Techcombank và hai "ông lớn" quốc doanh khác là BIDV và Vietcombank. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của VietinBank dự kiến sẽ tăng mạnh gần 24.000 nghìn tỷ đồng, từ 53.700 tỷ đồng lên 77.671 tỷ đồng.

Trước đó, giữa tháng 3/2025, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%, tương đương gần 2,8 tỷ cổ phiếu mới phát hành. Nguồn vốn được trích từ lợi nhuận sau thuế lũy kế đến cuối năm 2018 và phần còn lại năm 2021. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá đạt hơn 27.666 tỷ đồng, giúp vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng sau đợt phát hành.

Không chỉ các “ông lớn” trong ngành, nhiều ngân hàng có quy mô vốn điều lệ khiêm tốn hơn cũng tăng tốc chuẩn bị các kế hoạch tăng vốn, tạo nên cuộc đua sôi động toàn thị trường.

Ngày 26/4 tới đây, VietABank trình kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.399,6 tỷ đồng lên 11.582,4 tỷ đồng, tương đương mức tăng ấn tượng 115% trong lịch sử nhà băng này, tức tăng thêm 6.182,8 tỷ đồng. Kế hoạch triển khai dự kiến qua ba hình thức: một là, phát hành hơn 285,1 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối (tỷ lệ 52,8%); hai là, phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP (3,7%, hạn chế chuyển nhượng 1 năm); ba là, chào bán hơn 313 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 58%).

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 tổ chức cuối tháng 3/2025, NCB thông qua phương án phát hành riêng lẻ 750 triệu cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 11.780 tỷ đồng lên 19.280 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 63,67%. Trước đó, NCB đã thực hiện hai đợt tăng vốn: năm 2022 tăng thêm 1.500 tỷ đồng và năm 2024 tăng gần 6.200 tỷ đồng, cho thấy nỗ lực liên tục trong việc củng cố năng lực tài chính.

Giữa tháng 3/3025, PGBank chào bán 80 triệu cổ phiếu riêng lẻ với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến thu về khoảng 800 tỷ đồng. Sau phát hành, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng. Trước đó, vào đầu năm 2024, PGBank ghi dấu mốc tăng vốn lần đầu sau 10 năm, khi phát hành thành công 120 triệu cổ phiếu thưởng, nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 4.200 tỷ đồng.

Áp lực tăng vốn "lan" toàn hệ thống

Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận hoặc phát hành cổ phiếu để tăng vốn cấp 1, nhiều ngân hàng cũng lựa chọn phương án phát hành trái phiếu dài hạn nhằm bổ sung vốn cấp 2. Thống kê của FiinRatings cũng cho thấy, những tháng đầu năm, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành.

Các ngân hàng sẽ đẩy mạnh tăng vốn cấp 2

Theo FiinRatings, những tháng đầu năm nay, hầu hết các lô trái phiếu doanh nghiệp mới được phát hành đến từ các tổ chức tín dụng nhằm bổ sung vốn cấp 2, chiếm 94,6% tổng giá trị phát hành. Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn.

"Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu trong năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và do yêu cầu giảm lãi suất tiết kiệm sẽ làm cho gia tăng khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động tiền gửi" - nhóm phân tích của FiinRatings đánh giá.

Hiện nhiều ngân hàng chưa công bố tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cuối năm 2024, song thống kê của phóng viên cho thấy, top 5 nhà băng có hệ số CAR thấp nhất hệ thống tính đến giữa năm 2024 đó là: Sacombank (8,99%); VietABank (9,2%); BIDV (9,5%); VietinBank (9,5%) và Kienlongbank (9,7%).

Những con số này cho thấy áp lực tăng vốn khá lớn, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới tuân thủ đầy đủ Basel II, từng bước tiếp cận Basel III và giúp các ngân hàng cung ứng tín dụng 16% năm nay cho nền kinh tế. Việc tăng vốn điều lệ là nền tảng giúp các nhà băng củng cố năng lực tài chính, nâng cao vị thế cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động.

Chia sẻ lý do NCB lựa chọn tăng vốn điều lệ ngay trong năm 2025 dù vừa có một đợt tăng vốn khá lớn vào năm 2024 (gần 6.200 tỷ đồng), bà Bùi Thị Thanh Hương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB cho biết, tính đến hết năm 2024, thực hiện các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại của NCB, ngân hàng phải thực hiện một loạt nghĩa vụ tài chính.

Ban lãnh đạo ngân hàng nhận thấy tính cấp bách của việc giảm nhanh tiến độ tăng vốn so với đề án cơ cấu lại đã trình NHNN phê duyệt. Theo đề án, dự kiến năm 2026 - 2027 mới tăng 7.000 tỷ đồng tiền vốn, tuy nhiên, NCB mong muốn tạo sức mạnh tài chính nội tại tốt hơn, sớm hơn để nắm bắt cơ hội kinh doanh của thị trường nhanh hơn.

Còn theo lãnh đạo VietinBank, phần vốn điều lệ tăng thêm dự kiến sẽ được sử dụng toàn bộ để phục vụ hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý vào các lĩnh vực trọng yếu theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông. Tiến độ giải ngân nguồn vốn này sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và diễn biến thị trường, ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ, mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư và các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi khác.

Tăng vốn giúp “vượt rào” Basel, nhiều ngân hàng còn chịu sức ép

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, hiện hơn 20 ngân hàng thương mại nhà nước và tư nhân đáp ứng và áp dụng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel II, tuân thủ Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Các ngân hàng đang có xu hướng nâng cấp tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo Basel III nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh với các tổ chức tín dụng toàn cầu.

Một trong những yêu cầu quan trọng của Basel III đối với tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 (CAR Tier 1) là đạt tối thiểu 6%. Theo báo cáo về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng cuối năm 2024, phần lớn các ngân hàng đã đạt được yêu cầu này.

"BIDV và VietinBank có tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tương đối thấp hơn so với các ngân hàng khác. Điều này cho thấy hai ngân hàng này sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tăng vốn để bổ sung vào tỷ lệ an toàn vốn" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

BIDV hiện có kế hoạch phát hành riêng lẻ 123,8 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp với giá 38.800 đồng/cổ phiếu, kỳ vọng huy động hơn 4.803 tỷ đồng. Nếu giao dịch diễn ra thuận lợi, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ vượt 70.200 tỷ đồng. MBS kỳ vọng đợt phát hành này sẽ giúp tỷ lệ an toàn vốn của BIDV đạt khoảng 10% vào cuối năm 2025.

Các ngân hàng khác cũng có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu trong năm 2025 để tăng cường vốn điều lệ, nhờ vào kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2024. Cổ tức bằng tiền mặt sẽ bị hạn chế do nhu cầu vốn lớn để phục vụ tăng trưởng dài hạn và quản trị rủi ro.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 167,000
Hà Nội - PNJ 164,000 167,000
Đà Nẵng - PNJ 164,000 167,000
Miền Tây - PNJ 164,000 167,000
Tây Nguyên - PNJ 164,000 167,000
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 167,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 08/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19420
CAD 18776 19054 19668
CHF 33175 33561 34211
CNY 0 3827 3919
EUR 30329 30603 31631
GBP 35021 35415 36349
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15416 16004
SGD 20238 20522 21050
THB 733 797 850
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26214 26214 26368
AUD 18738 18838 19766
CAD 18956 19056 20071
CHF 33425 33455 35038
CNY 3807.2 3832.2 3967.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30520 30550 32275
GBP 35324 35374 37131
HKD 0 3355 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15513 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20397 20527 21255
THB 0 762.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80