Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thu nhập ngoài lãi tăng tốc 23,1% giúp nhiều ngân hàng bứt phá lợi nhuận nửa đầu năm, đưa tổng lãi trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết lên gần 172.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh NIM co hẹp và tín dụng không còn là "cỗ máy" tăng trưởng mạnh nhất, các ngân hàng chủ động chuyển hướng sang khai thác hoạt động phi tín dụng.
aa
Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp
Nguồn: TBTCVN tổng hợp Đồ họa: Ánh Tuyết

Thu nhập ngoài lãi vươn lên chiếm gần 23%

Thống kê của phóng viên cho thấy, 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm với kết quả kinh doanh khả quan, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tín dụng các ngân hàng niêm yết bật tăng mạnh, với dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 13,1 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024 và cao hơn trung bình toàn ngành (9,9%).

Ngân hàng bị ép mỏng

"Biên lãi ròng (NIM), phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập lãi thuần. Hiện NIM của nhiều ngân hàng có xu hướng mỏng dần do mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng lớn. Trong khi mặt bằng lãi suất cho vay khó tăng được, thì lãi suất huy động lại có xu hướng nhích lên vì thanh khoản hệ thống đang ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng tăng "ngầm", không được phép tăng lãi suất huy động công khai, những khoản này được tính như phí môi giới, phí giới thiệu khách hàng, được hạch toán vào chi phí hoạt động" - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Động lực chính giúp lợi nhuận tăng mạnh đến từ thu nhập ngoài lãi, tăng 23,1% so với cùng kỳ, lên 78.793,4 tỷ đồng và nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động thêm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ lên 22,7%. Đây là chỉ dấu cho thấy các ngân hàng đang tích cực khai thác các hoạt động phi tín dụng, nhằm đa dạng hóa nguồn thu sinh lời và bù đắp phần nào sự sụt giảm biên lợi nhuận từ tín dụng.

Top 5 nhà băng đứng đầu về tăng trưởng thu nhập ngoài lãi gồm: PGBank tăng 720,6% cùng kỳ; HDBank tăng 210,2%; SeABank (183,7%); SHB (162,9%) và ABBank (tăng 141,1%). Tăng trưởng mạnh ở mảng thu ngoài lãi cho thấy các ngân hàng đang có bước chuyển mình đáng chú ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn thu, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng truyền thống và tận dụng cơ hội từ các hoạt động phi tín dụng. Đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận bền vững trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) chịu nhiều sức ép.

Đơn cử, PGBank có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi đảo chiều toàn bộ từ lỗ sang lãi ở kinh doanh ngoại hối và từ hoạt động dịch vụ, trong khi lãi từ hoạt động khác gấp 2,4 lần cùng kỳ lên gần 70 tỷ đồng và trở thành ngân hàng dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi trong nửa đầu năm 2025.

ABBank ghi nhận tăng trưởng đột phá về thu ngoài lãi, chiếm tới 52% tổng thu nhập hoạt động nhờ lãi từ hoạt động khác tăng hơn 10 lần, đạt 1.066,6 tỷ đồng và lãi từ dịch vụ gấp 3 lần, đạt 590 tỷ đồng. Kết quả này góp phần đưa ngân hàng hoàn thành 93% kế hoạch lợi nhuận chỉ sau nửa đầu năm.

Còn xét về giá trị tuyệt đối, các "ông lớn" tiếp tục dẫn đầu như: BIDV đạt trên 11.000 tỷ đồng, tăng 22,6%; VietinBank thu trên 10.000 tỷ đồng, tăng 22,7%; MB tăng 29,8% lên trên 8.500 tỷ đồng; Vietcombank xếp thứ 4 với gần 7.300 tỷ đồng, tăng 20,5% cùng kỳ...

Trong các nguồn thu ngoài lãi, lãi từ hoạt động khác ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, gấp đôi so với cùng kỳ, đạt hơn 21.300 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư tài chính cũng góp phần đáng kể, trong đó, lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh từ hoạt động “lướt sóng” ngắn hạn tăng mạnh 35,1%, trong khi lãi từ chứng khoán đầu tư cũng tăng ổn định 15,1%. Duy nhất hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận mức sụt giảm nhẹ 2,4%. Lãi từ các hoạt động dịch vụ như thanh toán, ngân quỹ, tài trợ thương mại, dịch vụ ngân hàng số... tiếp tục đóng góp ổn định cho ngân hàng, đạt gần 31.900 tỷ đồng.

Tín dụng tăng mạnh, lãi thuần không đuổi kịp

Bên cạnh đó, thu nhập lãi thuần là nguồn thu truyền thống của ngành, chỉ tăng 7,5%, lên gần 270.000 tỷ đồng, phản ánh áp lực thu hẹp NIM trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất cho vay gia tăng. Trong số đó, có 7/27 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm từ 0,5 - 5,7%, dù tăng trưởng cho vay khách hàng vẫn đạt mức khá cao, từ 7 - 14%. Điều này cho thấy việc tín dụng tăng không đồng nghĩa với thu nhập lãi thuần tăng.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng thu nhập hoạt động của toàn ngành Ngân hàng đạt 347.865,4 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ nhích nhẹ 1,9%, lên 67.899,2 tỷ đồng, qua đó giúp phần lớn phần tăng thu nhập được chuyển hóa thành lợi nhuận thực chất. Nhờ đó, tổng lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2024.

Đánh giá về những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ lãi của ngân hàng, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tăng trưởng tín dụng phản ánh mức tăng của dư nợ cho vay, tức phần doanh thu từ lãi cho vay có thể tăng. Tuy nhiên, để thu nhập lãi thuần cũng tăng tương ứng thì chi phí lãi trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn vay phải được kiểm soát tốt, không tăng theo.

Một trong những lý do khiến thu nhập lãi thuần không tăng tương xứng với tăng trưởng tín dụng là do chi phí đầu vào đang tăng nhanh hơn thu nhập, dẫn đến phần lãi thuần bị thu hẹp. Khi chi phí chiếm tỷ trọng cao, dù tín dụng tăng thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay cũng không được cải thiện đáng kể.

Cũng theo bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ Nghiên cứu thị trường và tư vấn tại FiinGroup, nguồn thu từ lãi tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, nợ xấu vẫn ở mức cao buộc các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng, kéo theo chi phí vận hành tăng. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng khiến các ngân hàng rơi vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, buộc phải hạ lãi suất cho vay để giữ chân khách hàng, từ đó làm suy giảm biên lợi nhuận.

Khi mặt bằng lãi suất cho vay đang duy trì ở mức thấp và áp lực giảm lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng cần chủ động chuyển hướng, tăng cường khai thác các nguồn thu ngoài tín dụng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao tỷ trọng thu nhập phi tín dụng không chỉ là mục tiêu mang tính chiến lược, mà còn là yếu tố giúp các ngân hàng phát triển ổn định.

Tín dụng toàn ngành sớm vượt 16% dù áp lực NIM gia tăng

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 7/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 9,64% so với cuối năm 2024. Trước đà tăng tích cực này, Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh, bổ sung thêm hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại vào ngày 31/7, theo nguyên tắc rõ ràng và minh bạch.

Đánh giá về động thái nới room vừa qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm nay, việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng là rất cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh giải pháp nới room tín dụng, cũng cần có các biện pháp đồng bộ từ phía cầu, đặc biệt là khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nước, trong bối cảnh xuất khẩu vẫn còn yếu.

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), hầu hết các ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2025, mặc dù chịu áp lực suy giảm NIM, đưa tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 17 - 18% cuối năm 2025.

Theo đánh giá của MBS, trong nửa cuối năm 2025, các ngân hàng có khả năng ghi nhận tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sẽ là những đơn vị sở hữu một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, có tỷ trọng dư nợ cho vay cao đối với các lĩnh vực đang được ưu tiên hỗ trợ như: dự án đầu tư công và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là hai nhóm được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách kích thích kinh tế và thúc đẩy phục hồi sản xuất.

Thứ hai, duy trì được NIM và chất lượng tài sản ổn định trong năm 2024 và quý I/2025, giúp ngân hàng có đủ dư địa để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18492
CAD 17766 18040 18659
CHF 30521 30897 31550
CNY 0 3832 3928
EUR 28844 29062 30146
GBP 33580 33968 34906
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14968
SGD 19787 20069 20640
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30