Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thu nhập ngoài lãi tăng tốc 23,1% giúp nhiều ngân hàng bứt phá lợi nhuận nửa đầu năm, đưa tổng lãi trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết lên gần 172.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh NIM co hẹp và tín dụng không còn là "cỗ máy" tăng trưởng mạnh nhất, các ngân hàng chủ động chuyển hướng sang khai thác hoạt động phi tín dụng.
aa
Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp
Nguồn: TBTCVN tổng hợp Đồ họa: Ánh Tuyết

Thu nhập ngoài lãi vươn lên chiếm gần 23%

Thống kê của phóng viên cho thấy, 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm với kết quả kinh doanh khả quan, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tín dụng các ngân hàng niêm yết bật tăng mạnh, với dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 13,1 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024 và cao hơn trung bình toàn ngành (9,9%).

Ngân hàng bị ép mỏng

"Biên lãi ròng (NIM), phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập lãi thuần. Hiện NIM của nhiều ngân hàng có xu hướng mỏng dần do mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng lớn. Trong khi mặt bằng lãi suất cho vay khó tăng được, thì lãi suất huy động lại có xu hướng nhích lên vì thanh khoản hệ thống đang ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng tăng "ngầm", không được phép tăng lãi suất huy động công khai, những khoản này được tính như phí môi giới, phí giới thiệu khách hàng, được hạch toán vào chi phí hoạt động" - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Động lực chính giúp lợi nhuận tăng mạnh đến từ thu nhập ngoài lãi, tăng 23,1% so với cùng kỳ, lên 78.793,4 tỷ đồng và nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động thêm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ lên 22,7%. Đây là chỉ dấu cho thấy các ngân hàng đang tích cực khai thác các hoạt động phi tín dụng, nhằm đa dạng hóa nguồn thu sinh lời và bù đắp phần nào sự sụt giảm biên lợi nhuận từ tín dụng.

Top 5 nhà băng đứng đầu về tăng trưởng thu nhập ngoài lãi gồm: PGBank tăng 720,6% cùng kỳ; HDBank tăng 210,2%; SeABank (183,7%); SHB (162,9%) và ABBank (tăng 141,1%). Tăng trưởng mạnh ở mảng thu ngoài lãi cho thấy các ngân hàng đang có bước chuyển mình đáng chú ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn thu, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng truyền thống và tận dụng cơ hội từ các hoạt động phi tín dụng. Đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận bền vững trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) chịu nhiều sức ép.

Đơn cử, PGBank có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi đảo chiều toàn bộ từ lỗ sang lãi ở kinh doanh ngoại hối và từ hoạt động dịch vụ, trong khi lãi từ hoạt động khác gấp 2,4 lần cùng kỳ lên gần 70 tỷ đồng và trở thành ngân hàng dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi trong nửa đầu năm 2025.

ABBank ghi nhận tăng trưởng đột phá về thu ngoài lãi, chiếm tới 52% tổng thu nhập hoạt động nhờ lãi từ hoạt động khác tăng hơn 10 lần, đạt 1.066,6 tỷ đồng và lãi từ dịch vụ gấp 3 lần, đạt 590 tỷ đồng. Kết quả này góp phần đưa ngân hàng hoàn thành 93% kế hoạch lợi nhuận chỉ sau nửa đầu năm.

Còn xét về giá trị tuyệt đối, các "ông lớn" tiếp tục dẫn đầu như: BIDV đạt trên 11.000 tỷ đồng, tăng 22,6%; VietinBank thu trên 10.000 tỷ đồng, tăng 22,7%; MB tăng 29,8% lên trên 8.500 tỷ đồng; Vietcombank xếp thứ 4 với gần 7.300 tỷ đồng, tăng 20,5% cùng kỳ...

Trong các nguồn thu ngoài lãi, lãi từ hoạt động khác ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, gấp đôi so với cùng kỳ, đạt hơn 21.300 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư tài chính cũng góp phần đáng kể, trong đó, lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh từ hoạt động “lướt sóng” ngắn hạn tăng mạnh 35,1%, trong khi lãi từ chứng khoán đầu tư cũng tăng ổn định 15,1%. Duy nhất hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận mức sụt giảm nhẹ 2,4%. Lãi từ các hoạt động dịch vụ như thanh toán, ngân quỹ, tài trợ thương mại, dịch vụ ngân hàng số... tiếp tục đóng góp ổn định cho ngân hàng, đạt gần 31.900 tỷ đồng.

Tín dụng tăng mạnh, lãi thuần không đuổi kịp

Bên cạnh đó, thu nhập lãi thuần là nguồn thu truyền thống của ngành, chỉ tăng 7,5%, lên gần 270.000 tỷ đồng, phản ánh áp lực thu hẹp NIM trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất cho vay gia tăng. Trong số đó, có 7/27 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm từ 0,5 - 5,7%, dù tăng trưởng cho vay khách hàng vẫn đạt mức khá cao, từ 7 - 14%. Điều này cho thấy việc tín dụng tăng không đồng nghĩa với thu nhập lãi thuần tăng.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng thu nhập hoạt động của toàn ngành Ngân hàng đạt 347.865,4 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ nhích nhẹ 1,9%, lên 67.899,2 tỷ đồng, qua đó giúp phần lớn phần tăng thu nhập được chuyển hóa thành lợi nhuận thực chất. Nhờ đó, tổng lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2024.

Đánh giá về những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ lãi của ngân hàng, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tăng trưởng tín dụng phản ánh mức tăng của dư nợ cho vay, tức phần doanh thu từ lãi cho vay có thể tăng. Tuy nhiên, để thu nhập lãi thuần cũng tăng tương ứng thì chi phí lãi trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn vay phải được kiểm soát tốt, không tăng theo.

Một trong những lý do khiến thu nhập lãi thuần không tăng tương xứng với tăng trưởng tín dụng là do chi phí đầu vào đang tăng nhanh hơn thu nhập, dẫn đến phần lãi thuần bị thu hẹp. Khi chi phí chiếm tỷ trọng cao, dù tín dụng tăng thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay cũng không được cải thiện đáng kể.

Cũng theo bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ Nghiên cứu thị trường và tư vấn tại FiinGroup, nguồn thu từ lãi tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, nợ xấu vẫn ở mức cao buộc các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng, kéo theo chi phí vận hành tăng. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng khiến các ngân hàng rơi vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, buộc phải hạ lãi suất cho vay để giữ chân khách hàng, từ đó làm suy giảm biên lợi nhuận.

Khi mặt bằng lãi suất cho vay đang duy trì ở mức thấp và áp lực giảm lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng cần chủ động chuyển hướng, tăng cường khai thác các nguồn thu ngoài tín dụng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao tỷ trọng thu nhập phi tín dụng không chỉ là mục tiêu mang tính chiến lược, mà còn là yếu tố giúp các ngân hàng phát triển ổn định.

Tín dụng toàn ngành sớm vượt 16% dù áp lực NIM gia tăng

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 7/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 9,64% so với cuối năm 2024. Trước đà tăng tích cực này, Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh, bổ sung thêm hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại vào ngày 31/7, theo nguyên tắc rõ ràng và minh bạch.

Đánh giá về động thái nới room vừa qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm nay, việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng là rất cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh giải pháp nới room tín dụng, cũng cần có các biện pháp đồng bộ từ phía cầu, đặc biệt là khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nước, trong bối cảnh xuất khẩu vẫn còn yếu.

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), hầu hết các ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2025, mặc dù chịu áp lực suy giảm NIM, đưa tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 17 - 18% cuối năm 2025.

Theo đánh giá của MBS, trong nửa cuối năm 2025, các ngân hàng có khả năng ghi nhận tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sẽ là những đơn vị sở hữu một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, có tỷ trọng dư nợ cho vay cao đối với các lĩnh vực đang được ưu tiên hỗ trợ như: dự án đầu tư công và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là hai nhóm được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách kích thích kinh tế và thúc đẩy phục hồi sản xuất.

Thứ hai, duy trì được NIM và chất lượng tài sản ổn định trong năm 2024 và quý I/2025, giúp ngân hàng có đủ dư địa để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80