Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thu nhập ngoài lãi tăng tốc 23,1% giúp nhiều ngân hàng bứt phá lợi nhuận nửa đầu năm, đưa tổng lãi trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết lên gần 172.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh NIM co hẹp và tín dụng không còn là "cỗ máy" tăng trưởng mạnh nhất, các ngân hàng chủ động chuyển hướng sang khai thác hoạt động phi tín dụng.
aa
Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp
Nguồn: TBTCVN tổng hợp Đồ họa: Ánh Tuyết

Thu nhập ngoài lãi vươn lên chiếm gần 23%

Thống kê của phóng viên cho thấy, 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm với kết quả kinh doanh khả quan, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tín dụng các ngân hàng niêm yết bật tăng mạnh, với dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 13,1 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024 và cao hơn trung bình toàn ngành (9,9%).

Ngân hàng bị ép mỏng

"Biên lãi ròng (NIM), phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập lãi thuần. Hiện NIM của nhiều ngân hàng có xu hướng mỏng dần do mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng lớn. Trong khi mặt bằng lãi suất cho vay khó tăng được, thì lãi suất huy động lại có xu hướng nhích lên vì thanh khoản hệ thống đang ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng tăng "ngầm", không được phép tăng lãi suất huy động công khai, những khoản này được tính như phí môi giới, phí giới thiệu khách hàng, được hạch toán vào chi phí hoạt động" - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Động lực chính giúp lợi nhuận tăng mạnh đến từ thu nhập ngoài lãi, tăng 23,1% so với cùng kỳ, lên 78.793,4 tỷ đồng và nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động thêm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ lên 22,7%. Đây là chỉ dấu cho thấy các ngân hàng đang tích cực khai thác các hoạt động phi tín dụng, nhằm đa dạng hóa nguồn thu sinh lời và bù đắp phần nào sự sụt giảm biên lợi nhuận từ tín dụng.

Top 5 nhà băng đứng đầu về tăng trưởng thu nhập ngoài lãi gồm: PGBank tăng 720,6% cùng kỳ; HDBank tăng 210,2%; SeABank (183,7%); SHB (162,9%) và ABBank (tăng 141,1%). Tăng trưởng mạnh ở mảng thu ngoài lãi cho thấy các ngân hàng đang có bước chuyển mình đáng chú ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn thu, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng truyền thống và tận dụng cơ hội từ các hoạt động phi tín dụng. Đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận bền vững trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) chịu nhiều sức ép.

Đơn cử, PGBank có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi đảo chiều toàn bộ từ lỗ sang lãi ở kinh doanh ngoại hối và từ hoạt động dịch vụ, trong khi lãi từ hoạt động khác gấp 2,4 lần cùng kỳ lên gần 70 tỷ đồng và trở thành ngân hàng dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi trong nửa đầu năm 2025.

ABBank ghi nhận tăng trưởng đột phá về thu ngoài lãi, chiếm tới 52% tổng thu nhập hoạt động nhờ lãi từ hoạt động khác tăng hơn 10 lần, đạt 1.066,6 tỷ đồng và lãi từ dịch vụ gấp 3 lần, đạt 590 tỷ đồng. Kết quả này góp phần đưa ngân hàng hoàn thành 93% kế hoạch lợi nhuận chỉ sau nửa đầu năm.

Còn xét về giá trị tuyệt đối, các "ông lớn" tiếp tục dẫn đầu như: BIDV đạt trên 11.000 tỷ đồng, tăng 22,6%; VietinBank thu trên 10.000 tỷ đồng, tăng 22,7%; MB tăng 29,8% lên trên 8.500 tỷ đồng; Vietcombank xếp thứ 4 với gần 7.300 tỷ đồng, tăng 20,5% cùng kỳ...

Trong các nguồn thu ngoài lãi, lãi từ hoạt động khác ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, gấp đôi so với cùng kỳ, đạt hơn 21.300 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư tài chính cũng góp phần đáng kể, trong đó, lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh từ hoạt động “lướt sóng” ngắn hạn tăng mạnh 35,1%, trong khi lãi từ chứng khoán đầu tư cũng tăng ổn định 15,1%. Duy nhất hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận mức sụt giảm nhẹ 2,4%. Lãi từ các hoạt động dịch vụ như thanh toán, ngân quỹ, tài trợ thương mại, dịch vụ ngân hàng số... tiếp tục đóng góp ổn định cho ngân hàng, đạt gần 31.900 tỷ đồng.

Tín dụng tăng mạnh, lãi thuần không đuổi kịp

Bên cạnh đó, thu nhập lãi thuần là nguồn thu truyền thống của ngành, chỉ tăng 7,5%, lên gần 270.000 tỷ đồng, phản ánh áp lực thu hẹp NIM trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất cho vay gia tăng. Trong số đó, có 7/27 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm từ 0,5 - 5,7%, dù tăng trưởng cho vay khách hàng vẫn đạt mức khá cao, từ 7 - 14%. Điều này cho thấy việc tín dụng tăng không đồng nghĩa với thu nhập lãi thuần tăng.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng thu nhập hoạt động của toàn ngành Ngân hàng đạt 347.865,4 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ nhích nhẹ 1,9%, lên 67.899,2 tỷ đồng, qua đó giúp phần lớn phần tăng thu nhập được chuyển hóa thành lợi nhuận thực chất. Nhờ đó, tổng lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2024.

Đánh giá về những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ lãi của ngân hàng, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tăng trưởng tín dụng phản ánh mức tăng của dư nợ cho vay, tức phần doanh thu từ lãi cho vay có thể tăng. Tuy nhiên, để thu nhập lãi thuần cũng tăng tương ứng thì chi phí lãi trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn vay phải được kiểm soát tốt, không tăng theo.

Một trong những lý do khiến thu nhập lãi thuần không tăng tương xứng với tăng trưởng tín dụng là do chi phí đầu vào đang tăng nhanh hơn thu nhập, dẫn đến phần lãi thuần bị thu hẹp. Khi chi phí chiếm tỷ trọng cao, dù tín dụng tăng thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay cũng không được cải thiện đáng kể.

Cũng theo bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ Nghiên cứu thị trường và tư vấn tại FiinGroup, nguồn thu từ lãi tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, nợ xấu vẫn ở mức cao buộc các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng, kéo theo chi phí vận hành tăng. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng khiến các ngân hàng rơi vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, buộc phải hạ lãi suất cho vay để giữ chân khách hàng, từ đó làm suy giảm biên lợi nhuận.

Khi mặt bằng lãi suất cho vay đang duy trì ở mức thấp và áp lực giảm lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng cần chủ động chuyển hướng, tăng cường khai thác các nguồn thu ngoài tín dụng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao tỷ trọng thu nhập phi tín dụng không chỉ là mục tiêu mang tính chiến lược, mà còn là yếu tố giúp các ngân hàng phát triển ổn định.

Tín dụng toàn ngành sớm vượt 16% dù áp lực NIM gia tăng

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 7/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 9,64% so với cuối năm 2024. Trước đà tăng tích cực này, Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh, bổ sung thêm hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại vào ngày 31/7, theo nguyên tắc rõ ràng và minh bạch.

Đánh giá về động thái nới room vừa qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm nay, việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng là rất cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh giải pháp nới room tín dụng, cũng cần có các biện pháp đồng bộ từ phía cầu, đặc biệt là khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nước, trong bối cảnh xuất khẩu vẫn còn yếu.

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), hầu hết các ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2025, mặc dù chịu áp lực suy giảm NIM, đưa tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 17 - 18% cuối năm 2025.

Theo đánh giá của MBS, trong nửa cuối năm 2025, các ngân hàng có khả năng ghi nhận tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sẽ là những đơn vị sở hữu một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, có tỷ trọng dư nợ cho vay cao đối với các lĩnh vực đang được ưu tiên hỗ trợ như: dự án đầu tư công và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là hai nhóm được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách kích thích kinh tế và thúc đẩy phục hồi sản xuất.

Thứ hai, duy trì được NIM và chất lượng tài sản ổn định trong năm 2024 và quý I/2025, giúp ngân hàng có đủ dư địa để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17917 18492
CAD 17977 18252 18868
CHF 31826 32207 32853
CNY 0 3831 3924
EUR 29297 29517 30592
GBP 33935 34325 35256
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14562 15150
SGD 19776 20057 20623
THB 705 769 821
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80