Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thu nhập ngoài lãi tăng tốc 23,1% giúp nhiều ngân hàng bứt phá lợi nhuận nửa đầu năm, đưa tổng lãi trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết lên gần 172.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh NIM co hẹp và tín dụng không còn là "cỗ máy" tăng trưởng mạnh nhất, các ngân hàng chủ động chuyển hướng sang khai thác hoạt động phi tín dụng.
aa
Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp
Nguồn: TBTCVN tổng hợp Đồ họa: Ánh Tuyết

Thu nhập ngoài lãi vươn lên chiếm gần 23%

Thống kê của phóng viên cho thấy, 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm với kết quả kinh doanh khả quan, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tín dụng các ngân hàng niêm yết bật tăng mạnh, với dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 13,1 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024 và cao hơn trung bình toàn ngành (9,9%).

Ngân hàng bị ép mỏng

"Biên lãi ròng (NIM), phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập lãi thuần. Hiện NIM của nhiều ngân hàng có xu hướng mỏng dần do mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng lớn. Trong khi mặt bằng lãi suất cho vay khó tăng được, thì lãi suất huy động lại có xu hướng nhích lên vì thanh khoản hệ thống đang ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng tăng "ngầm", không được phép tăng lãi suất huy động công khai, những khoản này được tính như phí môi giới, phí giới thiệu khách hàng, được hạch toán vào chi phí hoạt động" - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Động lực chính giúp lợi nhuận tăng mạnh đến từ thu nhập ngoài lãi, tăng 23,1% so với cùng kỳ, lên 78.793,4 tỷ đồng và nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động thêm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ lên 22,7%. Đây là chỉ dấu cho thấy các ngân hàng đang tích cực khai thác các hoạt động phi tín dụng, nhằm đa dạng hóa nguồn thu sinh lời và bù đắp phần nào sự sụt giảm biên lợi nhuận từ tín dụng.

Top 5 nhà băng đứng đầu về tăng trưởng thu nhập ngoài lãi gồm: PGBank tăng 720,6% cùng kỳ; HDBank tăng 210,2%; SeABank (183,7%); SHB (162,9%) và ABBank (tăng 141,1%). Tăng trưởng mạnh ở mảng thu ngoài lãi cho thấy các ngân hàng đang có bước chuyển mình đáng chú ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn thu, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng truyền thống và tận dụng cơ hội từ các hoạt động phi tín dụng. Đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận bền vững trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) chịu nhiều sức ép.

Đơn cử, PGBank có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi đảo chiều toàn bộ từ lỗ sang lãi ở kinh doanh ngoại hối và từ hoạt động dịch vụ, trong khi lãi từ hoạt động khác gấp 2,4 lần cùng kỳ lên gần 70 tỷ đồng và trở thành ngân hàng dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi trong nửa đầu năm 2025.

ABBank ghi nhận tăng trưởng đột phá về thu ngoài lãi, chiếm tới 52% tổng thu nhập hoạt động nhờ lãi từ hoạt động khác tăng hơn 10 lần, đạt 1.066,6 tỷ đồng và lãi từ dịch vụ gấp 3 lần, đạt 590 tỷ đồng. Kết quả này góp phần đưa ngân hàng hoàn thành 93% kế hoạch lợi nhuận chỉ sau nửa đầu năm.

Còn xét về giá trị tuyệt đối, các "ông lớn" tiếp tục dẫn đầu như: BIDV đạt trên 11.000 tỷ đồng, tăng 22,6%; VietinBank thu trên 10.000 tỷ đồng, tăng 22,7%; MB tăng 29,8% lên trên 8.500 tỷ đồng; Vietcombank xếp thứ 4 với gần 7.300 tỷ đồng, tăng 20,5% cùng kỳ...

Trong các nguồn thu ngoài lãi, lãi từ hoạt động khác ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, gấp đôi so với cùng kỳ, đạt hơn 21.300 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư tài chính cũng góp phần đáng kể, trong đó, lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh từ hoạt động “lướt sóng” ngắn hạn tăng mạnh 35,1%, trong khi lãi từ chứng khoán đầu tư cũng tăng ổn định 15,1%. Duy nhất hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận mức sụt giảm nhẹ 2,4%. Lãi từ các hoạt động dịch vụ như thanh toán, ngân quỹ, tài trợ thương mại, dịch vụ ngân hàng số... tiếp tục đóng góp ổn định cho ngân hàng, đạt gần 31.900 tỷ đồng.

Tín dụng tăng mạnh, lãi thuần không đuổi kịp

Bên cạnh đó, thu nhập lãi thuần là nguồn thu truyền thống của ngành, chỉ tăng 7,5%, lên gần 270.000 tỷ đồng, phản ánh áp lực thu hẹp NIM trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất cho vay gia tăng. Trong số đó, có 7/27 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm từ 0,5 - 5,7%, dù tăng trưởng cho vay khách hàng vẫn đạt mức khá cao, từ 7 - 14%. Điều này cho thấy việc tín dụng tăng không đồng nghĩa với thu nhập lãi thuần tăng.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng thu nhập hoạt động của toàn ngành Ngân hàng đạt 347.865,4 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ nhích nhẹ 1,9%, lên 67.899,2 tỷ đồng, qua đó giúp phần lớn phần tăng thu nhập được chuyển hóa thành lợi nhuận thực chất. Nhờ đó, tổng lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt 171.873,2 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2024.

Đánh giá về những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ lãi của ngân hàng, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tăng trưởng tín dụng phản ánh mức tăng của dư nợ cho vay, tức phần doanh thu từ lãi cho vay có thể tăng. Tuy nhiên, để thu nhập lãi thuần cũng tăng tương ứng thì chi phí lãi trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn vay phải được kiểm soát tốt, không tăng theo.

Một trong những lý do khiến thu nhập lãi thuần không tăng tương xứng với tăng trưởng tín dụng là do chi phí đầu vào đang tăng nhanh hơn thu nhập, dẫn đến phần lãi thuần bị thu hẹp. Khi chi phí chiếm tỷ trọng cao, dù tín dụng tăng thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay cũng không được cải thiện đáng kể.

Cũng theo bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ Nghiên cứu thị trường và tư vấn tại FiinGroup, nguồn thu từ lãi tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, nợ xấu vẫn ở mức cao buộc các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng, kéo theo chi phí vận hành tăng. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng khiến các ngân hàng rơi vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, buộc phải hạ lãi suất cho vay để giữ chân khách hàng, từ đó làm suy giảm biên lợi nhuận.

Khi mặt bằng lãi suất cho vay đang duy trì ở mức thấp và áp lực giảm lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng cần chủ động chuyển hướng, tăng cường khai thác các nguồn thu ngoài tín dụng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao tỷ trọng thu nhập phi tín dụng không chỉ là mục tiêu mang tính chiến lược, mà còn là yếu tố giúp các ngân hàng phát triển ổn định.

Tín dụng toàn ngành sớm vượt 16% dù áp lực NIM gia tăng

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 7/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 9,64% so với cuối năm 2024. Trước đà tăng tích cực này, Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh, bổ sung thêm hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại vào ngày 31/7, theo nguyên tắc rõ ràng và minh bạch.

Đánh giá về động thái nới room vừa qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm nay, việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng là rất cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh giải pháp nới room tín dụng, cũng cần có các biện pháp đồng bộ từ phía cầu, đặc biệt là khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nước, trong bối cảnh xuất khẩu vẫn còn yếu.

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), hầu hết các ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2025, mặc dù chịu áp lực suy giảm NIM, đưa tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 17 - 18% cuối năm 2025.

Theo đánh giá của MBS, trong nửa cuối năm 2025, các ngân hàng có khả năng ghi nhận tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sẽ là những đơn vị sở hữu một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, có tỷ trọng dư nợ cho vay cao đối với các lĩnh vực đang được ưu tiên hỗ trợ như: dự án đầu tư công và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là hai nhóm được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách kích thích kinh tế và thúc đẩy phục hồi sản xuất.

Thứ hai, duy trì được NIM và chất lượng tài sản ổn định trong năm 2024 và quý I/2025, giúp ngân hàng có đủ dư địa để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80