Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
aa
“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Lãi suất liên ngân hàng vượt 7% đầu tuần, lãi suất huy động chững đà giảm

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO) trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh đầu tuần.

Cụ thể, nhà điều hành bơm mạnh đầu tuần, với khối lượng phát hành 17.000 tỷ đồng trong các ngày 4/5 và 5/5, trước khi giảm xuống còn 3.000 tỷ đồng trong ba phiên cuối tuần. Tính chung tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 43.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 37.169 tỷ đồng. Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO.

Động thái bơm thanh khoản mạnh hơn diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh hơn trong các phiên đầu tuần, đặc biệt lãi suất qua đêm có thời điểm vọt lên 7,05% trong phiên 5/5, từ mức thấp 3,88% trước kỳ nghỉ lễ.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường hỗ trợ thanh khoản, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Chốt ngày 7/5, lãi suất qua đêm giảm còn 5,72%, song vẫn cao hơn 1,84 điểm phần trăm so với trước nghỉ lễ. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm xuống 5,9%, thấp hơn 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần 6,48%, gần như không đổi so với trước nghỉ lễ. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,82% và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,42 điểm phần trăm lên 7,5%.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng tuần qua vẫn duy trì ổn định, với doanh số giao dịch bình quân quanh 750 - 800 nghìn tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng vẫn khá lớn trong bối cảnh áp lực thanh khoản tăng lên vào đầu tháng. Diễn biến này phản ánh việc Ngân hàng Nhà nước đã chủ động bơm thanh khoản, hỗ trợ kịp thời nhằm ổn định mặt bằng lãi suất và duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), nhìn chung, thanh khoản hệ thống đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng cuối tháng 3/2026, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn và lãi suất huy động hạ nhiệt nhưng mặt bằng lãi suất chưa giảm bền vững.

Theo nhóm phân tích, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, do nhập siêu mở rộng, lạm phát tăng và tỷ giá còn chịu nhiều áp lực sẽ khiến Ngân hàng Nhà nước thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ trong các tháng tới.

Quan sát từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, trên thị trường 1, bên cạnh chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất, một số thông tin đang tiếp tục hỗ trợ hạ nhiệt cho đà tăng lãi suất huy động, điển hình là dự thảo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN cho phép ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn). Qua đó, tạo dư địa cho vay về mặt kỹ thuật cho một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã thông qua kế hoạch tăng vốn trong mùa đại hội đồng cổ đông, giúp mở rộng nguồn vốn cho vay.

“Tuy nhiên, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh khi tuần qua không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất huy động ở vài kỳ hạn” - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, ngân hàng giảm mạnh chiều mua

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố biến động hẹp quanh 25.111 - 25.113 đồng. Chốt tuần ngày 8/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.112 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước đó và giảm 1 đồng trong tuần vừa qua.

Trong tuần, tỷ giá USD tự do giảm tới 290 đồng, mất mốc 26.500 đồng. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được giữ ổn định.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động hẹp và có xu hướng giảm nhẹ chiều bán, tương ứng diễn biến tỷ giá trung tâm; song giảm mạnh chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ngày 8/5 được niêm yết ở mức 26.087 VND/USD chiều mua vào và 26.367 VND/USD chiều bán ra, giảm lần lượt 21 đồng và 1 đồng so với phiên trước nghỉ lễ. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.117 - 26.367 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 31 đồng chiều mua vào và giảm 1 đồng chiều bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm rõ rệt hơn, hầu hết các phiên trong tuần đều ghi nhận xu hướng đi xuống. Chốt tuần, tỷ giá USD giao dịch quanh 26.450 - 26.500 VND/USD, giảm mạnh 130 đồng chiều mua và 120 đồng chiều bán so với phiên trước đó.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo sức mạnh đồng USD với rổ các đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,01 điểm, giảm 0,06%, cho thấy đồng bạc xanh suy yếu nhẹ. Đà tăng của đồng USD chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị sau khi Wall Street Journal đưa tin Iran chưa chấp nhận đề xuất của Mỹ liên quan đến việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột.

Trước biến động các ngoại tệ chủ chốt, tỷ giá EUR tại các ngân hàng thương mại trong nước nhích tăng. Theo đó, tại Vietcombank, tỷ giá EUR ở mức 30.074,41 - 31.659,92 VND/EUR, tăng 47,8 đồng chiều mua vào và tăng 26,4 đồng chiều bán ra so với phiên trước nghỉ lễ. Trong khi đó, BIDV niêm yết EUR ở mức 30.444 - 31.764 VND/EUR, tăng 66 đồng chiều mua vào và tăng 106 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá GBP cũng ghi nhận mức tăng khá mạnh. Vietcombank niêm yết GBP ở mức 34.758,23 - 36.233,69 VND/GBP, tăng 111,8 đồng chiều mua vào và tăng 89,2 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, GBP tăng lên 35.183 - 36.312 VND/GBP, tương ứng tăng 162 đồng chiều mua vào và tăng 213 đồng chiều bán ra.

Trong khi đó, tỷ giá CNY tại Vietcombank được niêm yết ở mức 3.768,73 - 3.928,71 VND/CNY, tăng mạnh 12,1 đồng chiều mua vào và tăng 9,6 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, CNY ở mức 3.803 - 3.928 VND/CNY, tăng 11 đồng chiều mua vào và tăng 15 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

Tỷ giá ổn định hơn nhờ DXY suy yếu, nhưng sức ép vẫn còn lớn

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà suy giảm của chỉ số DXY, cùng với biện pháp can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong tháng 3/2026 đã giúp giảm đáng kể mức biến động của tỷ giá trong tháng 4/2026. Tỷ giá trung tâm chỉ tăng nhẹ 0,04% so với cuối tháng trước lên mức 25.113 VND/USD và giảm 0,04% so với đầu năm).

Dù vậy, vẫn còn những yếu tố gây áp lực tỷ giá. Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD khả năng tiếp tục neo cao khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài và giá dầu neo cao, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. Đáng chú ý, cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 4 tháng đầu năm 2026 đã nhập siêu 7,11 tỷ USD./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng từ 500.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa vàng miếng lên 143,9 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn lên cao nhất 143,5 triệu đồng/lượng.
MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

(TBTCO) - Sau nhiều năm chủ yếu chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn, MSB lần này dự kiến huy động trực tiếp 9.360 tỷ đồng từ cổ đông hiện hữu, thông qua chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng/cổ phiếu, trong khi thị giá kết phiên 16/10 cao hơn 48%. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng 50% so với đầu năm, lên 46.800 tỷ đồng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30