Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
aa
“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Lãi suất liên ngân hàng vượt 7% đầu tuần, lãi suất huy động chững đà giảm

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO) trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh đầu tuần.

Cụ thể, nhà điều hành bơm mạnh đầu tuần, với khối lượng phát hành 17.000 tỷ đồng trong các ngày 4/5 và 5/5, trước khi giảm xuống còn 3.000 tỷ đồng trong ba phiên cuối tuần. Tính chung tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 43.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 37.169 tỷ đồng. Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO.

Động thái bơm thanh khoản mạnh hơn diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh hơn trong các phiên đầu tuần, đặc biệt lãi suất qua đêm có thời điểm vọt lên 7,05% trong phiên 5/5, từ mức thấp 3,88% trước kỳ nghỉ lễ.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường hỗ trợ thanh khoản, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Chốt ngày 7/5, lãi suất qua đêm giảm còn 5,72%, song vẫn cao hơn 1,84 điểm phần trăm so với trước nghỉ lễ. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm xuống 5,9%, thấp hơn 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần 6,48%, gần như không đổi so với trước nghỉ lễ. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,82% và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,42 điểm phần trăm lên 7,5%.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng tuần qua vẫn duy trì ổn định, với doanh số giao dịch bình quân quanh 750 - 800 nghìn tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng vẫn khá lớn trong bối cảnh áp lực thanh khoản tăng lên vào đầu tháng. Diễn biến này phản ánh việc Ngân hàng Nhà nước đã chủ động bơm thanh khoản, hỗ trợ kịp thời nhằm ổn định mặt bằng lãi suất và duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), nhìn chung, thanh khoản hệ thống đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng cuối tháng 3/2026, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn và lãi suất huy động hạ nhiệt nhưng mặt bằng lãi suất chưa giảm bền vững.

Theo nhóm phân tích, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, do nhập siêu mở rộng, lạm phát tăng và tỷ giá còn chịu nhiều áp lực sẽ khiến Ngân hàng Nhà nước thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ trong các tháng tới.

Quan sát từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, trên thị trường 1, bên cạnh chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất, một số thông tin đang tiếp tục hỗ trợ hạ nhiệt cho đà tăng lãi suất huy động, điển hình là dự thảo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN cho phép ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn). Qua đó, tạo dư địa cho vay về mặt kỹ thuật cho một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã thông qua kế hoạch tăng vốn trong mùa đại hội đồng cổ đông, giúp mở rộng nguồn vốn cho vay.

“Tuy nhiên, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh khi tuần qua không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất huy động ở vài kỳ hạn” - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, ngân hàng giảm mạnh chiều mua

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố biến động hẹp quanh 25.111 - 25.113 đồng. Chốt tuần ngày 8/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.112 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước đó và giảm 1 đồng trong tuần vừa qua.

Trong tuần, tỷ giá USD tự do giảm tới 290 đồng, mất mốc 26.500 đồng. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được giữ ổn định.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động hẹp và có xu hướng giảm nhẹ chiều bán, tương ứng diễn biến tỷ giá trung tâm; song giảm mạnh chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ngày 8/5 được niêm yết ở mức 26.087 VND/USD chiều mua vào và 26.367 VND/USD chiều bán ra, giảm lần lượt 21 đồng và 1 đồng so với phiên trước nghỉ lễ. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.117 - 26.367 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 31 đồng chiều mua vào và giảm 1 đồng chiều bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm rõ rệt hơn, hầu hết các phiên trong tuần đều ghi nhận xu hướng đi xuống. Chốt tuần, tỷ giá USD giao dịch quanh 26.450 - 26.500 VND/USD, giảm mạnh 130 đồng chiều mua và 120 đồng chiều bán so với phiên trước đó.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo sức mạnh đồng USD với rổ các đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,01 điểm, giảm 0,06%, cho thấy đồng bạc xanh suy yếu nhẹ. Đà tăng của đồng USD chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị sau khi Wall Street Journal đưa tin Iran chưa chấp nhận đề xuất của Mỹ liên quan đến việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột.

Trước biến động các ngoại tệ chủ chốt, tỷ giá EUR tại các ngân hàng thương mại trong nước nhích tăng. Theo đó, tại Vietcombank, tỷ giá EUR ở mức 30.074,41 - 31.659,92 VND/EUR, tăng 47,8 đồng chiều mua vào và tăng 26,4 đồng chiều bán ra so với phiên trước nghỉ lễ. Trong khi đó, BIDV niêm yết EUR ở mức 30.444 - 31.764 VND/EUR, tăng 66 đồng chiều mua vào và tăng 106 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá GBP cũng ghi nhận mức tăng khá mạnh. Vietcombank niêm yết GBP ở mức 34.758,23 - 36.233,69 VND/GBP, tăng 111,8 đồng chiều mua vào và tăng 89,2 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, GBP tăng lên 35.183 - 36.312 VND/GBP, tương ứng tăng 162 đồng chiều mua vào và tăng 213 đồng chiều bán ra.

Trong khi đó, tỷ giá CNY tại Vietcombank được niêm yết ở mức 3.768,73 - 3.928,71 VND/CNY, tăng mạnh 12,1 đồng chiều mua vào và tăng 9,6 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, CNY ở mức 3.803 - 3.928 VND/CNY, tăng 11 đồng chiều mua vào và tăng 15 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

Tỷ giá ổn định hơn nhờ DXY suy yếu, nhưng sức ép vẫn còn lớn

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà suy giảm của chỉ số DXY, cùng với biện pháp can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong tháng 3/2026 đã giúp giảm đáng kể mức biến động của tỷ giá trong tháng 4/2026. Tỷ giá trung tâm chỉ tăng nhẹ 0,04% so với cuối tháng trước lên mức 25.113 VND/USD và giảm 0,04% so với đầu năm).

Dù vậy, vẫn còn những yếu tố gây áp lực tỷ giá. Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD khả năng tiếp tục neo cao khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài và giá dầu neo cao, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. Đáng chú ý, cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 4 tháng đầu năm 2026 đã nhập siêu 7,11 tỷ USD./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Nhiều năm qua, Prudential Việt Nam liên tục được ghi nhận là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, thể hiện rõ cam kết tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC thông qua kế hoạch doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 780 tỷ đồng năm 2026; đồng thời, chấp thuận chủ trương mở rộng sang bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm tử kỳ và dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Lãnh đạo BIC cho biết, Tổng công ty đang xây dựng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ gắn với tín dụng khách hàng và kỳ vọng có kết quả từ năm 2027.
Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150 ▲200K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▲200K
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▲1645K 16,752 ▲16752K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▲1645K 16,753 ▲16753K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▲164K 167 ▲167K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▲164K 1,671 ▲1671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▲162K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▲157361K 163,861 ▲163861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▲115387K 124,287 ▲124287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▲103801K 112,701 ▲112701K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▲92215K 101,115 ▲101115K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▲87746K 96,646 ▲96646K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▲6027K 6,917 ▲6917K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cập nhật: 08/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18492 18768 19347
CAD 18741 19019 19635
CHF 33163 33549 34194
CNY 0 3827 3919
EUR 30325 30599 31627
GBP 35003 35397 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15373 15963
SGD 20207 20491 21014
THB 732 795 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80