Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
aa
“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Lãi suất liên ngân hàng vượt 7% đầu tuần, lãi suất huy động chững đà giảm

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO) trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh đầu tuần.

Cụ thể, nhà điều hành bơm mạnh đầu tuần, với khối lượng phát hành 17.000 tỷ đồng trong các ngày 4/5 và 5/5, trước khi giảm xuống còn 3.000 tỷ đồng trong ba phiên cuối tuần. Tính chung tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 43.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 37.169 tỷ đồng. Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO.

Động thái bơm thanh khoản mạnh hơn diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh hơn trong các phiên đầu tuần, đặc biệt lãi suất qua đêm có thời điểm vọt lên 7,05% trong phiên 5/5, từ mức thấp 3,88% trước kỳ nghỉ lễ.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường hỗ trợ thanh khoản, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Chốt ngày 7/5, lãi suất qua đêm giảm còn 5,72%, song vẫn cao hơn 1,84 điểm phần trăm so với trước nghỉ lễ. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm xuống 5,9%, thấp hơn 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần 6,48%, gần như không đổi so với trước nghỉ lễ. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,82% và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,42 điểm phần trăm lên 7,5%.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng tuần qua vẫn duy trì ổn định, với doanh số giao dịch bình quân quanh 750 - 800 nghìn tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng vẫn khá lớn trong bối cảnh áp lực thanh khoản tăng lên vào đầu tháng. Diễn biến này phản ánh việc Ngân hàng Nhà nước đã chủ động bơm thanh khoản, hỗ trợ kịp thời nhằm ổn định mặt bằng lãi suất và duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), nhìn chung, thanh khoản hệ thống đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng cuối tháng 3/2026, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn và lãi suất huy động hạ nhiệt nhưng mặt bằng lãi suất chưa giảm bền vững.

Theo nhóm phân tích, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, do nhập siêu mở rộng, lạm phát tăng và tỷ giá còn chịu nhiều áp lực sẽ khiến Ngân hàng Nhà nước thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ trong các tháng tới.

Quan sát từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, trên thị trường 1, bên cạnh chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất, một số thông tin đang tiếp tục hỗ trợ hạ nhiệt cho đà tăng lãi suất huy động, điển hình là dự thảo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN cho phép ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn). Qua đó, tạo dư địa cho vay về mặt kỹ thuật cho một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã thông qua kế hoạch tăng vốn trong mùa đại hội đồng cổ đông, giúp mở rộng nguồn vốn cho vay.

“Tuy nhiên, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh khi tuần qua không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất huy động ở vài kỳ hạn” - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, ngân hàng giảm mạnh chiều mua

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố biến động hẹp quanh 25.111 - 25.113 đồng. Chốt tuần ngày 8/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.112 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước đó và giảm 1 đồng trong tuần vừa qua.

Trong tuần, tỷ giá USD tự do giảm tới 290 đồng, mất mốc 26.500 đồng. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được giữ ổn định.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động hẹp và có xu hướng giảm nhẹ chiều bán, tương ứng diễn biến tỷ giá trung tâm; song giảm mạnh chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ngày 8/5 được niêm yết ở mức 26.087 VND/USD chiều mua vào và 26.367 VND/USD chiều bán ra, giảm lần lượt 21 đồng và 1 đồng so với phiên trước nghỉ lễ. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.117 - 26.367 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 31 đồng chiều mua vào và giảm 1 đồng chiều bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm rõ rệt hơn, hầu hết các phiên trong tuần đều ghi nhận xu hướng đi xuống. Chốt tuần, tỷ giá USD giao dịch quanh 26.450 - 26.500 VND/USD, giảm mạnh 130 đồng chiều mua và 120 đồng chiều bán so với phiên trước đó.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo sức mạnh đồng USD với rổ các đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,01 điểm, giảm 0,06%, cho thấy đồng bạc xanh suy yếu nhẹ. Đà tăng của đồng USD chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị sau khi Wall Street Journal đưa tin Iran chưa chấp nhận đề xuất của Mỹ liên quan đến việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột.

Trước biến động các ngoại tệ chủ chốt, tỷ giá EUR tại các ngân hàng thương mại trong nước nhích tăng. Theo đó, tại Vietcombank, tỷ giá EUR ở mức 30.074,41 - 31.659,92 VND/EUR, tăng 47,8 đồng chiều mua vào và tăng 26,4 đồng chiều bán ra so với phiên trước nghỉ lễ. Trong khi đó, BIDV niêm yết EUR ở mức 30.444 - 31.764 VND/EUR, tăng 66 đồng chiều mua vào và tăng 106 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá GBP cũng ghi nhận mức tăng khá mạnh. Vietcombank niêm yết GBP ở mức 34.758,23 - 36.233,69 VND/GBP, tăng 111,8 đồng chiều mua vào và tăng 89,2 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, GBP tăng lên 35.183 - 36.312 VND/GBP, tương ứng tăng 162 đồng chiều mua vào và tăng 213 đồng chiều bán ra.

Trong khi đó, tỷ giá CNY tại Vietcombank được niêm yết ở mức 3.768,73 - 3.928,71 VND/CNY, tăng mạnh 12,1 đồng chiều mua vào và tăng 9,6 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, CNY ở mức 3.803 - 3.928 VND/CNY, tăng 11 đồng chiều mua vào và tăng 15 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

Tỷ giá ổn định hơn nhờ DXY suy yếu, nhưng sức ép vẫn còn lớn

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà suy giảm của chỉ số DXY, cùng với biện pháp can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong tháng 3/2026 đã giúp giảm đáng kể mức biến động của tỷ giá trong tháng 4/2026. Tỷ giá trung tâm chỉ tăng nhẹ 0,04% so với cuối tháng trước lên mức 25.113 VND/USD và giảm 0,04% so với đầu năm).

Dù vậy, vẫn còn những yếu tố gây áp lực tỷ giá. Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD khả năng tiếp tục neo cao khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài và giá dầu neo cao, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. Đáng chú ý, cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 4 tháng đầu năm 2026 đã nhập siêu 7,11 tỷ USD./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Kim TT/AVPL 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▼250K 14,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▼250K 14,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▼250K 14,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼140K 14,590 ▼140K
Trang sức 99.99 13,900 ▼140K 14,600 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1312K 14,702 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1312K 14,703 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▼16K 1,469 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▼16K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼16K 1,454 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼124849K 14,396 ▼131149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▼1200K 109,211 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲80470K 99,032 ▲89020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▼976K 88,853 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67791K 84,927 ▲76341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▼667K 60,788 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cập nhật: 23/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80