Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
aa
“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Lãi suất liên ngân hàng vượt 7% đầu tuần, lãi suất huy động chững đà giảm

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO) trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh đầu tuần.

Cụ thể, nhà điều hành bơm mạnh đầu tuần, với khối lượng phát hành 17.000 tỷ đồng trong các ngày 4/5 và 5/5, trước khi giảm xuống còn 3.000 tỷ đồng trong ba phiên cuối tuần. Tính chung tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 43.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 37.169 tỷ đồng. Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO.

Động thái bơm thanh khoản mạnh hơn diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh hơn trong các phiên đầu tuần, đặc biệt lãi suất qua đêm có thời điểm vọt lên 7,05% trong phiên 5/5, từ mức thấp 3,88% trước kỳ nghỉ lễ.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường hỗ trợ thanh khoản, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Chốt ngày 7/5, lãi suất qua đêm giảm còn 5,72%, song vẫn cao hơn 1,84 điểm phần trăm so với trước nghỉ lễ. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm xuống 5,9%, thấp hơn 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần 6,48%, gần như không đổi so với trước nghỉ lễ. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,82% và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,42 điểm phần trăm lên 7,5%.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng tuần qua vẫn duy trì ổn định, với doanh số giao dịch bình quân quanh 750 - 800 nghìn tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng vẫn khá lớn trong bối cảnh áp lực thanh khoản tăng lên vào đầu tháng. Diễn biến này phản ánh việc Ngân hàng Nhà nước đã chủ động bơm thanh khoản, hỗ trợ kịp thời nhằm ổn định mặt bằng lãi suất và duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), nhìn chung, thanh khoản hệ thống đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng cuối tháng 3/2026, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn và lãi suất huy động hạ nhiệt nhưng mặt bằng lãi suất chưa giảm bền vững.

Theo nhóm phân tích, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, do nhập siêu mở rộng, lạm phát tăng và tỷ giá còn chịu nhiều áp lực sẽ khiến Ngân hàng Nhà nước thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ trong các tháng tới.

Quan sát từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, trên thị trường 1, bên cạnh chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất, một số thông tin đang tiếp tục hỗ trợ hạ nhiệt cho đà tăng lãi suất huy động, điển hình là dự thảo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN cho phép ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn). Qua đó, tạo dư địa cho vay về mặt kỹ thuật cho một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã thông qua kế hoạch tăng vốn trong mùa đại hội đồng cổ đông, giúp mở rộng nguồn vốn cho vay.

“Tuy nhiên, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh khi tuần qua không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất huy động ở vài kỳ hạn” - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, ngân hàng giảm mạnh chiều mua

Trong tuần qua từ ngày 4/5 - 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố biến động hẹp quanh 25.111 - 25.113 đồng. Chốt tuần ngày 8/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.112 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước đó và giảm 1 đồng trong tuần vừa qua.

Trong tuần, tỷ giá USD tự do giảm tới 290 đồng, mất mốc 26.500 đồng. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được giữ ổn định.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động hẹp và có xu hướng giảm nhẹ chiều bán, tương ứng diễn biến tỷ giá trung tâm; song giảm mạnh chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ngày 8/5 được niêm yết ở mức 26.087 VND/USD chiều mua vào và 26.367 VND/USD chiều bán ra, giảm lần lượt 21 đồng và 1 đồng so với phiên trước nghỉ lễ. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.117 - 26.367 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 31 đồng chiều mua vào và giảm 1 đồng chiều bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm rõ rệt hơn, hầu hết các phiên trong tuần đều ghi nhận xu hướng đi xuống. Chốt tuần, tỷ giá USD giao dịch quanh 26.450 - 26.500 VND/USD, giảm mạnh 130 đồng chiều mua và 120 đồng chiều bán so với phiên trước đó.

Thị trường tiền tệ tuần 4-8/5: USD tự do mất mốc 26.500 đồng, DXY suy yếu nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo sức mạnh đồng USD với rổ các đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,01 điểm, giảm 0,06%, cho thấy đồng bạc xanh suy yếu nhẹ. Đà tăng của đồng USD chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị sau khi Wall Street Journal đưa tin Iran chưa chấp nhận đề xuất của Mỹ liên quan đến việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột.

Trước biến động các ngoại tệ chủ chốt, tỷ giá EUR tại các ngân hàng thương mại trong nước nhích tăng. Theo đó, tại Vietcombank, tỷ giá EUR ở mức 30.074,41 - 31.659,92 VND/EUR, tăng 47,8 đồng chiều mua vào và tăng 26,4 đồng chiều bán ra so với phiên trước nghỉ lễ. Trong khi đó, BIDV niêm yết EUR ở mức 30.444 - 31.764 VND/EUR, tăng 66 đồng chiều mua vào và tăng 106 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá GBP cũng ghi nhận mức tăng khá mạnh. Vietcombank niêm yết GBP ở mức 34.758,23 - 36.233,69 VND/GBP, tăng 111,8 đồng chiều mua vào và tăng 89,2 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, GBP tăng lên 35.183 - 36.312 VND/GBP, tương ứng tăng 162 đồng chiều mua vào và tăng 213 đồng chiều bán ra.

Trong khi đó, tỷ giá CNY tại Vietcombank được niêm yết ở mức 3.768,73 - 3.928,71 VND/CNY, tăng mạnh 12,1 đồng chiều mua vào và tăng 9,6 đồng chiều bán ra. Tại BIDV, CNY ở mức 3.803 - 3.928 VND/CNY, tăng 11 đồng chiều mua vào và tăng 15 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

Tỷ giá ổn định hơn nhờ DXY suy yếu, nhưng sức ép vẫn còn lớn

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà suy giảm của chỉ số DXY, cùng với biện pháp can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong tháng 3/2026 đã giúp giảm đáng kể mức biến động của tỷ giá trong tháng 4/2026. Tỷ giá trung tâm chỉ tăng nhẹ 0,04% so với cuối tháng trước lên mức 25.113 VND/USD và giảm 0,04% so với đầu năm).

Dù vậy, vẫn còn những yếu tố gây áp lực tỷ giá. Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD khả năng tiếp tục neo cao khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài và giá dầu neo cao, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. Đáng chú ý, cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 4 tháng đầu năm 2026 đã nhập siêu 7,11 tỷ USD./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Nghệ An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Thái Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,070 ▼500K 13,770 ▼500K
Trang sức 99.99 13,080 ▼500K 13,780 ▼500K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17909 18183 18766
CAD 18353 18629 19248
CHF 32297 32680 33320
CNY 0 3842 3934
EUR 29777 29999 31075
GBP 34419 34810 35747
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14974 15567
SGD 19894 20176 20749
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26410
AUD 18124 18224 19154
CAD 18527 18627 19638
CHF 32585 32615 34193
CNY 3824.4 3849.4 3984.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29951 29981 31706
GBP 34740 34790 36548
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20053 20183 20914
THB 0 745 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 12000000 12000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80