Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
aa
Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới “Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Lãi suất liên ngân hàng vượt 6% giữa tuần, bơm mạnh “giải nhiệt” thanh khoản

Trong tuần qua từ ngày 20 - 24/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO), với tổng giá trị bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng, đảo chiều đáng kể so với mức hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng của tuần trước.

Theo đó, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO tăng mạnh lên 109.135 tỷ đồng tại các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Xét theo từng phiên, khối lượng phát hành tập trung cao vào đầu và giữa tuần, với mức 35.000 tỷ đồng ngày 21/4 và 30.969,73 tỷ đồng ngày 22/4. Quy mô lưu hành trên kênh OMO tăng lên 305.711,99 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4

Trong tuần qua, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ ở các kỳ hạn ngắn và biến động trái chiều ở kỳ hạn dài. Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng nhẹ khoảng 0,4 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, lên 4,38% ngày 23/4. Đáng chú ý, lãi suất liên ngân hàng qua đêm hai phiên giữa tuần ngày 21/4 và 22/4 biến động mạnh vượt 6%; đây cũng là thời điểm Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh phát hành trên kênh OMO, bơm ròng khoảng 30.000 tỷ đồng/phiên, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

“Dù lãi suất đã bắt đầu giảm nhưng chúng tôi cho rằng khó có thể trở về mức giữa năm 2025, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và tăng trưởng tín dụng 3 tháng 2026 cao hơn nhiều so với tăng trưởng huy động vốn” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trong khi kỳ hạn 1 tuần giảm khoảng 0,22 điểm phần trăm xuống 4,72%, kỳ hạn 2 tuần gần như đi ngang, giảm nhẹ khoảng 0,02 điểm phần trăm còn 6,43%.

Ở kỳ hạn dài hơn, lãi suất vẫn neo cao như kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ khoảng 0,07 điểm phần trăm lên 7,33%, trong khi kỳ hạn 3 tháng tăng khoảng 0,33 điểm phần trăm lên 7,9%.

Về doanh số giao dịch, thanh khoản toàn thị trường có xu hướng suy giảm rõ rệt, đặc biệt ở kỳ hạn qua đêm ngày 23/4 khi giảm mạnh khoảng 209.559 tỷ đồng so với tuần trước, xuống mức thấp trên 550.000 tỷ đồng. Ngược lại, một số kỳ hạn trung bình ghi nhận cải thiện, với kỳ hạn 2 tuần tăng mạnh khoảng 54.336 tỷ đồng, vượt 60.000 tỷ đồng ngày 23/4.

Theo quan sát của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, áp lực thanh khoản tạm thời hạ nhiệt sau giai đoạn kết thúc quý, tuy nhiên, các kỳ hạn 1 - 3 tháng còn neo cao do nguồn cân đối vốn trung hạn chưa được giải quyết hoàn toàn và xu hướng giảm lãi suất huy động mới chỉ ở giai đoạn đầu sau chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo ghi nhận của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), sau cuộc họp ngày 09/04, mặt bằng lãi suất trong quý II/2026 nhiều khả năng sẽ ghi nhận mức giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết đồng thuận giảm 0,5 - 1%/năm lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại. Cùng với việc Chính phủ phát đi tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản hệ thống, thông qua kênh OMO, hoán đổi ngoại tệ, và cho vay tái cấp vốn, lãi suất được kỳ vọng đã tạo đỉnh vào đầu quý II/2026 và sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn trong nửa sau 2026.

Tỷ giá USD nhích tăng trở lại, USD tự do tăng 70 đồng tuần qua

Ngày 24/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.113 đồng, tăng cao hơn nhiều phiên gần đây. Tính chung trong tuần từ ngày 20 - 24/4, tỷ giá USD có xu hướng tăng nhẹ trở lại sau nhịp điều chỉnh trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 11 đồng so với đầu tuần, lên mức 25.113 VND/USD, đảo chiều so với mức giảm 3 đồng của tuần trước đó.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD phổ biến quanh 26.670 - 26.700 VND/USD, tăng vọt 100 đồng cả hai chiều. Tính chung cả tuần, thị trường tự do biến động mạnh hơn đáng kể, tăng 70 đồng hai chiều, sau khi đã giảm sâu tới 200 đồng trong tuần liền trước. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu, đặc biệt ở khu vực tự do, dù mặt bằng chung đang dần ổn định trở lại.

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4

Tại các ngân hàng thương mại, trong tuần qua, tỷ giá USD tại Vietcombank tăng 11 đồng hai chiều, lên mức 26.108 - 26.368 VND/USD; tương tự tại BIDV, tỷ giá USD tăng 11 đồng, lên 26.138 - 26.368 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY hiện ở mức 98,67 điểm, giảm nhẹ 0,1%, cho thấy đồng USD nhìn chung vẫn trong trạng thái đi ngang với xu hướng suy yếu nhẹ. Diễn biến các cặp tỷ giá chính khá phân hóa, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8542, giảm 0,2%; USD/GBP ở mức 0,7409, giảm 0,23%; tỷ giá USD/JPY ở mức 159,54, giảm nhẹ 0,03%, phản ánh đà suy yếu tương đối của USD so với các đồng tiền chủ chốt. Ngược lại, tỷ giá USD/CNY tăng 0,15% lên 6,8363.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR ghi nhận xu hướng giảm mạnh khi tại Vietcombank giảm 195,6 - 205,9 đồng, xuống 30.017,75 - 31.600,24 VND/EUR; tại BIDV, tỷ giá EUR giảm sâu hơn 238 - 246 đồng, còn 30.326 - 31.616 VND/EUR.

Đối với GBP, tỷ giá tại Vietcombank giảm 73,3 - 76,4 đồng, xuống 34.607,64 - 36.076,67 VND/GBP; tại BIDV, GBP cũng giảm 101 - 104 đồng, còn 34.927 - 36.021 VND/GBP.

Tỷ giá JPY biến động nhẹ; tỷ giá CNY tiếp tục giảm nhẹ, đơn cử tại BIDV, tỷ giá CNY giảm 5 đồng, còn 3.790 - 3.912 VND/CNY.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, nhìn chung, tỷ giá USD/VND tiếp tục ổn định hơn với sự điều chỉnh đáng kể của tỷ giá tự do. Trong tuần này, DXY khả năng hồi phục trở lại sau đà giảm mạnh tuần trước và đàm phán Mỹ - Iran thất bại. Tỷ giá trong nước có thể chịu áp lực tăng nhẹ./.

Dự báo DXY suy yếu nửa cuối năm, tỷ giá USD/VND được “giải nhiệt”

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV đánh giá, bước sang nửa sau quý II/2026, mặc dù có thể xuất hiện một vài nhịp hồi phục đan xen, nhưng nhiều khả năng chỉ số DXY sẽ duy trì xu hướng giảm chủ đạo, nhờ (i) kịch bản hạ nhiệt của xung đột địa chính trị và giá dầu có xu hướng giảm dần; (ii) kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất thêm một lần, trong khi các ngân hàng trung ương lớn như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể chuyển sang chu kỳ tăng lãi suất trong phần còn lại của năm 2026.

Theo đó, áp lực tỷ giá USD/VND trong 2026 sẽ có phần hạ nhiệt so với 2025, với dự báo tăng 2,5 - 3% trong năm 2026 nhờ dự báo chỉ số DXY hạ nhiệt trong nửa cuối năm 2026, chênh lệch dương lãi suất VND - USD, nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ nâng hạng thị trường chứng khoán và dòng FDI công nghệ cao, cùng sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18598 18875 19454
CAD 18696 18974 19592
CHF 33003 33389 34045
CNY 0 3839 3931
EUR 30221 30495 31522
GBP 34798 35192 36130
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15914
SGD 20162 20445 20966
THB 728 792 845
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26168 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.73 163.02 171.98
GBP 35,087 35,182 36,213
AUD 18,792 18,860 19,475
CAD 18,912 18,973 19,571
CHF 33,371 33,475 34,294
SGD 20,324 20,387 21,083
CNY - 3,815 3,941
HKD 3,305 3,315 3,437
KRW 16.33 17.03 18.44
THB 778.75 788.37 839.83
NZD 15,320 15,462 15,839
SEK - 2,784 2,868
DKK - 4,070 4,192
NOK - 2,832 2,918
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,060.63
TWD 756.51 - 911.86
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26382
AUD 18750 18850 19773
CAD 18874 18974 19987
CHF 33307 33337 34920
CNY 3819.9 3844.9 3980.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30418 30448 32173
GBP 35142 35192 36953
HKD 0 3355 0
JPY 163.37 163.87 174.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15422 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20323 20453 21181
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80