Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
aa
Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới “Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Lãi suất liên ngân hàng vượt 6% giữa tuần, bơm mạnh “giải nhiệt” thanh khoản

Trong tuần qua từ ngày 20 - 24/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO), với tổng giá trị bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng, đảo chiều đáng kể so với mức hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng của tuần trước.

Theo đó, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO tăng mạnh lên 109.135 tỷ đồng tại các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Xét theo từng phiên, khối lượng phát hành tập trung cao vào đầu và giữa tuần, với mức 35.000 tỷ đồng ngày 21/4 và 30.969,73 tỷ đồng ngày 22/4. Quy mô lưu hành trên kênh OMO tăng lên 305.711,99 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4

Trong tuần qua, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ ở các kỳ hạn ngắn và biến động trái chiều ở kỳ hạn dài. Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng nhẹ khoảng 0,4 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, lên 4,38% ngày 23/4. Đáng chú ý, lãi suất liên ngân hàng qua đêm hai phiên giữa tuần ngày 21/4 và 22/4 biến động mạnh vượt 6%; đây cũng là thời điểm Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh phát hành trên kênh OMO, bơm ròng khoảng 30.000 tỷ đồng/phiên, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

“Dù lãi suất đã bắt đầu giảm nhưng chúng tôi cho rằng khó có thể trở về mức giữa năm 2025, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và tăng trưởng tín dụng 3 tháng 2026 cao hơn nhiều so với tăng trưởng huy động vốn” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trong khi kỳ hạn 1 tuần giảm khoảng 0,22 điểm phần trăm xuống 4,72%, kỳ hạn 2 tuần gần như đi ngang, giảm nhẹ khoảng 0,02 điểm phần trăm còn 6,43%.

Ở kỳ hạn dài hơn, lãi suất vẫn neo cao như kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ khoảng 0,07 điểm phần trăm lên 7,33%, trong khi kỳ hạn 3 tháng tăng khoảng 0,33 điểm phần trăm lên 7,9%.

Về doanh số giao dịch, thanh khoản toàn thị trường có xu hướng suy giảm rõ rệt, đặc biệt ở kỳ hạn qua đêm ngày 23/4 khi giảm mạnh khoảng 209.559 tỷ đồng so với tuần trước, xuống mức thấp trên 550.000 tỷ đồng. Ngược lại, một số kỳ hạn trung bình ghi nhận cải thiện, với kỳ hạn 2 tuần tăng mạnh khoảng 54.336 tỷ đồng, vượt 60.000 tỷ đồng ngày 23/4.

Theo quan sát của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, áp lực thanh khoản tạm thời hạ nhiệt sau giai đoạn kết thúc quý, tuy nhiên, các kỳ hạn 1 - 3 tháng còn neo cao do nguồn cân đối vốn trung hạn chưa được giải quyết hoàn toàn và xu hướng giảm lãi suất huy động mới chỉ ở giai đoạn đầu sau chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo ghi nhận của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), sau cuộc họp ngày 09/04, mặt bằng lãi suất trong quý II/2026 nhiều khả năng sẽ ghi nhận mức giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết đồng thuận giảm 0,5 - 1%/năm lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại. Cùng với việc Chính phủ phát đi tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản hệ thống, thông qua kênh OMO, hoán đổi ngoại tệ, và cho vay tái cấp vốn, lãi suất được kỳ vọng đã tạo đỉnh vào đầu quý II/2026 và sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn trong nửa sau 2026.

Tỷ giá USD nhích tăng trở lại, USD tự do tăng 70 đồng tuần qua

Ngày 24/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.113 đồng, tăng cao hơn nhiều phiên gần đây. Tính chung trong tuần từ ngày 20 - 24/4, tỷ giá USD có xu hướng tăng nhẹ trở lại sau nhịp điều chỉnh trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 11 đồng so với đầu tuần, lên mức 25.113 VND/USD, đảo chiều so với mức giảm 3 đồng của tuần trước đó.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD phổ biến quanh 26.670 - 26.700 VND/USD, tăng vọt 100 đồng cả hai chiều. Tính chung cả tuần, thị trường tự do biến động mạnh hơn đáng kể, tăng 70 đồng hai chiều, sau khi đã giảm sâu tới 200 đồng trong tuần liền trước. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu, đặc biệt ở khu vực tự do, dù mặt bằng chung đang dần ổn định trở lại.

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4

Tại các ngân hàng thương mại, trong tuần qua, tỷ giá USD tại Vietcombank tăng 11 đồng hai chiều, lên mức 26.108 - 26.368 VND/USD; tương tự tại BIDV, tỷ giá USD tăng 11 đồng, lên 26.138 - 26.368 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY hiện ở mức 98,67 điểm, giảm nhẹ 0,1%, cho thấy đồng USD nhìn chung vẫn trong trạng thái đi ngang với xu hướng suy yếu nhẹ. Diễn biến các cặp tỷ giá chính khá phân hóa, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8542, giảm 0,2%; USD/GBP ở mức 0,7409, giảm 0,23%; tỷ giá USD/JPY ở mức 159,54, giảm nhẹ 0,03%, phản ánh đà suy yếu tương đối của USD so với các đồng tiền chủ chốt. Ngược lại, tỷ giá USD/CNY tăng 0,15% lên 6,8363.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR ghi nhận xu hướng giảm mạnh khi tại Vietcombank giảm 195,6 - 205,9 đồng, xuống 30.017,75 - 31.600,24 VND/EUR; tại BIDV, tỷ giá EUR giảm sâu hơn 238 - 246 đồng, còn 30.326 - 31.616 VND/EUR.

Đối với GBP, tỷ giá tại Vietcombank giảm 73,3 - 76,4 đồng, xuống 34.607,64 - 36.076,67 VND/GBP; tại BIDV, GBP cũng giảm 101 - 104 đồng, còn 34.927 - 36.021 VND/GBP.

Tỷ giá JPY biến động nhẹ; tỷ giá CNY tiếp tục giảm nhẹ, đơn cử tại BIDV, tỷ giá CNY giảm 5 đồng, còn 3.790 - 3.912 VND/CNY.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, nhìn chung, tỷ giá USD/VND tiếp tục ổn định hơn với sự điều chỉnh đáng kể của tỷ giá tự do. Trong tuần này, DXY khả năng hồi phục trở lại sau đà giảm mạnh tuần trước và đàm phán Mỹ - Iran thất bại. Tỷ giá trong nước có thể chịu áp lực tăng nhẹ./.

Dự báo DXY suy yếu nửa cuối năm, tỷ giá USD/VND được “giải nhiệt”

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV đánh giá, bước sang nửa sau quý II/2026, mặc dù có thể xuất hiện một vài nhịp hồi phục đan xen, nhưng nhiều khả năng chỉ số DXY sẽ duy trì xu hướng giảm chủ đạo, nhờ (i) kịch bản hạ nhiệt của xung đột địa chính trị và giá dầu có xu hướng giảm dần; (ii) kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất thêm một lần, trong khi các ngân hàng trung ương lớn như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể chuyển sang chu kỳ tăng lãi suất trong phần còn lại của năm 2026.

Theo đó, áp lực tỷ giá USD/VND trong 2026 sẽ có phần hạ nhiệt so với 2025, với dự báo tăng 2,5 - 3% trong năm 2026 nhờ dự báo chỉ số DXY hạ nhiệt trong nửa cuối năm 2026, chênh lệch dương lãi suất VND - USD, nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ nâng hạng thị trường chứng khoán và dòng FDI công nghệ cao, cùng sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng từ 500.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa vàng miếng lên 143,9 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn lên cao nhất 143,5 triệu đồng/lượng.
MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

(TBTCO) - Sau nhiều năm chủ yếu chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn, MSB lần này dự kiến huy động trực tiếp 9.360 tỷ đồng từ cổ đông hiện hữu, thông qua chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng/cổ phiếu, trong khi thị giá kết phiên 16/10 cao hơn 48%. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng 50% so với đầu năm, lên 46.800 tỷ đồng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30