Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
aa

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra sáng 8/6, ông Đỗ Đức Thành - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc Agribank, đã trình bày tham luận với chủ đề: “Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đồng hành cùng Hội Nông dân Việt Nam thúc đẩy tín dụng xanh và chuyển đổi số trong nông nghiệp, góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại”.

Theo ông Đỗ Đức Thành, nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn giữ vị trí chiến lược trong sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh mới, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sinh thái, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, phát triển xanh và bền vững nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ông Đỗ Đức Thành - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc Agribank trình bày tham luận.

Ông Thành cho biết, thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, Agribank xác định đồng hành cùng người nông dân không chỉ là nhiệm vụ kinh doanh mà còn là trách nhiệm chính trị và sứ mệnh phát triển cộng đồng.

Là ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước, chủ lực đầu tư cho lĩnh vực “Tam nông”, Agribank hiện có hơn 2.200 điểm giao dịch và 68 điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng. Tổng nguồn vốn huy động đạt trên 2,5 triệu tỷ đồng, dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng, trong đó hơn 60% tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đây là nền tảng quan trọng để Agribank tiếp tục dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Agribank đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm.

Trước hết là thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân nông thôn. Theo ông Thành, chuyển đổi số không chỉ giúp hiện đại hóa hoạt động ngân hàng mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Agribank đã xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số với nhiều dịch vụ như mở tài khoản trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, Mobile Banking, chuyển tiền, tiết kiệm và cho vay trực tuyến, giúp người dân tiếp cận dịch vụ tài chính hiện đại với chi phí thấp, thuận tiện và minh bạch hơn.

Song song với đó, Agribank ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao và các mô hình sản xuất bền vững. Hiện ngân hàng có gần 39.000 khách hàng thuộc lĩnh vực tín dụng xanh với tổng dư nợ trên 28.000 tỷ đồng. Nguồn vốn được tập trung vào các dự án nông nghiệp sạch, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, liên kết sản xuất bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, qua đó tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Một trong những điểm nhấn nổi bật là sự phối hợp hiệu quả giữa Agribank và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng hệ sinh thái tài chính phục vụ nông nghiệp. Hiện hai bên đang triển khai gần 24.000 tổ vay vốn với khoảng 430.000 thành viên, tổng dư nợ đạt gần 77.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu dưới 0,4%. Mô hình này giúp hàng triệu hội viên tiếp cận nguồn vốn chính thức thuận lợi hơn, hạn chế tín dụng phi chính thức, góp phần phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.

Agribank cũng tích cực tham gia các đề án lớn của ngành nông nghiệp như phát triển vùng lúa chất lượng cao, vùng nguyên liệu đạt chuẩn và các chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản.

Bên cạnh đó, ngân hàng kiên định chiến lược phát triển ngân hàng xanh và tài chính bền vững thông qua việc từng bước tích hợp các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào hoạt động, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình, hướng tới các chuẩn mực tài chính xanh quốc tế và góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050.

Tuy nhiên, theo ông Đỗ Đức Thành, việc thúc đẩy tín dụng xanh và chuyển đổi số trong nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều thách thức như hành lang pháp lý chưa đồng bộ, nhu cầu vốn lớn trong khi rủi ro sản xuất cao, hạ tầng và kỹ năng số ở nông thôn còn hạn chế, liên kết chuỗi giá trị chưa thực sự bền vững.

Từ thực tiễn đó, Agribank kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính xanh và chuyển đổi số; phát triển hạ tầng số và logistics; mở rộng bảo hiểm nông nghiệp, cơ chế bảo lãnh tín dụng; tăng cường đào tạo kỹ năng số và kiến thức tài chính cho nông dân; đồng thời phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong kết nối, hỗ trợ hội viên.

Trong thời gian tới, Agribank cam kết tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho lĩnh vực “Tam nông”, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển tín dụng xanh và mở rộng hợp tác với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại.

“Agribank sẽ tiếp tục đồng hành cùng người nông dân không chỉ bằng nguồn vốn tín dụng mà còn bằng trách nhiệm, niềm tin và khát vọng chung vì một nền nông nghiệp Việt Nam xanh, bền vững và thịnh vượng”- ông Đỗ Đức Thành khẳng định.
Nam Khánh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

(TBTCO) - Ngày 8/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Công ty Quản lý và Kinh doanh Chợ Bình Điền chính thức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, hướng đến mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp cho thương nhân và hộ kinh doanh đang hoạt động tại chợ Bình Điền.
VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 10/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18151 18426 19005
CAD 18258 18534 19155
CHF 31354 31733 32377
CNY 0 3819 3915
EUR 29492 29713 30794
GBP 34251 34642 35590
HKD 0 3172 3375
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14807 15397
SGD 19940 20222 20794
THB 702 765 819
USD (1,2) 25640 0 0
USD (5,10,20) 25678 0 0
USD (50,100) 25706 25720 26090
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,578 29,602 31,008
JPY 164.42 164.72 174.72
GBP 34,524 34,617 35,811
AUD 18,408 18,475 19,176
CAD 18,470 18,529 19,214
CHF 31,671 31,769 32,702
SGD 20,081 20,143 20,932
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,238 3,248 3,384
KRW 17.88 18.65 20.28
THB 752.49 761.78 815.7
NZD 14,859 14,997 15,446
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,967 4,108
NOK - 2,769 2,867
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 743.58 - 900.93
SAR - 6,783.81 7,146.54
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25705 25705 26095
AUD 18332 18432 19357
CAD 18440 18540 19551
CHF 31563 31593 33183
CNY 3801.1 3826.1 3961.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29661 29691 31417
GBP 34553 34603 36363
HKD 0 3330 0
JPY 165.1 165.6 176.12
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14907 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20088 20218 20949
THB 0 731.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Cập nhật: 10/09/2026 01:30
Ngân hàng