Thu ngoài lãi dẫn nhịp, cho vay tiến sát kế hoạch, ABBank báo lãi tăng hơn 80%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 3.016 tỷ đồng, tăng 80,7% cùng kỳ, với động lực từ các nguồn thu ngoài lãi khiến tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm còn 35%. Trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 18,5%, tiến sát kế hoạch cả năm, ngân hàng đồng thời nâng vốn điều lệ vượt 16.000 tỷ đồng và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp.
aa

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng “lương khô” và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank - mã Ck: ABB) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Theo báo cáo tài chính do ABBank công bố, lợi nhuận trước thuế của ABBank trong quý II/2026 đạt 1.515,8 tỷ đồng, tăng 20,1% cùng kỳ, tương ứng tăng 253,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự bứt phá của các nguồn thu ngoài lãi và việc giảm mạnh chi phí dự phòng.

Cụ thể, thu nhập lãi thuần tăng nhẹ 3% lên 953,2 tỷ đồng. Trong khi đó, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng mạnh 93,3% lên 850,2 tỷ đồng; lãi từ mua bán chứng khoán đầu tư chuyển từ lỗ 0,5 tỷ đồng sang lãi 134,6 tỷ đồng, còn lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh chuyển từ lỗ 0,3 tỷ đồng sang lãi 5 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, lãi thuần từ hoạt động khác và kinh doanh ngoại hối đều suy giảm, đồng thời ngân hàng không còn ghi nhận thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần trong quý. Do vậy, tổng thu nhập hoạt động nhích nhẹ lên 2.414,1 tỷ đồng, trong khi chi phí hoạt động tăng 8,3% và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh 52,1%, qua đó giúp lợi nhuận trước thuế duy trì mức tăng trưởng hai chữ số.

Thu ngoài lãi dẫn nhịp, cho vay tiến sát kế hoạch, ABBank báo lãi tăng hơn 80%
Nguồn: ABBank.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận trước thuế của ABBank đạt 3.016,1 tỷ đồng, tăng 80,7%, tương ứng tăng 1.347,2 tỷ đồng so với cùng kỳ. Với con số này, ABBank đạt 67% kế hoạch cả năm lợi nhuận trước thuế 2026 (4.500 tỷ đồng). Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự bứt phá của các nguồn thu ngoài lãi.

Tính chung nửa đầu năm, tổng thu nhập hoạt động tăng 59,4% lên 5.491,8 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử hoạt động của nhà băng này. Dù chi phí hoạt động tăng 18,6% và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 28%, tốc độ tăng của nguồn thu vượt xa mức tăng chi phí, giúp ABBank ghi nhận mức tăng lợi nhuận mạnh 80,7% nửa đầu năm 2026.

Theo đó, thu nhập lãi thuần ABBank đạt 1.931,3 tỷ đồng, tăng 10,5%, nhưng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động giảm từ 47,4% xuống còn 35,2%, phản ánh cơ cấu nguồn thu chuyển dịch rõ nét sang các hoạt động phi tín dụng.

Nổi bật là lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 107,4% lên 1.263,3 tỷ đồng; lãi thuần từ hoạt động khác tăng 63,2% lên 1.741 tỷ đồng và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần tăng từ 18,6 tỷ đồng lên 259,3 tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Về quy mô hoạt động, tính đến cuối quý II/2026, tổng tài sản của ABBank đạt 260,56 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với đầu năm. Quy mô hoạt động tiếp tục mở rộng khi dư nợ cho vay khách hàng đạt 135 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5%, tiến sát mục tiêu 138.930 tỷ đồng được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Trong khi đó, tiền gửi khách hàng đạt 142,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6%, còn giá trị giấy tờ có giá giảm xuống 21.570 tỷ đồng, nỗ lực tối ưu cơ cấu nguồn vốn và tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm 2026.

Bên cạnh tăng trưởng lợi nhuận, chất lượng tài sản và năng lực an toàn vốn được coi là “điểm sáng” trong bức tranh tài chính của ABBank. Theo đó, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) duy trì trên 12%, cao hơn đáng kể so với mức tối thiểu 8% theo quy định.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ABBank duy trì ở mức 0,71% theo báo cáo tài chính được công bố, phản ánh chất lượng tài sản tiếp tục được kiểm soát tốt.

Về dư nợ xấu (nhóm 3 - 5) của ABBank ở mức 1.615 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng khoảng 68% so với đầu năm chủ yếu do tăng nợ dưới tiêu chuẩn, dù vậy, vẫn thấp hơn mức đỉnh trên 3.700 tỷ đồng cách đây hơn 1 năm, cho thấy chất lượng tài sản vẫn được cải thiện.

Để củng cố năng lực tài chính, ABBank vừa hoàn tất phát hành gần 209,6 triệu cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 15%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 13.972 tỷ đồng lên gần 16.068 tỷ đồng.

Việc tăng vốn không chỉ cải thiện hệ số an toàn vốn, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng mà còn tạo nguồn lực để ngân hàng đầu tư vào chuyển đổi số, nâng cao trải nghiệm khách hàng và phát triển mô hình ngân hàng bán lẻ. Đây cũng là bước đi đầu tiên trong lộ trình tăng vốn đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua tại kỳ họp tháng 4/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,840 ▲50K 14,540 ▲50K
Trang sức 99.99 13,850 ▲50K 14,550 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1292K 14,602 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1292K 14,603 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 ▼1278K 145 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 ▼1278K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 ▼1251K 143 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲121086K 141,584 ▲127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼300K 107,411 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86996K 974 ▼96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼244K 87,389 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼234K 83,527 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼167K 59,787 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cập nhật: 22/07/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18745
CAD 18161 18437 19052
CHF 31780 32161 32799
CNY 0 3848 3940
EUR 29421 29642 30717
GBP 34442 34833 35765
HKD 0 3229 3431
JPY 154 158 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15020 15610
SGD 19866 20148 20721
THB 695 758 812
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26157 26517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26515
AUD 18092 18192 19114
CAD 18319 18419 19430
CHF 31995 32025 33611
CNY 3829.9 3854.9 3990.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34745 34795 36556
HKD 0 3355 0
JPY 157.93 158.43 168.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19998 20128 20860
THB 0 724.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80