ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
aa
Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng “lương khô” và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa có Công văn số 5894/UBCK-QLCB ngày 25/6/2026 thông báo đã nhận đầy đủ tài liệu báo cáo phát hành cổ phiếu để trả cổ tức của Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank - mã Ck: ABB).

Theo Nghị quyết số 26/NQ-HĐQT.26 ngày 19/6/2026 được ABBank phát hành trước đó, ngân hàng dự kiến phát hành gần 209,6 triệu cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu với tỉ lệ 15%, tương ứng với tỷ lệ thực hiện quyền 100:15. Với tổng giá trị phát hành theo mệnh giá gần 2.096 tỷ đồng, vốn điều lệ ABBank tăng từ 13.972,1 tỷ đồng lên 16.068 tỷ đồng.

Ngay sau khi có thông báo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngân hàng xúc tiến triển khai đợt phát hành cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông. Thời gian thực hiện dự kiến trong nửa đầu tháng 7/2026 sau khi hoàn tất các thủ tục theo quy định của cơ quan quản lý.

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Nguồn vốn phát hành được sử dụng từ nguồn lợi nhuận lũy kế chưa phân phối của ABBank căn cứ báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán, bảo đảm đủ để trả cổ tức. Sau khi trích lập đầy đủ các quỹ, thực hiện phát hành cổ phiếu trả cổ tức và phát hành cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) dự kiến gần 161 tỷ đồng, lợi nhuận lũy kế chưa phân phối của ABBank vẫn còn gần 2.200 tỷ đồng.

Đây là bước đi đầu tiên trong kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm hơn 6.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng khoảng 43% so với vốn điều lệ hiện tại, đưa quy mô vốn của ngân hàng lên hơn 20.000 tỷ đồng nhằm phục vụ chiến lược phát triển dài hạn trong giai đoạn tới.

Việc triển khai trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% là hoạt động đầu tiên thuộc kế hoạch tăng vốn điều lệ toàn diện mà ABBank đã xây dựng từ đầu năm, gồm ba cấu phần triển khai tuần tự: trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15%, chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và phát hành cổ phiếu theo chương trình ESOP.

Ngoài việc trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% kể trên, ABBank còn dự kiến chào bán thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu tối đa 3.213,6 tỷ đồng.

Đồng thời, phát hành cổ phiếu cho cán bộ nhân viên ABBank theo chương trình ESOP tối đa 803,4 tỷ đồng. Trong đó, phát hành cổ phiếu bán cho cán bộ nhân viên tối đa 642,7 tỷ đồng và phát hành cổ phiếu thưởng tối đa 160,7 tỷ đồng từ nguồn lợi nhuận chưa phân phối.

Như vậy, ABBank dự kiến tăng vốn điều lệ thêm tối đa 6.112,8 tỷ đồng thông qua ba hình thức. Sau khi hoàn tất cả ba cấu phần, quy mô vốn của ngân hàng dự kiến lên hơn 20.000 tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Kế hoạch tăng vốn được triển khai trên nền tảng kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh mẽ. Lợi nhuận trước thuế quý I/2026 của ABBank tăng 260,9% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng 135,6% lên 3.077,7 tỷ đồng.

Động lực đến từ lãi thuần thu nhập khác gấp gần 8 lần cùng kỳ lên 1.354,6 tỷ đồng, ở mức cao trong nhiều quý và chỉ thấp hơn quý IV/2025 trước đó. Lãi từ góp vốn, mua cổ phần đạt 259,3 tỷ đồng, trong khi không phát sinh cùng kỳ; lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 155,2% và thu nhập lãi thuần tăng 17,5%.

Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 151,5% lên 855 tỷ đồng và chi phí hoạt động tăng 31,1%, mức tăng mạnh của các nguồn thu đã giúp lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng tăng 211,6%. Nhờ đó, lợi nhuận trước thuế của ABBank tăng vọt, lên mức cao kỷ lục trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.

Như vậy, kết thúc quý I/2026, ABBank hoàn thành khoảng 33% kế hoạch lợi nhuận cả năm chỉ sau một quý, mức tiến độ vượt trội so với bình quân ngành.

Về quy mô hoạt động, ABBank cho vay khách hàng đạt 117,3 nghìn tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu tổng tài sản 291 nghìn tỷ đồng, huy động khách hàng hơn 247 nghìn tỷ đồng và dư nợ tín dụng gần 139 nghìn tỷ đồng.

Đồng thời, ngân hàng phấn đấu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%, nâng tỷ lệ CASA và duy trì tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) dưới 70%.

Tính đến cuối quý I/2026, quy mô nợ xấu của ABBank giảm còn 962,5 tỷ đồng, giảm 3,5% so với cuối năm 2025. Sau khi tăng mạnh và đạt đỉnh 3.691,1 tỷ đồng vào năm 2024, nợ xấu của ngân hàng đã giảm đáng kể 73% trong năm 2025 và tiếp tục xu hướng đi xuống trong quý đầu năm 2026. Điều này phản ánh hiệu quả tích cực trong công tác xử lý, kiểm soát chất lượng tài sản và đưa tỷ lệ nợ xấu ABBank ở mức thấp so với toàn ngành.

Cùng với việc triển khai phương án trả cổ tức bằng cổ phiếu và nâng cao năng lực tài chính, ABBank đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển niêm yết cổ phiếu từ sàn UPCoM sang HOSE. Việc niêm yết trên HOSE sẽ nâng cao đáng kể tính minh bạch, mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước và cải thiện thanh khoản giao dịch cổ phiếu ABB./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 14,840
Kim TT/AVPL 14,300 14,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,680
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,900
Hà Nội - PNJ 143,200 146,900
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,900
Miền Tây - PNJ 143,200 146,900
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,900
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 14,840
Miếng SJC Nghệ An 14,540 14,840
Miếng SJC Thái Bình 14,540 14,840
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 14,842
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 14,843
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 1,479
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,459
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 144,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 109,586
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 99,372
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 89,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 85,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 60,996
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cập nhật: 14/07/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80