Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
aa

Tỷ lệ tín dụng/GDP ngày càng leo dốc và nỗi lo phía sau

Hệ thống ngân hàng vẫn là “mạch” dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, khiến tăng trưởng phụ thuộc lớn vào tín dụng. Điều này thể hiện rõ qua tỷ lệ tín dụng/GDP duy trì xu hướng tăng trong nhiều năm.

Theo số liệu Ngân hàng Thế giới (WB), tín dụng nội địa do các ngân hàng cung cấp tại Việt Nam tăng từ 18,5% GDP năm 1995 lên 35,3% năm 2000 và lần đầu vượt 100% vào năm 2009. Từ năm 2017 đến nay, tỷ lệ này liên tục duy trì trên 100% và đến năm 2025 đạt 145%, thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN.

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Fitch Ratings và tính toán của WB. Đồ họa: Ánh Tuyết

Năm 2026, tỷ lệ này có thể tiếp tục leo lên một nấc mới. Trong đánh giá mới đây, Fitch Ratings cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, thấp hơn thực hiện năm 2025 (19%). Tuy nhiên, Fitch Ratings dự đoán mục tiêu này sẽ được nâng vào cuối năm nay, tương tự năm 2025, để kích thích nền kinh tế trong bối cảnh khó khăn từ bên ngoài. Theo đó, tín dụng ngành ngân hàng có thể đẩy lên khoảng 155% GDP, gấp ba lần mức trung bình của các quốc gia được xếp hạng “BB” (52%).

Khi tỷ lệ này tiếp tục lên cao, áp lực cũng lớn dần, đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro kéo theo về tín dụng, thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn và củng cố năng lực vốn tự có.

Mở “van” tín dụng dựa trên bộ chỉ số an toàn từng ngân hàng

Trước mắt, bắt buộc phải có sự linh hoạt để sử dụng vốn trên thị trường tiền tệ, nhưng linh hoạt trên nền tảng không đánh mất sự thận trọng, không bỏ qua yếu tố rủi ro. Từ đó, có những bộ chỉ số khác nhau để điều tiết trong hệ thống ngân hàng, để “van” tín dụng vẫn chảy ra nền kinh tế, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, tỷ lệ được đánh giá tích cực khoảng 90 - 100% GDP. Trên 90%, chỉ số này được đánh giá, cảnh báo, song cũng tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia. Mức độ rủi ro còn phụ thuộc vào trình độ quản trị rủi ro, nền tảng của hệ thống ngân hàng, cũng như năng lực quản lý đã được chứng minh trong quá khứ.

"Khi các chỉ số cho thấy yếu tố rủi ro gia tăng, đây là vấn đề cần thận trọng và không thể xem nhẹ. Cần đánh giá đầy đủ các kịch bản có thể xảy ra, từ đó, chủ động xây dựng giải pháp” - ông Linh đánh giá.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính - Bất động sản Toàn Cầu cho biết, tỷ lệ này được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), WB, cũng như các tổ chức thế giới nhiều lần khuyến nghị.

Không chỉ ở quy mô tín dụng cao, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, rủi ro còn nằm ở sự chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Khoảng 40% tín dụng là các khoản vay trung và dài hạn, trong khi 70 - 80% nguồn vốn tài trợ cho các khoản vay này lại là vốn ngắn hạn, tạo ra sự mất cân đối kỳ hạn. Vì vậy, khi tỷ lệ tổng dư nợ trên GDP đã ở mức cao, rủi ro kỳ hạn càng trở thành vấn đề đáng lưu ý với hệ thống tài chính và ngân hàng.

“Cứ mỗi lần các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản là phải huy động vốn mới để lấp đầy thanh khoản. Mỗi lần như thế, rủi ro thanh khoản lại càng cao hơn và khó có thể duy trì lãi suất thấp” - ông Hiếu phân tích.

Nếu phải liên tục huy động nguồn vốn mới với lãi suất cao, chi phí vốn sẽ tăng, kéo theo áp lực tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay, khiến mặt bằng lãi suất khó duy trì ở mức thấp.

Vốn “quay” chậm, nợ xấu dềnh lên

Chuyên gia WB cũng nhấn mạnh, tín dụng tại Việt Nam đã tăng mạnh, trong bối cảnh vòng quay tiền tệ duy trì ở mức thấp 0,6 năm 2025, mức thấp nhất trong một thập kỷ qua. Tín dụng chưa được chảy hoàn toàn vào các hoạt động kinh tế sản xuất.

Một biểu hiện rõ nét là dòng tín dụng chảy mạnh vào bất động sản, góp phần đẩy giá tài sản lên cao, thay vì kích thích sản xuất. Tín dụng bất động sản tăng 42% năm 2025, gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống.

Theo chuyên gia WB, sự suy giảm của thị trường bất động sản có thể nhanh chóng chuyển hóa thành nợ xấu gia tăng. Các ngân hàng phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay bất động sản dài hạn cũng đối mặt với rủi ro lệch kỳ hạn.

Ngoài ra, các ngân hàng còn đứng trước bài toán về sự đánh đổi. Nợ xấu nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, lên 312.108,5 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị rủi ro.

Đánh giá những rủi ro đi kèm, TS. Châu Đình Linh cho rằng, ngân hàng hấp thụ rủi ro nhiều hơn rất nhiều so với chúng ta nghĩ.

Chẳng hạn, khi sử dụng vốn trung và dài hạn, có kỳ hạn 5 - 10 năm, để đầu tư máy móc, nhà xưởng, đất đai sẽ giúp kỳ hạn vốn khớp với vòng đời dự án, chủ động phương án trả nợ và giảm rủi ro.

“Nếu vay trong ngắn hạn, dòng tiền từ dự án chưa về những năm đầu, có khi từ năm thứ 3, năm thứ 4, lấy đâu trả nợ cho ngân hàng, từ đó, rủi ro tín dụng gia tăng” - ông Linh đặt vấn đề.

Nếu cơ cấu tài chính mất cân đối, nợ quá lớn so với vốn chủ sở hữu, đặc biệt phần lớn là nợ ngắn hạn từ ngân hàng, rủi ro sẽ gia tăng, đối với cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.

TS. Châu Đình Linh cho rằng, trước khi xảy ra nợ xấu cần có cơ chế kích hoạt cảnh báo sớm cho chuyện này, chứ không phải đợi xảy ra nợ xấu mới bắt đầu phân loại.

Dòng vốn vẫn tìm về “chỗ trũng”, yêu cầu “nắn” dòng tín dụng

Xét cơ cấu dòng vốn theo lĩnh vực nửa đầu năm, báo cáo từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, xét theo lĩnh vực, các lực đẩy chính cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 là dịch vụ tài chính (tăng 32,3% so với đầu năm, tăng 89% so với cùng kỳ), kinh doanh bất động sản (tăng 21% so với đầu năm, tăng 34% cùng kỳ). Cùng với đó, sản xuất tăng 11,6% so với đầu năm; xây dựng tăng 8,5%.

Ở chiều ngược lại, tín dụng nông nghiệp và khách sạn tăng chậm, lần lượt 1,6% và 4,8%.

“Mức độ tập trung cao vào bất động sản - xây dựng - dịch vụ tài chính, cùng việc tín dụng bán lẻ chưa phục hồi, vừa làm gia tăng áp lực huy động kỳ hạn trên 12 tháng, vừa là những điểm cần tiếp tục theo dõi trong các quý tới” - VDSC lưu ý.

Theo chuyên gia WB, để giảm thiểu rủi ro, hoạt động giám sát được siết chặt hơn, thông qua các quy định nghiêm ngặt hơn về giới hạn sở hữu ngân hàng, giới hạn cấp tín dụng với một khách hàng và các biện pháp định hướng tín dụng rời khỏi lĩnh vực bất động sản.

Để xử lý những mất cân đối này đi kèm với nỗ lực định hướng lại dòng tín dụng, hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng.

Dù vậy, theo TS. Châu Đình Linh, tín dụng vẫn sẽ chảy về chỗ “trũng”, chảy về nơi có nhu cầu vốn. Bên cạnh mục tiêu kinh doanh, ngân hàng thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua việc đồng hành, cam kết dành các gói tín dụng cho những đối tượng ưu tiên. Tuy nhiên, vẫn cần các chính sách khuyến khích phù hợp giúp ngân hàng thương mại “mặn mà” hơn với những lĩnh vực ưu tiên.

Trong bối cảnh các kênh vốn khác đang trên đà mở rộng, tỷ lệ tín dụng/GDP được dự báo vẫn duy trì xu hướng đi lên, song đà tăng kỳ vọng sẽ dần chậm lại khi vai trò cung ứng vốn được san sẻ nhiều hơn. Quan trọng hơn là điều hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực tạo ra giá trị cho nền kinh tế, chủ động kiểm soát các rủi ro đi kèm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 14,380
Miếng SJC Nghệ An 14,080 14,380
Miếng SJC Thái Bình 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,760 ▲70K 14,360 ▲70K
Trang sức 99.99 13,770 ▲70K 14,370 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,408 ▲3K 14,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,408 ▲3K 14,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,403 ▲1263K 1,433 ▲1290K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,403 ▲1263K 1,434 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 ▲1236K 1,418 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 ▲297K 140,396 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 ▲225K 106,511 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 ▲78126K 96,584 ▲86946K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 ▲183K 86,657 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 ▲175K 82,828 ▲175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 ▲126K 59,287 ▲126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Cập nhật: 12/08/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18746
CAD 18222 18498 19116
CHF 31519 31899 32542
CNY 0 3830 3940
EUR 29505 29726 30802
GBP 34480 34872 35800
HKD 0 3199 3401
JPY 157 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15013 15599
SGD 19855 20137 20713
THB 704 767 820
USD (1,2) 25862 0 0
USD (5,10,20) 25902 0 0
USD (50,100) 25930 25944 26310
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,553 29,577 30,978
JPY 159.49 159.78 169.42
GBP 34,654 34,748 35,942
AUD 18,110 18,175 18,868
CAD 18,410 18,469 19,152
CHF 31,791 31,890 32,835
SGD 19,983 20,045 20,831
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 751.3 760.58 814.32
NZD 15,014 15,153 15,604
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,705 2,801
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 732.39 - 886.69
SAR - 6,837.9 7,206.7
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,940 26,320
EUR 29,593 29,712 30,904
GBP 34,665 34,804 35,836
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,652 31,779 32,703
JPY 159.96 160.60 168.48
AUD 18,110 18,183 18,779
SGD 20,057 20,138 20,733
THB 768 771 807
CAD 18,426 18,500 19,090
NZD 15,106 15,651
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25950 25950 26310
AUD 18095 18195 19118
CAD 18409 18509 19525
CHF 31792 31822 33404
CNY 3813.1 3838.1 3973.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29699 29729 31454
GBP 34791 34841 36594
HKD 0 3355 0
JPY 160.4 160.9 171.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15136 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20023 20153 20874
THB 0 733.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14080000 14080000 14380000
SBJ 12500000 12500000 14380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,950 26,000 26,320
USD20 25,900 26,000 26,765
USD1 24,263 26,000 26,815
AUD 18,141 18,241 19,365
EUR 29,485 29,585 31,263
CAD 18,354 18,454 19,771
SGD 20,097 20,247 20,816
JPY 160.91 162.41 168.07
GBP 34,672 34,822 36,157
XAU 14,248,000 0 14,552,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/08/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80