Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn
Tỷ lệ tín dụng/GDP ngày càng leo dốc và nỗi lo phía sau
Hệ thống ngân hàng vẫn là “mạch” dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, khiến tăng trưởng phụ thuộc lớn vào tín dụng. Điều này thể hiện rõ qua tỷ lệ tín dụng/GDP duy trì xu hướng tăng trong nhiều năm.
Theo số liệu Ngân hàng Thế giới (WB), tín dụng nội địa do các ngân hàng cung cấp tại Việt Nam tăng từ 18,5% GDP năm 1995 lên 35,3% năm 2000 và lần đầu vượt 100% vào năm 2009. Từ năm 2017 đến nay, tỷ lệ này liên tục duy trì trên 100% và đến năm 2025 đạt 145%, thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN.
![]() |
| Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Fitch Ratings và tính toán của WB. Đồ họa: Ánh Tuyết |
Năm 2026, tỷ lệ này có thể tiếp tục leo lên một nấc mới. Trong đánh giá mới đây, Fitch Ratings cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, thấp hơn thực hiện năm 2025 (19%). Tuy nhiên, Fitch Ratings dự đoán mục tiêu này sẽ được nâng vào cuối năm nay, tương tự năm 2025, để kích thích nền kinh tế trong bối cảnh khó khăn từ bên ngoài. Theo đó, tín dụng ngành ngân hàng có thể đẩy lên khoảng 155% GDP, gấp ba lần mức trung bình của các quốc gia được xếp hạng “BB” (52%).
Khi tỷ lệ này tiếp tục lên cao, áp lực cũng lớn dần, đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro kéo theo về tín dụng, thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn và củng cố năng lực vốn tự có.
Mở “van” tín dụng dựa trên bộ chỉ số an toàn từng ngân hàngTrước mắt, bắt buộc phải có sự linh hoạt để sử dụng vốn trên thị trường tiền tệ, nhưng linh hoạt trên nền tảng không đánh mất sự thận trọng, không bỏ qua yếu tố rủi ro. Từ đó, có những bộ chỉ số khác nhau để điều tiết trong hệ thống ngân hàng, để “van” tín dụng vẫn chảy ra nền kinh tế, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh. TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
|
Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, tỷ lệ được đánh giá tích cực khoảng 90 - 100% GDP. Trên 90%, chỉ số này được đánh giá, cảnh báo, song cũng tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia. Mức độ rủi ro còn phụ thuộc vào trình độ quản trị rủi ro, nền tảng của hệ thống ngân hàng, cũng như năng lực quản lý đã được chứng minh trong quá khứ.
"Khi các chỉ số cho thấy yếu tố rủi ro gia tăng, đây là vấn đề cần thận trọng và không thể xem nhẹ. Cần đánh giá đầy đủ các kịch bản có thể xảy ra, từ đó, chủ động xây dựng giải pháp” - ông Linh đánh giá.
Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính - Bất động sản Toàn Cầu cho biết, tỷ lệ này được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), WB, cũng như các tổ chức thế giới nhiều lần khuyến nghị.
Không chỉ ở quy mô tín dụng cao, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, rủi ro còn nằm ở sự chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Khoảng 40% tín dụng là các khoản vay trung và dài hạn, trong khi 70 - 80% nguồn vốn tài trợ cho các khoản vay này lại là vốn ngắn hạn, tạo ra sự mất cân đối kỳ hạn. Vì vậy, khi tỷ lệ tổng dư nợ trên GDP đã ở mức cao, rủi ro kỳ hạn càng trở thành vấn đề đáng lưu ý với hệ thống tài chính và ngân hàng.
“Cứ mỗi lần các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản là phải huy động vốn mới để lấp đầy thanh khoản. Mỗi lần như thế, rủi ro thanh khoản lại càng cao hơn và khó có thể duy trì lãi suất thấp” - ông Hiếu phân tích.
Nếu phải liên tục huy động nguồn vốn mới với lãi suất cao, chi phí vốn sẽ tăng, kéo theo áp lực tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay, khiến mặt bằng lãi suất khó duy trì ở mức thấp.
Vốn “quay” chậm, nợ xấu dềnh lên
Chuyên gia WB cũng nhấn mạnh, tín dụng tại Việt Nam đã tăng mạnh, trong bối cảnh vòng quay tiền tệ duy trì ở mức thấp 0,6 năm 2025, mức thấp nhất trong một thập kỷ qua. Tín dụng chưa được chảy hoàn toàn vào các hoạt động kinh tế sản xuất.
Một biểu hiện rõ nét là dòng tín dụng chảy mạnh vào bất động sản, góp phần đẩy giá tài sản lên cao, thay vì kích thích sản xuất. Tín dụng bất động sản tăng 42% năm 2025, gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống.
Theo chuyên gia WB, sự suy giảm của thị trường bất động sản có thể nhanh chóng chuyển hóa thành nợ xấu gia tăng. Các ngân hàng phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay bất động sản dài hạn cũng đối mặt với rủi ro lệch kỳ hạn.
Ngoài ra, các ngân hàng còn đứng trước bài toán về sự đánh đổi. Nợ xấu nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, lên 312.108,5 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị rủi ro.
Đánh giá những rủi ro đi kèm, TS. Châu Đình Linh cho rằng, ngân hàng hấp thụ rủi ro nhiều hơn rất nhiều so với chúng ta nghĩ.
Chẳng hạn, khi sử dụng vốn trung và dài hạn, có kỳ hạn 5 - 10 năm, để đầu tư máy móc, nhà xưởng, đất đai sẽ giúp kỳ hạn vốn khớp với vòng đời dự án, chủ động phương án trả nợ và giảm rủi ro.
“Nếu vay trong ngắn hạn, dòng tiền từ dự án chưa về những năm đầu, có khi từ năm thứ 3, năm thứ 4, lấy đâu trả nợ cho ngân hàng, từ đó, rủi ro tín dụng gia tăng” - ông Linh đặt vấn đề.
Nếu cơ cấu tài chính mất cân đối, nợ quá lớn so với vốn chủ sở hữu, đặc biệt phần lớn là nợ ngắn hạn từ ngân hàng, rủi ro sẽ gia tăng, đối với cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.
TS. Châu Đình Linh cho rằng, trước khi xảy ra nợ xấu cần có cơ chế kích hoạt cảnh báo sớm cho chuyện này, chứ không phải đợi xảy ra nợ xấu mới bắt đầu phân loại.
Dòng vốn vẫn tìm về “chỗ trũng”, yêu cầu “nắn” dòng tín dụng
Xét cơ cấu dòng vốn theo lĩnh vực nửa đầu năm, báo cáo từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, xét theo lĩnh vực, các lực đẩy chính cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 là dịch vụ tài chính (tăng 32,3% so với đầu năm, tăng 89% so với cùng kỳ), kinh doanh bất động sản (tăng 21% so với đầu năm, tăng 34% cùng kỳ). Cùng với đó, sản xuất tăng 11,6% so với đầu năm; xây dựng tăng 8,5%.
Ở chiều ngược lại, tín dụng nông nghiệp và khách sạn tăng chậm, lần lượt 1,6% và 4,8%.
“Mức độ tập trung cao vào bất động sản - xây dựng - dịch vụ tài chính, cùng việc tín dụng bán lẻ chưa phục hồi, vừa làm gia tăng áp lực huy động kỳ hạn trên 12 tháng, vừa là những điểm cần tiếp tục theo dõi trong các quý tới” - VDSC lưu ý.
Theo chuyên gia WB, để giảm thiểu rủi ro, hoạt động giám sát được siết chặt hơn, thông qua các quy định nghiêm ngặt hơn về giới hạn sở hữu ngân hàng, giới hạn cấp tín dụng với một khách hàng và các biện pháp định hướng tín dụng rời khỏi lĩnh vực bất động sản.
Để xử lý những mất cân đối này đi kèm với nỗ lực định hướng lại dòng tín dụng, hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng.
Dù vậy, theo TS. Châu Đình Linh, tín dụng vẫn sẽ chảy về chỗ “trũng”, chảy về nơi có nhu cầu vốn. Bên cạnh mục tiêu kinh doanh, ngân hàng thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua việc đồng hành, cam kết dành các gói tín dụng cho những đối tượng ưu tiên. Tuy nhiên, vẫn cần các chính sách khuyến khích phù hợp giúp ngân hàng thương mại “mặn mà” hơn với những lĩnh vực ưu tiên.
Trong bối cảnh các kênh vốn khác đang trên đà mở rộng, tỷ lệ tín dụng/GDP được dự báo vẫn duy trì xu hướng đi lên, song đà tăng kỳ vọng sẽ dần chậm lại khi vai trò cung ứng vốn được san sẻ nhiều hơn. Quan trọng hơn là điều hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực tạo ra giá trị cho nền kinh tế, chủ động kiểm soát các rủi ro đi kèm.


