Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
aa

Tỷ lệ tín dụng/GDP ngày càng leo dốc và nỗi lo phía sau

Hệ thống ngân hàng vẫn là “mạch” dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, khiến tăng trưởng phụ thuộc lớn vào tín dụng. Điều này thể hiện rõ qua tỷ lệ tín dụng/GDP duy trì xu hướng tăng trong nhiều năm.

Theo số liệu Ngân hàng Thế giới (WB), tín dụng nội địa do các ngân hàng cung cấp tại Việt Nam tăng từ 18,5% GDP năm 1995 lên 35,3% năm 2000 và lần đầu vượt 100% vào năm 2009. Từ năm 2017 đến nay, tỷ lệ này liên tục duy trì trên 100% và đến năm 2025 đạt 145%, thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN.

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Fitch Ratings và tính toán của WB. Đồ họa: Ánh Tuyết

Năm 2026, tỷ lệ này có thể tiếp tục leo lên một nấc mới. Trong đánh giá mới đây, Fitch Ratings cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, thấp hơn thực hiện năm 2025 (19%). Tuy nhiên, Fitch Ratings dự đoán mục tiêu này sẽ được nâng vào cuối năm nay, tương tự năm 2025, để kích thích nền kinh tế trong bối cảnh khó khăn từ bên ngoài. Theo đó, tín dụng ngành ngân hàng có thể đẩy lên khoảng 155% GDP, gấp ba lần mức trung bình của các quốc gia được xếp hạng “BB” (52%).

Khi tỷ lệ này tiếp tục lên cao, áp lực cũng lớn dần, đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro kéo theo về tín dụng, thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn và củng cố năng lực vốn tự có.

Mở “van” tín dụng dựa trên bộ chỉ số an toàn từng ngân hàng

Trước mắt, bắt buộc phải có sự linh hoạt để sử dụng vốn trên thị trường tiền tệ, nhưng linh hoạt trên nền tảng không đánh mất sự thận trọng, không bỏ qua yếu tố rủi ro. Từ đó, có những bộ chỉ số khác nhau để điều tiết trong hệ thống ngân hàng, để “van” tín dụng vẫn chảy ra nền kinh tế, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, tỷ lệ được đánh giá tích cực khoảng 90 - 100% GDP. Trên 90%, chỉ số này được đánh giá, cảnh báo, song cũng tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia. Mức độ rủi ro còn phụ thuộc vào trình độ quản trị rủi ro, nền tảng của hệ thống ngân hàng, cũng như năng lực quản lý đã được chứng minh trong quá khứ.

"Khi các chỉ số cho thấy yếu tố rủi ro gia tăng, đây là vấn đề cần thận trọng và không thể xem nhẹ. Cần đánh giá đầy đủ các kịch bản có thể xảy ra, từ đó, chủ động xây dựng giải pháp” - ông Linh đánh giá.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính - Bất động sản Toàn Cầu cho biết, tỷ lệ này được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), WB, cũng như các tổ chức thế giới nhiều lần khuyến nghị.

Không chỉ ở quy mô tín dụng cao, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, rủi ro còn nằm ở sự chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Khoảng 40% tín dụng là các khoản vay trung và dài hạn, trong khi 70 - 80% nguồn vốn tài trợ cho các khoản vay này lại là vốn ngắn hạn, tạo ra sự mất cân đối kỳ hạn. Vì vậy, khi tỷ lệ tổng dư nợ trên GDP đã ở mức cao, rủi ro kỳ hạn càng trở thành vấn đề đáng lưu ý với hệ thống tài chính và ngân hàng.

“Cứ mỗi lần các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản là phải huy động vốn mới để lấp đầy thanh khoản. Mỗi lần như thế, rủi ro thanh khoản lại càng cao hơn và khó có thể duy trì lãi suất thấp” - ông Hiếu phân tích.

Nếu phải liên tục huy động nguồn vốn mới với lãi suất cao, chi phí vốn sẽ tăng, kéo theo áp lực tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay, khiến mặt bằng lãi suất khó duy trì ở mức thấp.

Vốn “quay” chậm, nợ xấu dềnh lên

Chuyên gia WB cũng nhấn mạnh, tín dụng tại Việt Nam đã tăng mạnh, trong bối cảnh vòng quay tiền tệ duy trì ở mức thấp 0,6 năm 2025, mức thấp nhất trong một thập kỷ qua. Tín dụng chưa được chảy hoàn toàn vào các hoạt động kinh tế sản xuất.

Một biểu hiện rõ nét là dòng tín dụng chảy mạnh vào bất động sản, góp phần đẩy giá tài sản lên cao, thay vì kích thích sản xuất. Tín dụng bất động sản tăng 42% năm 2025, gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống.

Theo chuyên gia WB, sự suy giảm của thị trường bất động sản có thể nhanh chóng chuyển hóa thành nợ xấu gia tăng. Các ngân hàng phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay bất động sản dài hạn cũng đối mặt với rủi ro lệch kỳ hạn.

Ngoài ra, các ngân hàng còn đứng trước bài toán về sự đánh đổi. Nợ xấu nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, lên 312.108,5 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị rủi ro.

Đánh giá những rủi ro đi kèm, TS. Châu Đình Linh cho rằng, ngân hàng hấp thụ rủi ro nhiều hơn rất nhiều so với chúng ta nghĩ.

Chẳng hạn, khi sử dụng vốn trung và dài hạn, có kỳ hạn 5 - 10 năm, để đầu tư máy móc, nhà xưởng, đất đai sẽ giúp kỳ hạn vốn khớp với vòng đời dự án, chủ động phương án trả nợ và giảm rủi ro.

“Nếu vay trong ngắn hạn, dòng tiền từ dự án chưa về những năm đầu, có khi từ năm thứ 3, năm thứ 4, lấy đâu trả nợ cho ngân hàng, từ đó, rủi ro tín dụng gia tăng” - ông Linh đặt vấn đề.

Nếu cơ cấu tài chính mất cân đối, nợ quá lớn so với vốn chủ sở hữu, đặc biệt phần lớn là nợ ngắn hạn từ ngân hàng, rủi ro sẽ gia tăng, đối với cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.

TS. Châu Đình Linh cho rằng, trước khi xảy ra nợ xấu cần có cơ chế kích hoạt cảnh báo sớm cho chuyện này, chứ không phải đợi xảy ra nợ xấu mới bắt đầu phân loại.

Dòng vốn vẫn tìm về “chỗ trũng”, yêu cầu “nắn” dòng tín dụng

Xét cơ cấu dòng vốn theo lĩnh vực nửa đầu năm, báo cáo từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, xét theo lĩnh vực, các lực đẩy chính cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 là dịch vụ tài chính (tăng 32,3% so với đầu năm, tăng 89% so với cùng kỳ), kinh doanh bất động sản (tăng 21% so với đầu năm, tăng 34% cùng kỳ). Cùng với đó, sản xuất tăng 11,6% so với đầu năm; xây dựng tăng 8,5%.

Ở chiều ngược lại, tín dụng nông nghiệp và khách sạn tăng chậm, lần lượt 1,6% và 4,8%.

“Mức độ tập trung cao vào bất động sản - xây dựng - dịch vụ tài chính, cùng việc tín dụng bán lẻ chưa phục hồi, vừa làm gia tăng áp lực huy động kỳ hạn trên 12 tháng, vừa là những điểm cần tiếp tục theo dõi trong các quý tới” - VDSC lưu ý.

Theo chuyên gia WB, để giảm thiểu rủi ro, hoạt động giám sát được siết chặt hơn, thông qua các quy định nghiêm ngặt hơn về giới hạn sở hữu ngân hàng, giới hạn cấp tín dụng với một khách hàng và các biện pháp định hướng tín dụng rời khỏi lĩnh vực bất động sản.

Để xử lý những mất cân đối này đi kèm với nỗ lực định hướng lại dòng tín dụng, hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng.

Dù vậy, theo TS. Châu Đình Linh, tín dụng vẫn sẽ chảy về chỗ “trũng”, chảy về nơi có nhu cầu vốn. Bên cạnh mục tiêu kinh doanh, ngân hàng thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua việc đồng hành, cam kết dành các gói tín dụng cho những đối tượng ưu tiên. Tuy nhiên, vẫn cần các chính sách khuyến khích phù hợp giúp ngân hàng thương mại “mặn mà” hơn với những lĩnh vực ưu tiên.

Trong bối cảnh các kênh vốn khác đang trên đà mở rộng, tỷ lệ tín dụng/GDP được dự báo vẫn duy trì xu hướng đi lên, song đà tăng kỳ vọng sẽ dần chậm lại khi vai trò cung ứng vốn được san sẻ nhiều hơn. Quan trọng hơn là điều hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực tạo ra giá trị cho nền kinh tế, chủ động kiểm soát các rủi ro đi kèm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

(TBTCO) - Ngày 05/9/2026, tiếp nối truyền thống đồng hành cùng thế hệ trẻ Việt Nam, Tập đoàn Bảo Việt tiến hành trao học bổng thường niên cho sinh viên xuất sắc năm học 2026 - 2027 của Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Hà Nội.
Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

(TBTCO) - Hướng tới cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng khó khăn, Tập đoàn Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp tại xã Đoài Dương, tỉnh Cao Bằng. Công trình không chỉ góp phần mang đến môi trường học tập khang trang, an toàn cho trẻ em vùng biên, mà còn nối dài chuỗi hoạt động đồng hành cùng thế hệ trẻ được Bảo Việt triển khai trên cả nước.
Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

(TBTCO) - Nguồn thu bảo hiểm khởi sắc trong nửa đầu năm, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhiều ngân hàng đầu tư, thành lập công ty bảo hiểm riêng để hoàn thiện “mảnh ghép” hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi, bên cạnh kênh hợp tác phân phối truyền thống.
Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên: Mở rộng bao phủ, tăng sức bảo vệ

Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên: Mở rộng bao phủ, tăng sức bảo vệ

(TBTCO) - Cùng với mở rộng diện bao phủ, Quỹ bảo hiểm y tế đã chi trả chi phí khám, chữa bệnh từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng cho nhiều học sinh, sinh viên, góp phần giảm đáng kể gánh nặng tài chính cho gia đình.
VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,100 147,600
Hà Nội - PNJ 144,100 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,100 147,600
Miền Tây - PNJ 144,100 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,100 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,100 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,460 14,810
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,460 14,810
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,460 14,810
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,120 14,720
Trang sức 99.99 14,130 14,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 07/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18231 18506 19083
CAD 18293 18569 19191
CHF 31533 31913 32561
CNY 0 3840 3936
EUR 29628 29849 30930
GBP 34429 34821 35759
HKD 0 3192 3395
JPY 160 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15012 15597
SGD 20025 20307 20884
THB 706 769 824
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Cập nhật: 07/09/2026 07:00
Ngân hàng