Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
aa
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Lãi suất bắt đầu “hạ nhịp”, nhưng đà giảm sâu còn gập ghềnh

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết cho thấy, lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện những nhịp hạ nhiệt tại một số ngân hàng và kỳ hạn. Động thái này diễn ra ngay trước cuộc làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng về lãi suất, tín dụng, tỷ giá và an toàn hệ thống vào ngày 12/8.

Trong nhóm khảo sát gần 50 ngân hàng, SeABank giảm đồng loạt 0,3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 - 24 tháng, đưa lãi suất về 4,45 - 5,45%/năm.

Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng xuống 4,2%/năm; trong khi BaoViet Bank giảm nhẹ kỳ hạn 24 tháng xuống 5,75%/năm.

Ở chiều ngược lại, LPBank có sự điều chỉnh phân hóa theo kỳ hạn. Đơn cử, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,1%/năm.

Ở chiều cho vay, một số ngân hàng chủ động giảm lãi suất để san sẻ với khách hàng. Đơn cử, từ ngày 11/8, NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Cách đây vài ngày, Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đáng chú ý, lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND trong chương trình được yêu cầu thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn của chính ngân hàng cho vay.

Trong bối cảnh tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, việc hạ chi phí đầu vào sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, song mức độ điều chỉnh còn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn và thanh khoản của từng ngân hàng.

Thực tế cho thấy, trong một tháng trở lại đây, lãi suất tại một số ngân hàng như Bac A Bank, VPBank, LPBank vẫn tăng. Đặc biệt, Standard Chartered ghi nhận mức tăng khá mạnh, từ 0,91 - 1 điểm phần trăm, ở các kỳ hạn khảo sát.

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất
Lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều. Ảnh minh họa.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đánh giá tích cực về gói tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mới ban hành.

Bà Ngân cho rằng, đây là công cụ dẫn vốn có mục tiêu, hướng vào động lực tăng trưởng cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm luôn chịu bất lợi trong tiếp cận vốn giá rẻ so với doanh nghiệp lớn hay dự án FDI.

Điểm tích cực trong chương trình này là cách thiết kế “tương đối” linh hoạt hơn ấn định một mức lãi suất cứng, giúp chính sách áp dụng được cho cả ngân hàng có chi phí vốn cao và thấp.

Dù vậy, điểm cần lưu ý là khi phải hạ lãi suất cho vay ở phân khúc ưu đãi trong khi chi phí huy động đầu vào chưa giảm tương ứng, các ngân hàng thường phải tối ưu hóa biên lợi nhuận ở các phân khúc khác để bảo đảm NIM (biên lãi ròng) chung.

“Đây là điểm Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi để đánh giá gói tín dụng có thực sự làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế hay không” - bà Ngân lưu ý.

Cùng quan điểm, theo TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần phải thẳng thắn nhìn nhận ngân hàng là đơn vị kinh doanh, nên dòng vốn sẽ tìm đến những nơi có nhu cầu và khả năng sinh lời, đủ để bảo đảm trả nợ gốc, lãi, qua đó hạn chế rủi ro tín dụng.

Ông Linh cho rằng, lời kêu gọi từ cơ quan quản lý là phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu hay sự tự nguyện của các ngân hàng, mà cần gắn với trách nhiệm xã hội và những giải pháp hỗ trợ thực chất, khuyến khích để ngân hàng tích cực hơn trong việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên.

Lãi suất muốn giảm bền, phải gỡ từ “gốc”

Đánh giá về tín hiệu hạ lãi suất tại một số ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhìn nhận, đây là động thái khá rõ ràng từ các ngân hàng, song chủ yếu đến từ hiệu ứng định hướng chính sách.

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất

“Bài học từ tháng 4/2026, khi 46 ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất “nóng” trở lại chỉ sau thời gian ngắn cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề gốc rễ, các đợt giảm lãi suất mang tính hưởng ứng chính sách rất dễ đảo ngược” - PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân nêu góc nhìn.

Đề cập gốc rễ của áp lực tăng lãi suất, bà Ngân chỉ rõ 4 vấn đề.

Thứ nhất, chênh lệch cung - cầu vốn ở quy mô lớn. Hiện nay, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi toàn hệ thống khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) của hệ thống đã áp sát ngưỡng an toàn.

Điều này khiến các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lãi suất để giữ vốn, kể cả các ngân hàng nhóm quy mô lớn, như trường hợp một ngân hàng “big 4” tăng lãi suất huy động online kỳ hạn 12 tháng lên tới 7,4%/năm, là lần tăng thứ hai chỉ trong tháng 6/2026.

Thứ hai, nguyên nhân không chỉ nằm ở thanh khoản, mà còn ở thay đổi hành vi tiết kiệm của người dân, khi lãi suất thấp kéo dài giai đoạn trước.

Thứ ba, áp lực lạm phát và lãi suất thực dương. “Khi lạm phát cao, người gửi tiền yêu cầu lãi suất thực dương đủ hấp dẫn, nếu không, tiền đồng sẽ mất sức cạnh tranh so với vàng hay ngoại tệ. Đây là lý do lãi suất khó giảm mạnh bằng công cụ hành chính trong khi lạm phát chưa hạ nhiệt rõ rệt chỉ tạo ra hiệu ứng ngắn hạn” - bà Ngân lý giải.

Thứ tư, nguyên nhân mang tính cấu trúc dài hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng (bank-based economy), trong khi kênh vốn trung - dài hạn chưa phát triển tương xứng.

Đáng chú ý, việc tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ LDR được đánh giá có thể tạo thêm dư địa thanh khoản, nhưng tác động sẽ phân hóa khi nguồn tiền gửi tập trung lớn ở nhóm “big 4”, vốn nắm khoảng 50% huy động toàn hệ thống. Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% tiếp tục mở thêm dư địa sử dụng vốn, qua đó giảm bớt sức ép huy động.

“Dư địa giảm lãi suất huy động thời gian tới là có, nhưng không lớn và không đồng đều, sẽ rõ hơn ở “big 4” và các kỳ hạn ngắn, còn lãi suất kỳ hạn dài (12 tháng trở lên) khó giảm sâu, khi nhu cầu vốn cuối năm tăng theo mùa vụ tín dụng” - PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhận định.

Còn theo TS. Châu Đình Linh, việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn như LDR hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn theo hướng nới hơn cho thấy sự “đảo chiều” so với định hướng chính sách trước đây. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra trong một bối cảnh khác và vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của nhà điều hành.

“Nếu áp lực đầu ra được giảm bớt, sức ép huy động đầu vào cũng có thể hạ nhiệt. Cùng với việc điều tiết thanh khoản linh hoạt qua thị trường mở (OMO), áp lực huy động vốn có thể được giải tỏa thêm, từ đó, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất dần tìm hướng giảm trong thời gian tới” - ông Linh kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,690 ▼30K 14,290 ▼30K
Trang sức 99.99 13,700 ▼30K 14,300 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1239K 1,415 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼594K 140,099 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼450K 106,286 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼78330K 9,638 ▼87150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▲68970K 86,474 ▲77790K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼350K 82,653 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▼251K 59,161 ▼251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 11/08/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,961 26,011 26,320
USD20 25,911 26,011 26,741
USD1 25,861 26,011 26,791
AUD 18,128 18,228 19,332
EUR 29,492 29,592 31,251
CAD 18,345 18,445 19,752
SGD 20,096 20,246 20,800
JPY 161.04 162.54 168.07
GBP 34,672 34,822 35,889
XAU 14,248,000 0 14,552,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80