Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều
Lãi suất bắt đầu “hạ nhịp”, nhưng đà giảm sâu còn gập ghềnh
Khảo sát biểu lãi suất niêm yết cho thấy, lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện những nhịp hạ nhiệt tại một số ngân hàng và kỳ hạn. Động thái này diễn ra ngay trước cuộc làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng về lãi suất, tín dụng, tỷ giá và an toàn hệ thống vào ngày 12/8.
Trong nhóm khảo sát gần 50 ngân hàng, SeABank giảm đồng loạt 0,3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 - 24 tháng, đưa lãi suất về 4,45 - 5,45%/năm.
Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng xuống 4,2%/năm; trong khi BaoViet Bank giảm nhẹ kỳ hạn 24 tháng xuống 5,75%/năm.
Ở chiều ngược lại, LPBank có sự điều chỉnh phân hóa theo kỳ hạn. Đơn cử, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,1%/năm.
Ở chiều cho vay, một số ngân hàng chủ động giảm lãi suất để san sẻ với khách hàng. Đơn cử, từ ngày 11/8, NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.
Cách đây vài ngày, Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đáng chú ý, lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND trong chương trình được yêu cầu thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn của chính ngân hàng cho vay.
Trong bối cảnh tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, việc hạ chi phí đầu vào sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, song mức độ điều chỉnh còn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn và thanh khoản của từng ngân hàng.
Thực tế cho thấy, trong một tháng trở lại đây, lãi suất tại một số ngân hàng như Bac A Bank, VPBank, LPBank vẫn tăng. Đặc biệt, Standard Chartered ghi nhận mức tăng khá mạnh, từ 0,91 - 1 điểm phần trăm, ở các kỳ hạn khảo sát.
![]() |
| Lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều. Ảnh minh họa. |
Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đánh giá tích cực về gói tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mới ban hành.
Bà Ngân cho rằng, đây là công cụ dẫn vốn có mục tiêu, hướng vào động lực tăng trưởng cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm luôn chịu bất lợi trong tiếp cận vốn giá rẻ so với doanh nghiệp lớn hay dự án FDI.
Điểm tích cực trong chương trình này là cách thiết kế “tương đối” linh hoạt hơn ấn định một mức lãi suất cứng, giúp chính sách áp dụng được cho cả ngân hàng có chi phí vốn cao và thấp.
Dù vậy, điểm cần lưu ý là khi phải hạ lãi suất cho vay ở phân khúc ưu đãi trong khi chi phí huy động đầu vào chưa giảm tương ứng, các ngân hàng thường phải tối ưu hóa biên lợi nhuận ở các phân khúc khác để bảo đảm NIM (biên lãi ròng) chung.
“Đây là điểm Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi để đánh giá gói tín dụng có thực sự làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế hay không” - bà Ngân lưu ý.
Cùng quan điểm, theo TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần phải thẳng thắn nhìn nhận ngân hàng là đơn vị kinh doanh, nên dòng vốn sẽ tìm đến những nơi có nhu cầu và khả năng sinh lời, đủ để bảo đảm trả nợ gốc, lãi, qua đó hạn chế rủi ro tín dụng.
Ông Linh cho rằng, lời kêu gọi từ cơ quan quản lý là phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu hay sự tự nguyện của các ngân hàng, mà cần gắn với trách nhiệm xã hội và những giải pháp hỗ trợ thực chất, khuyến khích để ngân hàng tích cực hơn trong việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên.
Lãi suất muốn giảm bền, phải gỡ từ “gốc”
Đánh giá về tín hiệu hạ lãi suất tại một số ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhìn nhận, đây là động thái khá rõ ràng từ các ngân hàng, song chủ yếu đến từ hiệu ứng định hướng chính sách.
“Bài học từ tháng 4/2026, khi 46 ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất “nóng” trở lại chỉ sau thời gian ngắn cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề gốc rễ, các đợt giảm lãi suất mang tính hưởng ứng chính sách rất dễ đảo ngược” - PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân nêu góc nhìn. |
Đề cập gốc rễ của áp lực tăng lãi suất, bà Ngân chỉ rõ 4 vấn đề.
Thứ nhất, chênh lệch cung - cầu vốn ở quy mô lớn. Hiện nay, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi toàn hệ thống khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) của hệ thống đã áp sát ngưỡng an toàn.
Điều này khiến các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lãi suất để giữ vốn, kể cả các ngân hàng nhóm quy mô lớn, như trường hợp một ngân hàng “big 4” tăng lãi suất huy động online kỳ hạn 12 tháng lên tới 7,4%/năm, là lần tăng thứ hai chỉ trong tháng 6/2026.
Thứ hai, nguyên nhân không chỉ nằm ở thanh khoản, mà còn ở thay đổi hành vi tiết kiệm của người dân, khi lãi suất thấp kéo dài giai đoạn trước.
Thứ ba, áp lực lạm phát và lãi suất thực dương. “Khi lạm phát cao, người gửi tiền yêu cầu lãi suất thực dương đủ hấp dẫn, nếu không, tiền đồng sẽ mất sức cạnh tranh so với vàng hay ngoại tệ. Đây là lý do lãi suất khó giảm mạnh bằng công cụ hành chính trong khi lạm phát chưa hạ nhiệt rõ rệt chỉ tạo ra hiệu ứng ngắn hạn” - bà Ngân lý giải.
Thứ tư, nguyên nhân mang tính cấu trúc dài hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng (bank-based economy), trong khi kênh vốn trung - dài hạn chưa phát triển tương xứng.
Đáng chú ý, việc tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ LDR được đánh giá có thể tạo thêm dư địa thanh khoản, nhưng tác động sẽ phân hóa khi nguồn tiền gửi tập trung lớn ở nhóm “big 4”, vốn nắm khoảng 50% huy động toàn hệ thống. Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% tiếp tục mở thêm dư địa sử dụng vốn, qua đó giảm bớt sức ép huy động.
“Dư địa giảm lãi suất huy động thời gian tới là có, nhưng không lớn và không đồng đều, sẽ rõ hơn ở “big 4” và các kỳ hạn ngắn, còn lãi suất kỳ hạn dài (12 tháng trở lên) khó giảm sâu, khi nhu cầu vốn cuối năm tăng theo mùa vụ tín dụng” - PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhận định.
Còn theo TS. Châu Đình Linh, việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn như LDR hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn theo hướng nới hơn cho thấy sự “đảo chiều” so với định hướng chính sách trước đây. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra trong một bối cảnh khác và vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của nhà điều hành.
“Nếu áp lực đầu ra được giảm bớt, sức ép huy động đầu vào cũng có thể hạ nhiệt. Cùng với việc điều tiết thanh khoản linh hoạt qua thị trường mở (OMO), áp lực huy động vốn có thể được giải tỏa thêm, từ đó, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất dần tìm hướng giảm trong thời gian tới” - ông Linh kỳ vọng./.



