Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
aa
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Lãi suất bắt đầu “hạ nhịp”, nhưng đà giảm sâu còn gập ghềnh

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết cho thấy, lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện những nhịp hạ nhiệt tại một số ngân hàng và kỳ hạn. Động thái này diễn ra ngay trước cuộc làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng về lãi suất, tín dụng, tỷ giá và an toàn hệ thống vào ngày 12/8.

Trong nhóm khảo sát gần 50 ngân hàng, SeABank giảm đồng loạt 0,3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 - 24 tháng, đưa lãi suất về 4,45 - 5,45%/năm.

Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng xuống 4,2%/năm; trong khi BaoViet Bank giảm nhẹ kỳ hạn 24 tháng xuống 5,75%/năm.

Ở chiều ngược lại, LPBank có sự điều chỉnh phân hóa theo kỳ hạn. Đơn cử, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,1%/năm.

Ở chiều cho vay, một số ngân hàng chủ động giảm lãi suất để san sẻ với khách hàng. Đơn cử, từ ngày 11/8, NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Cách đây vài ngày, Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đáng chú ý, lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND trong chương trình được yêu cầu thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn của chính ngân hàng cho vay.

Trong bối cảnh tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, việc hạ chi phí đầu vào sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, song mức độ điều chỉnh còn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn và thanh khoản của từng ngân hàng.

Thực tế cho thấy, trong một tháng trở lại đây, lãi suất tại một số ngân hàng như Bac A Bank, VPBank, LPBank vẫn tăng. Đặc biệt, Standard Chartered ghi nhận mức tăng khá mạnh, từ 0,91 - 1 điểm phần trăm, ở các kỳ hạn khảo sát.

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất
Lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều. Ảnh minh họa.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đánh giá tích cực về gói tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mới ban hành.

Bà Ngân cho rằng, đây là công cụ dẫn vốn có mục tiêu, hướng vào động lực tăng trưởng cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm luôn chịu bất lợi trong tiếp cận vốn giá rẻ so với doanh nghiệp lớn hay dự án FDI.

Điểm tích cực trong chương trình này là cách thiết kế “tương đối” linh hoạt hơn ấn định một mức lãi suất cứng, giúp chính sách áp dụng được cho cả ngân hàng có chi phí vốn cao và thấp.

Dù vậy, điểm cần lưu ý là khi phải hạ lãi suất cho vay ở phân khúc ưu đãi trong khi chi phí huy động đầu vào chưa giảm tương ứng, các ngân hàng thường phải tối ưu hóa biên lợi nhuận ở các phân khúc khác để bảo đảm NIM (biên lãi ròng) chung.

“Đây là điểm Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi để đánh giá gói tín dụng có thực sự làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế hay không” - bà Ngân lưu ý.

Cùng quan điểm, theo TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần phải thẳng thắn nhìn nhận ngân hàng là đơn vị kinh doanh, nên dòng vốn sẽ tìm đến những nơi có nhu cầu và khả năng sinh lời, đủ để bảo đảm trả nợ gốc, lãi, qua đó hạn chế rủi ro tín dụng.

Ông Linh cho rằng, lời kêu gọi từ cơ quan quản lý là phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu hay sự tự nguyện của các ngân hàng, mà cần gắn với trách nhiệm xã hội và những giải pháp hỗ trợ thực chất, khuyến khích để ngân hàng tích cực hơn trong việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên.

Lãi suất muốn giảm bền, phải gỡ từ “gốc”

Đánh giá về tín hiệu hạ lãi suất tại một số ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhìn nhận, đây là động thái khá rõ ràng từ các ngân hàng, song chủ yếu đến từ hiệu ứng định hướng chính sách.

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất

“Bài học từ tháng 4/2026, khi 46 ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất “nóng” trở lại chỉ sau thời gian ngắn cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề gốc rễ, các đợt giảm lãi suất mang tính hưởng ứng chính sách rất dễ đảo ngược” - PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân nêu góc nhìn.

Đề cập gốc rễ của áp lực tăng lãi suất, bà Ngân chỉ rõ 4 vấn đề.

Thứ nhất, chênh lệch cung - cầu vốn ở quy mô lớn. Hiện nay, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi toàn hệ thống khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) của hệ thống đã áp sát ngưỡng an toàn.

Điều này khiến các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lãi suất để giữ vốn, kể cả các ngân hàng nhóm quy mô lớn, như trường hợp một ngân hàng “big 4” tăng lãi suất huy động online kỳ hạn 12 tháng lên tới 7,4%/năm, là lần tăng thứ hai chỉ trong tháng 6/2026.

Thứ hai, nguyên nhân không chỉ nằm ở thanh khoản, mà còn ở thay đổi hành vi tiết kiệm của người dân, khi lãi suất thấp kéo dài giai đoạn trước.

Thứ ba, áp lực lạm phát và lãi suất thực dương. “Khi lạm phát cao, người gửi tiền yêu cầu lãi suất thực dương đủ hấp dẫn, nếu không, tiền đồng sẽ mất sức cạnh tranh so với vàng hay ngoại tệ. Đây là lý do lãi suất khó giảm mạnh bằng công cụ hành chính trong khi lạm phát chưa hạ nhiệt rõ rệt chỉ tạo ra hiệu ứng ngắn hạn” - bà Ngân lý giải.

Thứ tư, nguyên nhân mang tính cấu trúc dài hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng (bank-based economy), trong khi kênh vốn trung - dài hạn chưa phát triển tương xứng.

Đáng chú ý, việc tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ LDR được đánh giá có thể tạo thêm dư địa thanh khoản, nhưng tác động sẽ phân hóa khi nguồn tiền gửi tập trung lớn ở nhóm “big 4”, vốn nắm khoảng 50% huy động toàn hệ thống. Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% tiếp tục mở thêm dư địa sử dụng vốn, qua đó giảm bớt sức ép huy động.

“Dư địa giảm lãi suất huy động thời gian tới là có, nhưng không lớn và không đồng đều, sẽ rõ hơn ở “big 4” và các kỳ hạn ngắn, còn lãi suất kỳ hạn dài (12 tháng trở lên) khó giảm sâu, khi nhu cầu vốn cuối năm tăng theo mùa vụ tín dụng” - PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhận định.

Còn theo TS. Châu Đình Linh, việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn như LDR hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn theo hướng nới hơn cho thấy sự “đảo chiều” so với định hướng chính sách trước đây. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra trong một bối cảnh khác và vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của nhà điều hành.

“Nếu áp lực đầu ra được giảm bớt, sức ép huy động đầu vào cũng có thể hạ nhiệt. Cùng với việc điều tiết thanh khoản linh hoạt qua thị trường mở (OMO), áp lực huy động vốn có thể được giải tỏa thêm, từ đó, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất dần tìm hướng giảm trong thời gian tới” - ông Linh kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1255K 14,202 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1255K 14,203 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▼4K 1,415 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▼4K 1,416 ▲1274K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 136 ▼1228K 1,405 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▼396K 139,109 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▼300K 105,536 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼85313K 957 ▼95015K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▼244K 85,864 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼65276K 8,207 ▼74096K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▼167K 58,744 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Cập nhật: 29/09/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17694 17967 18540
CAD 17774 18048 18664
CHF 30519 30895 31536
CNY 0 3831 3926
EUR 28874 29092 30171
GBP 33576 33964 34899
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14965
SGD 19772 20054 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25708 0 0
USD (5,10,20) 25747 0 0
USD (50,100) 25775 25789 26155
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,950 28,973 30,345
JPY 160.63 160.92 170.65
GBP 33,794 33,885 35,063
AUD 17,877 17,942 18,628
CAD 17,977 18,035 18,699
CHF 30,817 30,913 31,847
SGD 19,909 19,971 20,754
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.61 18.36 19.98
THB 736.96 746.06 798.83
NZD 14,380 14,514 14,948
SEK - 2,562 2,653
DKK - 3,883 4,020
NOK - 2,675 2,771
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,945.89 - 6,714.59
TWD 736.8 - 892.67
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26160
AUD 17856 17956 18878
CAD 17959 18059 19074
CHF 30796 30826 32400
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29063 29093 30819
GBP 33893 33943 35704
HKD 0 3315 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14494 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19940 20070 20795
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14320000
SBJ 12000000 12000000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,676 25,796 26,170
USD20 25,646 25,796 26,170
USD1 25,626 25,796 26,170
AUD 17,902 18,002 19,121
EUR 28,868 28,968 30,645
CAD 17,913 18,013 19,330
SGD 20,018 20,168 20,736
JPY 161.99 163.49 169.15
GBP 33,800 33,950 35,286
XAU 13,938,000 0 14,242,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30