Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026 Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Nhiều “chiêu” cộng lãi, cộng thưởng, nâng lãi suất lên sát 12%/năm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết gần 50 ngân hàng ngày 13/7 cho thấy, ở kỳ hạn 6 tháng - một trong những kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, BacABank dẫn đầu với 7,05%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với đầu tháng 6.

Đứng thứ hai trong nhóm ngân hàng được khảo sát là Hong Leong với 6,8%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với đầu tháng 6 và giảm 0,8 điểm phần trăm so với thời điểm 9/4, khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất huy động.

Nhóm ngân hàng công bố lãi suất 6,4 - 6,6%/năm với kỳ hạn 6 tháng gồm: PGBank (6,6%), MBV và VCBNeo (6,5%), BVBank (6,45%), Saigonbank và OCB (6,4%).

Ở kỳ hạn 24 tháng, MBV và MB đang dẫn đầu với 7%/năm; BacABank lọt top 2 nhóm khảo sát khi đẩy lãi suất lên 6,95%/năm. Nhóm “big 4”, gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank, cùng niêm yết lãi suất 6%/năm. Đây cũng là kỳ hạn duy nhất ghi nhận cả 4 ngân hàng này đồng loạt giảm 0,5 điểm phần trăm sau chỉ đạo hạ lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Dù vậy, mức lãi suất hiện vẫn cao hơn 1,2 - 1,3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Dù lãi suất niêm yết cao nhất ở các kỳ hạn nhìn chung chỉ quanh 7%/năm, thị trường vẫn diễn ra “cuộc đua ngầm” huy động vốn. Thay vì công khai điều chỉnh biểu lãi suất, một số ngân hàng áp dụng lãi suất thỏa thuận riêng, với mức lãi suất thực nhận có thể lên tới 11,8%/năm, khi đáp ứng các điều kiện về quy mô tiền gửi, kỳ hạn hoặc sử dụng kèm các sản phẩm, dịch vụ khác. Thực trạng này cho thấy, sức ép cạnh tranh huy động vốn vẫn rất lớn.

Trong cuộc tư vấn với phóng viên, nhân viên Ngân hàng Standard Chartered giới thiệu chương trình “Trở thành khách hàng ưu tiên theo số dư của Standard Chartered và nhận ngay tiền hoàn vào Tài khoản thanh toán” và cho biết, chương trình không được công khai, mà được triển khai thông qua tư vấn trực tiếp của nhân viên, áp dụng đến ngày 30/9/2026.

Theo lời nhân viên này, khách hàng gửi tiết kiệm tối thiểu 1 tỷ đồng, kỳ hạn 6 tháng, sẽ nhận tổng lợi ích 59,9 triệu đồng, tương đương mức lãi suất gần 12%/năm. Trong đó, khách hàng nhận 40 triệu đồng tiền lãi khi đáo hạn (lãi suất 8%/năm) và 19,9 triệu đồng tiền thưởng được chuyển vào tài khoản thanh toán. Cũng theo nhân viên Standard Chartered, để được hưởng chương trình, khách hàng phải đủ 4 điều kiện.

Với MB, nhân viên tư vấn cho biết, khách hàng gửi tiết kiệm 100 triệu đồng kỳ hạn 6 - 12 tháng được hưởng lãi suất 8%/năm. Nhân viên này cũng nhiều lần thuyết phục khách hàng tham gia gói bảo hiểm nhân thọ với mức phí 15 triệu đồng/năm, đóng trong 10 năm, lãi suất sẽ tăng lên 8,2%/năm, cao hơn tới 3,6 điểm phần trăm so với biểu niêm yết.

Nhân viên MB khẳng định, khách hàng vừa được hưởng lãi suất ưu đãi, vừa có quyền lợi bảo hiểm và sẽ được áp dụng bảng lãi suất ưu đãi dành cho khách hàng VIP khi ngân hàng triển khai các chương trình tiếp theo.

Lãi suất huy động khó giảm trong nửa cuối năm

Về biến động mặt bằng lãi suất, so với đợt giảm ồ ạt toàn hệ thống trước đó, trong hơn 1 tháng gần đây, chỉ một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động như: VIB, Hong Leong Bank, Shinhan Bank, NCB, VPBank.

So với đầu tháng 6, ở kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, VIB giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm, xuống lần lượt 4,25%/năm và 4,35%/năm. Tại kỳ hạn 6 tháng, Hong Leong Bank giảm mạnh nhất 0,5 điểm phần trăm, xuống 6,8%/năm; Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm, còn 4,2%/năm; NCB giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống 6,1%/năm...

Trái lại, hiếm hoi một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động như: VCBNeo, BacABank...

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, BacABank tăng 0,2 điểm phần trăm lên 4,75%/năm, còn VCBNeo tăng 0,3 điểm phần trăm, cũng lên kịch trần 4,75%/năm.

Ở kỳ hạn 6 tháng, chỉ BacABank tăng 0,2 điểm phần trăm, lên 7,05%/năm, cao nhất nhóm ngân hàng được khảo sát. Trong khi đó, tại kỳ hạn 12 tháng, BacABank tiếp tục tăng 0,2 điểm phần trăm, lên 7,1%/năm.

Theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà tăng của lãi suất huy động có dấu hiệu chững lại trong tháng 6/2026 khi không còn diễn ra dàn trải, mà chủ yếu chỉ xuất hiện ở nhóm các ngân hàng thương mại quy mô vừa.

Trong số 16 ngân hàng MBS theo dõi, ghi nhận 6 ngân hàng tăng lãi suất trong tháng 6 (tháng 5 ghi nhận 9 ngân hàng tăng lãi suất) với mức tăng 0,1 - 0,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6 - 24 tháng. Ở chiều ngược lại, có 4 ngân hàng tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất 0,1 - 0,2 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6 - 24 tháng.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026
Nguồn: BSC.

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), trong 6 tháng cuối năm 2026, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 cần tăng lên một mức cân bằng mới để thu hút dòng vốn quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Nhóm phân tích của BSC đánh giá, trong 6 tháng cuối năm 2026, mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại so với 6 tháng đầu năm, do Ngân hàng Nhà nước đã có một số điều chỉnh linh hoạt giúp giảm áp lực thanh khoản cho các ngân hàng trong ngắn hạn.

Điều này diễn ra trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, nhưng khó đảo chiều mạnh các chính sách, không thể bơm thanh khoản quy mô lớn qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) do áp lực từ lạm phát, đặc biệt là tác động của xung đột giữa Iran và các nước liên quan, cùng sức ép lên tỷ giá.

Đối với cung - cầu tín dụng, BSC đánh giá cầu tín dụng đang ở mức rất cao do nhu cầu vốn lớn của các tập đoàn lớn, tạo ra hiện tượng “chen lấn” tín dụng. Trong khi đó, nguồn cung tín dụng còn hạn chế do người dân nắm giữ nhiều tiền mặt, cùng với lượng vốn lớn bị “giam” trong các tài sản có giá cao, trong đó khoảng 2 triệu tỷ đồng được cho là đang nằm trong thị trường bất động sản.

Cùng chung quan điểm, nhóm phân tích của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, lãi suất kỳ hạn 1 - 9 tháng khó giảm sâu, do nhu cầu vốn trung hạn còn cao và cạnh tranh huy động trên thị trường 1 chưa hạ nhiệt hoàn toàn. Các biện pháp hỗ trợ thanh khoản và nới điều kiện sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn có thể giúp hạn chế khả năng tăng lãi suất thêm.

“Chúng tôi cho rằng, mặt bằng lãi suất có thể đã tiệm cận vùng đỉnh, nhờ chủ trương chính sách của nhà điều hành, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục theo dõi diễn biến thanh khoản cũng như tăng trưởng huy động vốn” - nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,810 14,210
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,810 14,210
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,810 14,210
Trang sức 99.9 13,490 14,090
Trang sức 99.99 13,500 14,100
Vàng 99.9 13,000
Vàng 99.99 13,150
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,363 1,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,363 1,404
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,343 1,393
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,921 137,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,835 104,635
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,083 94,883
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,331 85,131
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,157 8,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,444 58,244
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 23/10/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17579 17851 18435
CAD 17887 18162 18780
CHF 30834 31211 31854
CNY 0 3831 3927
EUR 28355 28572 29655
GBP 33773 34162 35097
HKD 0 3166 3368
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14359 14949
SGD 19696 19977 20547
THB 682 745 797
USD (1,2) 25586 0 0
USD (5,10,20) 25624 0 0
USD (50,100) 25651 25665 26035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,483 28,506 29,859
JPY 159.35 159.64 169.32
GBP 34,001 34,093 35,270
AUD 17,778 17,842 18,521
CAD 18,063 18,121 18,792
CHF 31,016 31,112 32,043
SGD 19,810 19,872 20,654
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,226 3,236 3,372
KRW 17.98 18.75 20.41
THB 732.09 741.13 793.14
NZD 14,369 14,502 14,936
SEK - 2,568 2,660
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,711 2,809
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,915.78 - 6,677.03
TWD 716.92 - 868.64
SAR - 6,769.75 7,132.24
KWD - 81,620 86,858
AED - 6,780 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,441 28,584 29,808
GBP 33,970 34,141 35,178
HKD 3,221 3,240 3,357
CHF 30,908 31,063 32,011
JPY 159.53 161.14 169.12
AUD 17,738 17,863 18,460
SGD 19,788 19,968 20,566
THB 736 751 788
CAD 18,036 18,163 18,762
NZD 14,461 15,019
KRW 18.84 20.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25665 25665 26035
AUD 17781 17881 18806
CAD 18083 18183 19199
CHF 31101 31131 32721
CNY 3813.1 3838.1 3973.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28551 28581 30306
GBP 34116 34166 35923
HKD 0 3300 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19861 19991 20713
THB 0 710.9 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13930000 13930000 14230000
SBJ 12500000 12500000 14230000
Cập nhật: 23/10/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30