Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026 Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Nhiều “chiêu” cộng lãi, cộng thưởng, nâng lãi suất lên sát 12%/năm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết gần 50 ngân hàng ngày 13/7 cho thấy, ở kỳ hạn 6 tháng - một trong những kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, BacABank dẫn đầu với 7,05%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với đầu tháng 6.

Đứng thứ hai trong nhóm ngân hàng được khảo sát là Hong Leong với 6,8%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với đầu tháng 6 và giảm 0,8 điểm phần trăm so với thời điểm 9/4, khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất huy động.

Nhóm ngân hàng công bố lãi suất 6,4 - 6,6%/năm với kỳ hạn 6 tháng gồm: PGBank (6,6%), MBV và VCBNeo (6,5%), BVBank (6,45%), Saigonbank và OCB (6,4%).

Ở kỳ hạn 24 tháng, MBV và MB đang dẫn đầu với 7%/năm; BacABank lọt top 2 nhóm khảo sát khi đẩy lãi suất lên 6,95%/năm. Nhóm “big 4”, gồm Agribank, BIDV, VietinBankVietcombank, cùng niêm yết lãi suất 6%/năm. Đây cũng là kỳ hạn duy nhất ghi nhận cả 4 ngân hàng này đồng loạt giảm 0,5 điểm phần trăm sau chỉ đạo hạ lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Dù vậy, mức lãi suất hiện vẫn cao hơn 1,2 - 1,3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Dù lãi suất niêm yết cao nhất ở các kỳ hạn nhìn chung chỉ quanh 7%/năm, thị trường vẫn diễn ra “cuộc đua ngầm” huy động vốn. Thay vì công khai điều chỉnh biểu lãi suất, một số ngân hàng áp dụng lãi suất thỏa thuận riêng, với mức lãi suất thực nhận có thể lên tới 11,8%/năm, khi đáp ứng các điều kiện về quy mô tiền gửi, kỳ hạn hoặc sử dụng kèm các sản phẩm, dịch vụ khác. Thực trạng này cho thấy, sức ép cạnh tranh huy động vốn vẫn rất lớn.

Trong cuộc tư vấn với phóng viên, nhân viên Ngân hàng Standard Chartered giới thiệu chương trình “Trở thành khách hàng ưu tiên theo số dư của Standard Chartered và nhận ngay tiền hoàn vào Tài khoản thanh toán” và cho biết, chương trình không được công khai, mà được triển khai thông qua tư vấn trực tiếp của nhân viên, áp dụng đến ngày 30/9/2026.

Theo lời nhân viên này, khách hàng gửi tiết kiệm tối thiểu 1 tỷ đồng, kỳ hạn 6 tháng, sẽ nhận tổng lợi ích 59,9 triệu đồng, tương đương mức lãi suất gần 12%/năm. Trong đó, khách hàng nhận 40 triệu đồng tiền lãi khi đáo hạn (lãi suất 8%/năm) và 19,9 triệu đồng tiền thưởng được chuyển vào tài khoản thanh toán. Cũng theo nhân viên Standard Chartered, để được hưởng chương trình, khách hàng phải đủ 4 điều kiện.

Với MB, nhân viên tư vấn cho biết, khách hàng gửi tiết kiệm 100 triệu đồng kỳ hạn 6 - 12 tháng được hưởng lãi suất 8%/năm. Nhân viên này cũng nhiều lần thuyết phục khách hàng tham gia gói bảo hiểm nhân thọ với mức phí 15 triệu đồng/năm, đóng trong 10 năm, lãi suất sẽ tăng lên 8,2%/năm, cao hơn tới 3,6 điểm phần trăm so với biểu niêm yết.

Nhân viên MB khẳng định, khách hàng vừa được hưởng lãi suất ưu đãi, vừa có quyền lợi bảo hiểm và sẽ được áp dụng bảng lãi suất ưu đãi dành cho khách hàng VIP khi ngân hàng triển khai các chương trình tiếp theo.

Lãi suất huy động khó giảm trong nửa cuối năm

Về biến động mặt bằng lãi suất, so với đợt giảm ồ ạt toàn hệ thống trước đó, trong hơn 1 tháng gần đây, chỉ một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động như: VIB, Hong Leong Bank, Shinhan Bank, NCB, VPBank.

So với đầu tháng 6, ở kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, VIB giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm, xuống lần lượt 4,25%/năm và 4,35%/năm. Tại kỳ hạn 6 tháng, Hong Leong Bank giảm mạnh nhất 0,5 điểm phần trăm, xuống 6,8%/năm; Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm, còn 4,2%/năm; NCB giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống 6,1%/năm...

Trái lại, hiếm hoi một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động như: VCBNeo, BacABank...

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, BacABank tăng 0,2 điểm phần trăm lên 4,75%/năm, còn VCBNeo tăng 0,3 điểm phần trăm, cũng lên kịch trần 4,75%/năm.

Ở kỳ hạn 6 tháng, chỉ BacABank tăng 0,2 điểm phần trăm, lên 7,05%/năm, cao nhất nhóm ngân hàng được khảo sát. Trong khi đó, tại kỳ hạn 12 tháng, BacABank tiếp tục tăng 0,2 điểm phần trăm, lên 7,1%/năm.

Theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đà tăng của lãi suất huy động có dấu hiệu chững lại trong tháng 6/2026 khi không còn diễn ra dàn trải, mà chủ yếu chỉ xuất hiện ở nhóm các ngân hàng thương mại quy mô vừa.

Trong số 16 ngân hàng MBS theo dõi, ghi nhận 6 ngân hàng tăng lãi suất trong tháng 6 (tháng 5 ghi nhận 9 ngân hàng tăng lãi suất) với mức tăng 0,1 - 0,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6 - 24 tháng. Ở chiều ngược lại, có 4 ngân hàng tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất 0,1 - 0,2 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6 - 24 tháng.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026
Nguồn: BSC.

Theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), trong 6 tháng cuối năm 2026, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 cần tăng lên một mức cân bằng mới để thu hút dòng vốn quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Nhóm phân tích của BSC đánh giá, trong 6 tháng cuối năm 2026, mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại so với 6 tháng đầu năm, do Ngân hàng Nhà nước đã có một số điều chỉnh linh hoạt giúp giảm áp lực thanh khoản cho các ngân hàng trong ngắn hạn.

Điều này diễn ra trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, nhưng khó đảo chiều mạnh các chính sách, không thể bơm thanh khoản quy mô lớn qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) do áp lực từ lạm phát, đặc biệt là tác động của xung đột giữa Iran và các nước liên quan, cùng sức ép lên tỷ giá.

Đối với cung - cầu tín dụng, BSC đánh giá cầu tín dụng đang ở mức rất cao do nhu cầu vốn lớn của các tập đoàn lớn, tạo ra hiện tượng “chen lấn” tín dụng. Trong khi đó, nguồn cung tín dụng còn hạn chế do người dân nắm giữ nhiều tiền mặt, cùng với lượng vốn lớn bị “giam” trong các tài sản có giá cao, trong đó khoảng 2 triệu tỷ đồng được cho là đang nằm trong thị trường bất động sản.

Cùng chung quan điểm, nhóm phân tích của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, lãi suất kỳ hạn 1 - 9 tháng khó giảm sâu, do nhu cầu vốn trung hạn còn cao và cạnh tranh huy động trên thị trường 1 chưa hạ nhiệt hoàn toàn. Các biện pháp hỗ trợ thanh khoản và nới điều kiện sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn có thể giúp hạn chế khả năng tăng lãi suất thêm.

“Chúng tôi cho rằng, mặt bằng lãi suất có thể đã tiệm cận vùng đỉnh, nhờ chủ trương chính sách của nhà điều hành, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục theo dõi diễn biến thanh khoản cũng như tăng trưởng huy động vốn” - nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80