Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi “ngầm”, ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Thứ hạng ngân hàng trả lãi cao ít biến động biểu lãi suất niêm yết

Khảo sát lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng niêm yết tại gần 50 ngân hàng thương mại ngày 15/6 cho thấy, mặt bằng lãi suất ít “gợn sóng” sau đợt điều chỉnh giảm mạnh hồi đầu tháng 4/2026.

Hiện BacABank dẫn đầu lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng, với 6,85%/năm; tiếp đến là Hong Leong Bank đứng top hai với 6,8%/năm; top ba là PGBank 6,6%/năm; VCBNeo và MBV cùng niêm yết 6,5%/năm...

Kỳ hạn 6 tháng hiện vẫn là một trong những kỳ hạn được người gửi tiền cá nhân ưa chuộng nhất nhờ cân bằng giữa lợi suất và tính linh hoạt. So với các kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng, mức lãi suất kỳ hạn 6 tháng thường cao hơn đáng kể, trong khi thời gian “khóa vốn” chưa quá dài như kỳ hạn 12 - 24 tháng. Hiện nhiều nhà băng niêm yết lãi suất kỳ hạn 6 tháng đến dưới 12 tháng cao hơn đáng kể kỳ hạn dài, do vẫn thiếu thanh khoản cục bộ tại nhiều thời điểm.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Với kỳ hạn 24 tháng, mức lãi suất niêm yết cao nhất thị trường là 7%/năm, xuất hiện tại nhóm ngân hàng tư nhân lớn như MB, cùng MBV tại nhóm các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa; tiếp theo là PGBank và OCB cùng ở top 2, niêm yết 6,8%/năm.

Bên cạnh đó, BacABank huy động lãi suất mức 6,75%/năm kỳ hạn 24 tháng; trong khi nhóm Indovina Bank, NCB và SACOMBANK cùng áp dụng mức 6,7%/năm...

Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank đồng loạt niêm yết 6%/năm cho kỳ hạn này.

Ít “gợn sóng” trên bảng lãi suất, sôi động ở các chương trình ưu đãi

Theo ghi nhận, Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi điều chỉnh giảm lãi suất 0,5 điểm phần trăm, từ 7,3%/năm xuống còn 6,8%/năm kỳ hạn 6 tháng, qua đó, mốc lãi suất 7%/năm trên biểu niêm yết lãi suất gần như vắng bóng trên thị trường.

Tại nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank, lãi suất kỳ hạn 6 tháng không thay đổi trong các đợt điều chỉnh gần đây, qua đó, duy trì cao hơn khoảng 0,5 - 0,6 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

Với kỳ hạn 24 tháng, nhóm “big 4” cùng giảm giảm 0,5 điểm phần trăm theo hiệu lệnh của nhà điều hành. Kỳ hạn 24 tháng có ý nghĩa đặc biệt trong cơ cấu huy động vốn của các ngân hàng bởi đây là nguồn vốn dài hạn quan trọng phục vụ cho nhu cầu cho vay trung và dài hạn, đầu tư dự án, bất động sản và hạ tầng. Đối với người gửi tiền, kỳ hạn này thường hấp dẫn nhờ mức lãi suất thuộc nhóm cao nhất trên biểu niêm yết, đồng thời giúp “khóa” lợi suất trong thời gian dài khi kỳ vọng lãi suất thị trường có xu hướng giảm.

So với thời điểm trước khi “sóng” lãi suất huy động dâng lên vào cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất nhóm “big 4” hiện vẫn cao hơn 1,2 - 1,3 điểm phần trăm. Điều này cho thấy dù mặt bằng lãi suất đã hạ nhiệt so với đỉnh đầu năm 2026, các ngân hàng vẫn duy trì mức huy động trung dài hạn cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước khi bước vào chu kỳ tăng lãi suất.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Dẫu biểu lãi suất niêm yết kỳ hạn 6 tháng tại phần lớn ngân hàng gần như không xuất hiện thêm “gợn sóng”, thì cuộc đua huy động tiền gửi lại sôi động hơn trên các diễn đàn, chương trình gửi tiết kiệm trực tuyến, với đa dạng các chương trình cộng lãi suất, ưu đãi dành cho khách hàng gửi tiền.

Chỉ rõ nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động neo cao, nhóm phân tích MBS cho rằng, thứ nhất, mặt bằng lãi suất đã tăng tương đối nhiều trong quý I/2026. Thứ hai, đà tăng lãi suất huy động vẫn còn diễn ra ở một số ngân hàng, trong bối cảnh tín dụng tiếp tục duy trì đà tăng nhanh gấp gần 2 lần so với tốc độ huy động vốn.

Theo ghi nhận của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), áp lực tăng lãi suất không chỉ diễn ra ở các ngân hàng thương mại tư nhân, khi đầu tháng 6 đã mới ghi nhận đợt điều chỉnh lãi suất từ nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh.

Cụ thể, ngân hàng BIDV tăng lãi suất kỳ hạn 6 - 36 tháng với mức tăng từ 0,8 - 1,2 điểm phần trăm. Việc này được đánh giá là tín hiệu cho thấy áp lực huy động vốn trong hệ thống ngân hàng đang gia tăng đáng kể.

Dựa trên dữ liệu khảo sát thực tế của MBS, đến cuối tháng 5, lãi suất kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất ở mức 8,8%.

“Trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ ở mức 8,35%, tăng 257 điểm cơ bản so với đầu năm. Dù nhiều nhà băng đã thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4 và tháng 5, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao” - nhóm phân tích MBS nhận định.

Còn theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), lãi suất huy động toàn hệ thống cộng thêm các khoản khuyến mại bị đẩy lên khoảng 8 - 9% đối với kỳ hạn 6 - 12 tháng, tăng khoảng 1 - 2% so với thời điểm cuối năm 2025, xuất hiện cả ở nhóm ngân hàng quốc doanh, khi dòng tiền gửi có xu hướng dịch chuyển sang nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có lãi suất huy động cao hơn. “Lãi suất huy động vẫn ở mức cao do áp lực thanh khoản còn hiện hữu” - SHS nêu quan điểm.

Điều này khiến lãi suất cho vay bình quân tăng nhẹ. Tại thời điểm cuối tháng 4/2026, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,8 % - 10%/năm, tăng 1% so với cuối năm 2025. Lãi suất cho vay mua nhà lên trung bình khoảng 14 - 15%/năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

(TBTCO) - Sáng 13/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.155 đồng/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng 5 tuần liên tiếp. Ngược lại, tỷ giá USD tự do giảm 140 đồng, về 26.240 - 26.270 VND/USD. Chỉ số DXY chốt tuần ở 99,78 điểm, giảm 0,29%, khi nhà đầu tư chờ tín hiệu chính sách từ Fed, BoE và BoJ trong tuần tới.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Kim TT/AVPL 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 14,300 ▼100K 14,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 14,250 ▼100K 14,450 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 ▲150K 15,050 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 ▲150K 15,000 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 ▲150K 14,980 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
NL 99.90 13,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000 ▲50K
Trang sức 99.9 14,340 ▲100K 15,040 ▲100K
Trang sức 99.99 14,350 ▲100K 15,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,495 ▲1347K 15,152 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,495 ▲1347K 15,153 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,494 ▲15K 1,514 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,494 ▲15K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,474 ▲15K 1,499 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,416 ▲990K 148,416 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,086 ▲750K 112,586 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,592 ▲680K 102,092 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,098 ▲610K 91,598 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,805 ▼69662K 8,755 ▼78212K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,165 ▲417K 62,665 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cập nhật: 16/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18903
CAD 18250 18526 19142
CHF 32428 32811 33459
CNY 0 3852 3944
EUR 29882 30105 31183
GBP 34481 34873 35818
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15011 15599
SGD 19975 20258 20835
THB 723 787 841
USD (1,2) 26036 0 0
USD (5,10,20) 26077 0 0
USD (50,100) 26106 26120 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,967 29,991 31,350
JPY 159.79 160.08 169.34
GBP 34,644 34,738 35,847
AUD 18,218 18,284 18,931
CAD 18,434 18,493 19,129
CHF 32,685 32,787 33,671
SGD 20,083 20,145 20,891
CNY - 3,818 3,955
HKD 3,292 3,302 3,432
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 770.93 780.45 833.62
NZD 14,963 15,102 15,512
SEK - 2,750 2,841
DKK - 4,009 4,141
NOK - 2,706 2,798
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,050.47 - 6,812.64
TWD 752.43 - 908.81
SAR - 6,893.7 7,243.87
KWD - 83,439 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,423
EUR 29,919 30,039 31,227
GBP 34,647 34,786 35,804
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,539 32,670 33,586
JPY 160.04 160.68 168.50
AUD 18,242 18,315 18,908
SGD 20,149 20,230 20,816
THB 788 791 826
CAD 18,454 18,528 19,091
NZD 15,058 15,594
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26141 26141 26423
AUD 18234 18334 19256
CAD 18429 18529 19543
CHF 32678 32708 34290
CNY 3832.4 3857.4 3992.7
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30061 30091 31813
GBP 34781 34831 36592
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15122 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20133 20263 20991
THB 0 753.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14950000 14950000 15150000
SBJ 13000000 13000000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,132 26,182 26,423
USD20 26,132 26,182 26,423
USD1 23,907 26,182 26,423
AUD 18,280 18,380 19,487
EUR 30,210 30,210 31,619
CAD 18,374 18,474 19,781
SGD 20,212 20,362 20,925
JPY 161.04 162.54 167.1
GBP 34,684 35,034 36,149
XAU 14,948,000 0 15,152,000
CNY 0 3,742 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80