Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Tú Anh
(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
aa

Chỉ một ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, mặt bằng vẫn neo cao

Sau cuộc họp đầu tiên với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4, “làn sóng” giảm lãi suất từng lan nhanh khắp hệ thống ngân hàng, mạnh nhất ở các kỳ hạn 6 tháng và 24 tháng. Tuy nhiên, chỉ sau vài tuần, thị trường gần như rơi vào trạng thái “lặng sóng”, khi phần lớn nhà băng đồng loạt đứng yên sau nhịp giảm mạnh ban đầu.

Theo khảo sát của phóng viên từ gần 50 ngân hàng, từ đầu tháng 5/2026 đến nay, Saigonbank là ngân hàng duy nhất tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong đó kỳ hạn 24 tháng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm, nâng tổng mức giảm lên tới 1 điểm phần trăm sau 2 lần giảm.

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
Nguồn: FiinGroup, SHS Research. Đồ họa tư liệu

Dù vậy, diễn biến tại ngân hàng này cũng cho thấy sự giằng co rõ nét trong bài toán huy động vốn. Trái ngược xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 13 tháng lại được Saigonbank đẩy vọt từ 7% lên 7,9%/năm, cao nhất trong biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng này.

Cũng theo quan sát của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh, khi tuần cuối tháng 4 không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi suất, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất vài kỳ hạn.

Chỉ rõ biến động mặt bằng lãi suất trước và sau hiệu lệnh của nhà điều hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấy, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn đến cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ có lãi suất bình quân 8,45%/năm, giảm mạnh 29 điểm cơ bản.

Lãi suất cho vay giảm nhẹ sau nhịp hạ lãi suất huy động

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%/năm, giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026. Trong khi đó, dù mới diễn ra trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xu hướng giảm của lãi suất huy động lan tỏa vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trên nền tảng đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

“Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ ở mức 8,31%, tăng 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm. Dù các ngân hàng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất tăng tương đối nhiều quý I/2026” - MBS đánh giá.

Nhận thấy rõ sự thay đổi của lãi suất cho vay có tác động rất quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và cả nền kinh tế, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp điều hành đồng bộ và quyết liệt, với mục tiêu quan trọng nhất là giảm lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Theo ông Quang, sau cuộc họp, gần như toàn bộ 46 ngân hàng thương mại, ngoại trừ một vài trường hợp đặc thù, đã đồng thuận giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Đà giảm lãi suất chậm lại giữa áp lực lạm phát và tín dụng tăng tốc

Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới vẫn chịu nhiều sức ép từ cả yếu tố bên ngoài lẫn trong nước.

Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước), trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương lớn duy trì quan điểm thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ, thậm chí có khả năng tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được dự báo nhiều khả năng giữ nguyên lãi suất điều hành 3,5 - 3,75%/năm tới hết năm 2026 và chưa để ngỏ khả năng sẽ điều chỉnh trong năm 2027.

Cũng theo ông Lân, áp lực lạm phát toàn cầu cũng có xu hướng gia tăng trở lại khi giá dầu tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông. Trong nước, lạm phát năm 2026 được đánh giá chịu sức ép lớn từ diễn biến địa chính trị và giá năng lượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên 4,9%, vượt mục tiêu 4,5%. Cùng với đó, tỷ giá cũng chịu thêm áp lực trong bối cảnh cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia Chứng khoán Yuanta cho rằng, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, nhất là khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn trong tháng 4.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ, đạt 19,42 triệu tỷ đồng.

Dù tín dụng được định hướng tăng khoảng 15% năm nay, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước nhận định, huy động vốn từ nền kinh tế nhiều khả năng khó đạt được mức tăng bằng hoặc cao hơn tăng trưởng tín dụng, khiến vấn đề thanh khoản nói chung, thanh khoản VND nói riêng vẫn là vấn đề cần phải lưu tâm trong thời gian tới.

Thanh khoản vẫn là bài toán lớn, thử thách hơn trước chuẩn Basel III

Lãi suất cho vay bắt đầu giảm nhẹ, nhưng áp lực thanh khoản chưa hạ nhiệt. Theo Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mức điều chỉnh nhìn chung vẫn tương đối khiêm tốn và chưa đủ tạo ra thay đổi rõ nét đối với mặt bằng chi phí vốn, đặc biệt tại nhóm ngân hàng cần duy trì thanh khoản ổn định và bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trên thực tế, áp lực huy động vẫn hiện hữu ở một số thời điểm, thể hiện qua việc các ngân hàng tiếp tục sử dụng thêm các công cụ linh hoạt để củng cố nguồn vốn trung và dài hạn. Điển hình, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn được chào ở nền lãi suất cao, quanh vùng 8%/năm cho kỳ hạn 1 năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã công bố dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, phát đi tín hiệu siết chặt hơn các chuẩn mực an toàn hệ thống theo định hướng tiệm cận Basel III. Dự thảo tập trung nâng yêu cầu đối với các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản, đồng thời giảm dần dư địa “xử lý kỹ thuật” mà một số ngân hàng có thể tận dụng trong cách tính các chỉ tiêu hiện hành.

Theo nhóm phân tích SHS, tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) được đề xuất thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi), với cách tiếp cận khắt khe hơn khi loại bỏ phần vốn từ thị trường 2 ra khỏi mẫu số. Đồng thời, dự thảo bổ sung và nhấn mạnh vai trò của các chuẩn thanh khoản quan trọng như: LCR (tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Trong đó, NSFR được xem là bước chuyển từ tư duy “cơ cấu nguồn vốn” sang tư duy “hành vi dòng tiền”.

Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy LEV cũng được đề cập như một tiêu chuẩn bổ sung, dù tác động thực tế được đánh giá không quá lớn. “Dự thảo này được xem như một tín hiệu cho thấy định hướng quản lý sẽ ưu tiên việc thúc đẩy hệ thống tiến gần hơn đến Basel III, qua đó tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng về năng lực quản trị thanh khoản và tiêu chuẩn hóa hệ thống” - nhóm phân tích SHS nhận định.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18538 18815 19393
CAD 18694 18972 19588
CHF 33023 33409 34057
CNY 0 3839 3931
EUR 30203 30477 31501
GBP 34792 35185 36115
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15303 15893
SGD 20156 20439 20966
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26379
AUD 18722 18822 19747
CAD 18875 18975 19991
CHF 33278 33308 34887
CNY 3820.1 3845.1 3980.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30380 30410 32135
GBP 35125 35175 36933
HKD 0 3355 0
JPY 163.43 163.93 174.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20318 20448 21181
THB 0 758.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16900000
SBJ 14000000 14000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80