Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Tú Anh
(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
aa

Chỉ một ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, mặt bằng vẫn neo cao

Sau cuộc họp đầu tiên với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4, “làn sóng” giảm lãi suất từng lan nhanh khắp hệ thống ngân hàng, mạnh nhất ở các kỳ hạn 6 tháng và 24 tháng. Tuy nhiên, chỉ sau vài tuần, thị trường gần như rơi vào trạng thái “lặng sóng”, khi phần lớn nhà băng đồng loạt đứng yên sau nhịp giảm mạnh ban đầu.

Theo khảo sát của phóng viên từ gần 50 ngân hàng, từ đầu tháng 5/2026 đến nay, Saigonbank là ngân hàng duy nhất tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong đó kỳ hạn 24 tháng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm, nâng tổng mức giảm lên tới 1 điểm phần trăm sau 2 lần giảm.

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
Nguồn: FiinGroup, SHS Research. Đồ họa tư liệu

Dù vậy, diễn biến tại ngân hàng này cũng cho thấy sự giằng co rõ nét trong bài toán huy động vốn. Trái ngược xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 13 tháng lại được Saigonbank đẩy vọt từ 7% lên 7,9%/năm, cao nhất trong biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng này.

Cũng theo quan sát của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh, khi tuần cuối tháng 4 không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi suất, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất vài kỳ hạn.

Chỉ rõ biến động mặt bằng lãi suất trước và sau hiệu lệnh của nhà điều hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấy, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn đến cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ có lãi suất bình quân 8,45%/năm, giảm mạnh 29 điểm cơ bản.

Lãi suất cho vay giảm nhẹ sau nhịp hạ lãi suất huy động

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%/năm, giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026. Trong khi đó, dù mới diễn ra trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xu hướng giảm của lãi suất huy động lan tỏa vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trên nền tảng đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

“Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ ở mức 8,31%, tăng 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm. Dù các ngân hàng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất tăng tương đối nhiều quý I/2026” - MBS đánh giá.

Nhận thấy rõ sự thay đổi của lãi suất cho vay có tác động rất quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và cả nền kinh tế, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp điều hành đồng bộ và quyết liệt, với mục tiêu quan trọng nhất là giảm lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Theo ông Quang, sau cuộc họp, gần như toàn bộ 46 ngân hàng thương mại, ngoại trừ một vài trường hợp đặc thù, đã đồng thuận giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Đà giảm lãi suất chậm lại giữa áp lực lạm phát và tín dụng tăng tốc

Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới vẫn chịu nhiều sức ép từ cả yếu tố bên ngoài lẫn trong nước.

Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước), trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương lớn duy trì quan điểm thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ, thậm chí có khả năng tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được dự báo nhiều khả năng giữ nguyên lãi suất điều hành 3,5 - 3,75%/năm tới hết năm 2026 và chưa để ngỏ khả năng sẽ điều chỉnh trong năm 2027.

Cũng theo ông Lân, áp lực lạm phát toàn cầu cũng có xu hướng gia tăng trở lại khi giá dầu tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông. Trong nước, lạm phát năm 2026 được đánh giá chịu sức ép lớn từ diễn biến địa chính trị và giá năng lượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên 4,9%, vượt mục tiêu 4,5%. Cùng với đó, tỷ giá cũng chịu thêm áp lực trong bối cảnh cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia Chứng khoán Yuanta cho rằng, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, nhất là khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn trong tháng 4.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ, đạt 19,42 triệu tỷ đồng.

Dù tín dụng được định hướng tăng khoảng 15% năm nay, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước nhận định, huy động vốn từ nền kinh tế nhiều khả năng khó đạt được mức tăng bằng hoặc cao hơn tăng trưởng tín dụng, khiến vấn đề thanh khoản nói chung, thanh khoản VND nói riêng vẫn là vấn đề cần phải lưu tâm trong thời gian tới.

Thanh khoản vẫn là bài toán lớn, thử thách hơn trước chuẩn Basel III

Lãi suất cho vay bắt đầu giảm nhẹ, nhưng áp lực thanh khoản chưa hạ nhiệt. Theo Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mức điều chỉnh nhìn chung vẫn tương đối khiêm tốn và chưa đủ tạo ra thay đổi rõ nét đối với mặt bằng chi phí vốn, đặc biệt tại nhóm ngân hàng cần duy trì thanh khoản ổn định và bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trên thực tế, áp lực huy động vẫn hiện hữu ở một số thời điểm, thể hiện qua việc các ngân hàng tiếp tục sử dụng thêm các công cụ linh hoạt để củng cố nguồn vốn trung và dài hạn. Điển hình, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn được chào ở nền lãi suất cao, quanh vùng 8%/năm cho kỳ hạn 1 năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã công bố dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, phát đi tín hiệu siết chặt hơn các chuẩn mực an toàn hệ thống theo định hướng tiệm cận Basel III. Dự thảo tập trung nâng yêu cầu đối với các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản, đồng thời giảm dần dư địa “xử lý kỹ thuật” mà một số ngân hàng có thể tận dụng trong cách tính các chỉ tiêu hiện hành.

Theo nhóm phân tích SHS, tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) được đề xuất thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi), với cách tiếp cận khắt khe hơn khi loại bỏ phần vốn từ thị trường 2 ra khỏi mẫu số. Đồng thời, dự thảo bổ sung và nhấn mạnh vai trò của các chuẩn thanh khoản quan trọng như: LCR (tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Trong đó, NSFR được xem là bước chuyển từ tư duy “cơ cấu nguồn vốn” sang tư duy “hành vi dòng tiền”.

Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy LEV cũng được đề cập như một tiêu chuẩn bổ sung, dù tác động thực tế được đánh giá không quá lớn. “Dự thảo này được xem như một tín hiệu cho thấy định hướng quản lý sẽ ưu tiên việc thúc đẩy hệ thống tiến gần hơn đến Basel III, qua đó tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng về năng lực quản trị thanh khoản và tiêu chuẩn hóa hệ thống” - nhóm phân tích SHS nhận định.

Tú Anh

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30