Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Tú Anh
(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
aa

Chỉ một ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, mặt bằng vẫn neo cao

Sau cuộc họp đầu tiên với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4, “làn sóng” giảm lãi suất từng lan nhanh khắp hệ thống ngân hàng, mạnh nhất ở các kỳ hạn 6 tháng và 24 tháng. Tuy nhiên, chỉ sau vài tuần, thị trường gần như rơi vào trạng thái “lặng sóng”, khi phần lớn nhà băng đồng loạt đứng yên sau nhịp giảm mạnh ban đầu.

Theo khảo sát của phóng viên từ gần 50 ngân hàng, từ đầu tháng 5/2026 đến nay, Saigonbank là ngân hàng duy nhất tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong đó kỳ hạn 24 tháng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm, nâng tổng mức giảm lên tới 1 điểm phần trăm sau 2 lần giảm.

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
Nguồn: FiinGroup, SHS Research. Đồ họa tư liệu

Dù vậy, diễn biến tại ngân hàng này cũng cho thấy sự giằng co rõ nét trong bài toán huy động vốn. Trái ngược xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 13 tháng lại được Saigonbank đẩy vọt từ 7% lên 7,9%/năm, cao nhất trong biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng này.

Cũng theo quan sát của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh, khi tuần cuối tháng 4 không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi suất, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất vài kỳ hạn.

Chỉ rõ biến động mặt bằng lãi suất trước và sau hiệu lệnh của nhà điều hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấy, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn đến cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ có lãi suất bình quân 8,45%/năm, giảm mạnh 29 điểm cơ bản.

Lãi suất cho vay giảm nhẹ sau nhịp hạ lãi suất huy động

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%/năm, giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026. Trong khi đó, dù mới diễn ra trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xu hướng giảm của lãi suất huy động lan tỏa vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trên nền tảng đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

“Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ ở mức 8,31%, tăng 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm. Dù các ngân hàng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất tăng tương đối nhiều quý I/2026” - MBS đánh giá.

Nhận thấy rõ sự thay đổi của lãi suất cho vay có tác động rất quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và cả nền kinh tế, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp điều hành đồng bộ và quyết liệt, với mục tiêu quan trọng nhất là giảm lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Theo ông Quang, sau cuộc họp, gần như toàn bộ 46 ngân hàng thương mại, ngoại trừ một vài trường hợp đặc thù, đã đồng thuận giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Đà giảm lãi suất chậm lại giữa áp lực lạm phát và tín dụng tăng tốc

Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới vẫn chịu nhiều sức ép từ cả yếu tố bên ngoài lẫn trong nước.

Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước), trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương lớn duy trì quan điểm thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ, thậm chí có khả năng tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được dự báo nhiều khả năng giữ nguyên lãi suất điều hành 3,5 - 3,75%/năm tới hết năm 2026 và chưa để ngỏ khả năng sẽ điều chỉnh trong năm 2027.

Cũng theo ông Lân, áp lực lạm phát toàn cầu cũng có xu hướng gia tăng trở lại khi giá dầu tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông. Trong nước, lạm phát năm 2026 được đánh giá chịu sức ép lớn từ diễn biến địa chính trị và giá năng lượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên 4,9%, vượt mục tiêu 4,5%. Cùng với đó, tỷ giá cũng chịu thêm áp lực trong bối cảnh cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia Chứng khoán Yuanta cho rằng, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, nhất là khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn trong tháng 4.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ, đạt 19,42 triệu tỷ đồng.

Dù tín dụng được định hướng tăng khoảng 15% năm nay, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước nhận định, huy động vốn từ nền kinh tế nhiều khả năng khó đạt được mức tăng bằng hoặc cao hơn tăng trưởng tín dụng, khiến vấn đề thanh khoản nói chung, thanh khoản VND nói riêng vẫn là vấn đề cần phải lưu tâm trong thời gian tới.

Thanh khoản vẫn là bài toán lớn, thử thách hơn trước chuẩn Basel III

Lãi suất cho vay bắt đầu giảm nhẹ, nhưng áp lực thanh khoản chưa hạ nhiệt. Theo Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mức điều chỉnh nhìn chung vẫn tương đối khiêm tốn và chưa đủ tạo ra thay đổi rõ nét đối với mặt bằng chi phí vốn, đặc biệt tại nhóm ngân hàng cần duy trì thanh khoản ổn định và bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trên thực tế, áp lực huy động vẫn hiện hữu ở một số thời điểm, thể hiện qua việc các ngân hàng tiếp tục sử dụng thêm các công cụ linh hoạt để củng cố nguồn vốn trung và dài hạn. Điển hình, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn được chào ở nền lãi suất cao, quanh vùng 8%/năm cho kỳ hạn 1 năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã công bố dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, phát đi tín hiệu siết chặt hơn các chuẩn mực an toàn hệ thống theo định hướng tiệm cận Basel III. Dự thảo tập trung nâng yêu cầu đối với các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản, đồng thời giảm dần dư địa “xử lý kỹ thuật” mà một số ngân hàng có thể tận dụng trong cách tính các chỉ tiêu hiện hành.

Theo nhóm phân tích SHS, tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) được đề xuất thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi), với cách tiếp cận khắt khe hơn khi loại bỏ phần vốn từ thị trường 2 ra khỏi mẫu số. Đồng thời, dự thảo bổ sung và nhấn mạnh vai trò của các chuẩn thanh khoản quan trọng như: LCR (tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Trong đó, NSFR được xem là bước chuyển từ tư duy “cơ cấu nguồn vốn” sang tư duy “hành vi dòng tiền”.

Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy LEV cũng được đề cập như một tiêu chuẩn bổ sung, dù tác động thực tế được đánh giá không quá lớn. “Dự thảo này được xem như một tín hiệu cho thấy định hướng quản lý sẽ ưu tiên việc thúc đẩy hệ thống tiến gần hơn đến Basel III, qua đó tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng về năng lực quản trị thanh khoản và tiêu chuẩn hóa hệ thống” - nhóm phân tích SHS nhận định.

Tú Anh

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80