Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Tú Anh
(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
aa

Chỉ một ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, mặt bằng vẫn neo cao

Sau cuộc họp đầu tiên với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4, “làn sóng” giảm lãi suất từng lan nhanh khắp hệ thống ngân hàng, mạnh nhất ở các kỳ hạn 6 tháng và 24 tháng. Tuy nhiên, chỉ sau vài tuần, thị trường gần như rơi vào trạng thái “lặng sóng”, khi phần lớn nhà băng đồng loạt đứng yên sau nhịp giảm mạnh ban đầu.

Theo khảo sát của phóng viên từ gần 50 ngân hàng, từ đầu tháng 5/2026 đến nay, Saigonbank là ngân hàng duy nhất tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong đó kỳ hạn 24 tháng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm, nâng tổng mức giảm lên tới 1 điểm phần trăm sau 2 lần giảm.

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
Nguồn: FiinGroup, SHS Research. Đồ họa tư liệu

Dù vậy, diễn biến tại ngân hàng này cũng cho thấy sự giằng co rõ nét trong bài toán huy động vốn. Trái ngược xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 13 tháng lại được Saigonbank đẩy vọt từ 7% lên 7,9%/năm, cao nhất trong biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng này.

Cũng theo quan sát của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh, khi tuần cuối tháng 4 không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi suất, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất vài kỳ hạn.

Chỉ rõ biến động mặt bằng lãi suất trước và sau hiệu lệnh của nhà điều hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấy, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn đến cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ có lãi suất bình quân 8,45%/năm, giảm mạnh 29 điểm cơ bản.

Lãi suất cho vay giảm nhẹ sau nhịp hạ lãi suất huy động

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%/năm, giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026. Trong khi đó, dù mới diễn ra trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xu hướng giảm của lãi suất huy động lan tỏa vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trên nền tảng đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

“Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng các ngân hàng thương mại đến cuối kỳ ở mức 8,31%, tăng 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm. Dù các ngân hàng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất tăng tương đối nhiều quý I/2026” - MBS đánh giá.

Nhận thấy rõ sự thay đổi của lãi suất cho vay có tác động rất quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và cả nền kinh tế, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp điều hành đồng bộ và quyết liệt, với mục tiêu quan trọng nhất là giảm lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Theo ông Quang, sau cuộc họp, gần như toàn bộ 46 ngân hàng thương mại, ngoại trừ một vài trường hợp đặc thù, đã đồng thuận giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Đà giảm lãi suất chậm lại giữa áp lực lạm phát và tín dụng tăng tốc

Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới vẫn chịu nhiều sức ép từ cả yếu tố bên ngoài lẫn trong nước.

Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước), trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương lớn duy trì quan điểm thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ, thậm chí có khả năng tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được dự báo nhiều khả năng giữ nguyên lãi suất điều hành 3,5 - 3,75%/năm tới hết năm 2026 và chưa để ngỏ khả năng sẽ điều chỉnh trong năm 2027.

Cũng theo ông Lân, áp lực lạm phát toàn cầu cũng có xu hướng gia tăng trở lại khi giá dầu tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông. Trong nước, lạm phát năm 2026 được đánh giá chịu sức ép lớn từ diễn biến địa chính trị và giá năng lượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên 4,9%, vượt mục tiêu 4,5%. Cùng với đó, tỷ giá cũng chịu thêm áp lực trong bối cảnh cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia Chứng khoán Yuanta cho rằng, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, nhất là khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn trong tháng 4.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ, đạt 19,42 triệu tỷ đồng.

Dù tín dụng được định hướng tăng khoảng 15% năm nay, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước nhận định, huy động vốn từ nền kinh tế nhiều khả năng khó đạt được mức tăng bằng hoặc cao hơn tăng trưởng tín dụng, khiến vấn đề thanh khoản nói chung, thanh khoản VND nói riêng vẫn là vấn đề cần phải lưu tâm trong thời gian tới.

Thanh khoản vẫn là bài toán lớn, thử thách hơn trước chuẩn Basel III

Lãi suất cho vay bắt đầu giảm nhẹ, nhưng áp lực thanh khoản chưa hạ nhiệt. Theo Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mức điều chỉnh nhìn chung vẫn tương đối khiêm tốn và chưa đủ tạo ra thay đổi rõ nét đối với mặt bằng chi phí vốn, đặc biệt tại nhóm ngân hàng cần duy trì thanh khoản ổn định và bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trên thực tế, áp lực huy động vẫn hiện hữu ở một số thời điểm, thể hiện qua việc các ngân hàng tiếp tục sử dụng thêm các công cụ linh hoạt để củng cố nguồn vốn trung và dài hạn. Điển hình, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn được chào ở nền lãi suất cao, quanh vùng 8%/năm cho kỳ hạn 1 năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã công bố dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, phát đi tín hiệu siết chặt hơn các chuẩn mực an toàn hệ thống theo định hướng tiệm cận Basel III. Dự thảo tập trung nâng yêu cầu đối với các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản, đồng thời giảm dần dư địa “xử lý kỹ thuật” mà một số ngân hàng có thể tận dụng trong cách tính các chỉ tiêu hiện hành.

Theo nhóm phân tích SHS, tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) được đề xuất thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi), với cách tiếp cận khắt khe hơn khi loại bỏ phần vốn từ thị trường 2 ra khỏi mẫu số. Đồng thời, dự thảo bổ sung và nhấn mạnh vai trò của các chuẩn thanh khoản quan trọng như: LCR (tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Trong đó, NSFR được xem là bước chuyển từ tư duy “cơ cấu nguồn vốn” sang tư duy “hành vi dòng tiền”.

Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy LEV cũng được đề cập như một tiêu chuẩn bổ sung, dù tác động thực tế được đánh giá không quá lớn. “Dự thảo này được xem như một tín hiệu cho thấy định hướng quản lý sẽ ưu tiên việc thúc đẩy hệ thống tiến gần hơn đến Basel III, qua đó tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng về năng lực quản trị thanh khoản và tiêu chuẩn hóa hệ thống” - nhóm phân tích SHS nhận định.

Tú Anh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80