Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
aa

Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026 Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB - mã CK; OCB) vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc.

Ông Phạm Hồng Hải đã có 2 năm đồng hành cùng OCB, giữ vai trò Tổng giám đốc trong giai đoạn ngân hàng này chuyển mình mạnh mẽ, thực hiện định vị, tái cấu trúc chiến lược kinh doanh tổng thể và cơ cấu tổ chức, xác định lại phân khúc khách hàng mục tiêu, tiếp tục đẩy mạnh ngân hàng số và gia tăng trải nghiệm người dùng - những yếu tố giúp OCB củng cố vị thế khác biệt trên thị trường tài chính ngân hàng.

Giai đoạn này, OCB cũng ưu tiên việc xây dựng đội ngũ nhân sự chất lượng cao, tạo nền tảng vận hành ổn định và linh hoạt để ngân hàng thích ứng với biến động của thị trường.

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành
Tổng Giám đốc Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành OCB. Ảnh tư liệu.

Chia sẻ về quyết định này, ông Phạm Hồng Hải cho biết: “Trong suốt thời gian đồng hành, tôi luôn tự tin rằng, OCB là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần nội địa thành công trong việc xây dựng được giá trị an toàn, hoạt động hiệu quả và trên hết là sự minh bạch - như chính những điều tôi đã nhìn nhận, đánh giá từ ngày đầu tiên và đó là lý do khiến tôi quyết định lựa chọn đồng hành cùng OCB”.

Đến thời điểm hiện tại, điều khiến ông Hải tự hào nhất, bên cạnh những con số tăng trưởng, là việc đã cùng OCB xây dựng được một nền tảng đủ vững, một đội ngũ đủ mạnh và một tinh thần sẵn sàng thay đổi để đi xa hơn.

Nói về quyết định rời khỏi vị trí điều hành, ông Hải cho biết, mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp đều cần những cách tiếp cận và ưu tiên khác nhau. OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới. Sự thay đổi này là thời điểm phù hợp, khi tổ chức đã sẵn sàng cho bước chuyển tiếp và bản thân ông cũng sẵn sàng cho những thử thách mới.

Rời vị trí Tổng Giám đốc tại OCB, ông Phạm Hồng Hải khẳng định sẽ tiếp tục gắn bó với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, với kinh nghiệm đã tích lũy, sẽ còn nhiều cơ hội để đóng góp, dù ở một vai trò khác.

Mới đây, OCB công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Quý I/2026, OCB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.223,6 tỷ đồng, tăng 37% cùng kỳ, tương ứng tăng thêm 330,4 tỷ đồng. Kết quả này chủ yếu đến từ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và sự cải thiện mạnh ở nhiều mảng kinh doanh cốt lõi.

Theo đó, thu nhập lãi thuần tăng 10,1%, đạt 2.382,7 tỷ đồng, tăng thêm 219,1 tỷ đồng so với cùng kỳ. Mảng dịch vụ tiếp tục ghi nhận tăng trưởng tích cực khi thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 158,5 tỷ đồng, tăng 21,3%, tương ứng tăng 27,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng đột biến lên 87 tỷ đồng, cao gấp hơn 11 lần cùng kỳ, tương ứng tăng thêm 80 tỷ đồng.

Tính chung tổng thu nhập hoạt động của OCB trong quý I đạt 2.722,3 tỷ đồng, tăng 19,8%, tương ứng tăng 449 tỷ đồng. Đáng chú ý, dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 29,4% lên 489 tỷ đồng, tương ứng tăng thêm 111 tỷ đồng, OCB vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao./.

Tính đến cuối quý I/2026, tổng tài sản của OCB đạt 344.098 tỷ đồng, tăng 6,5% so với đầu năm và tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái. Huy động thị trường 1 đạt 232.284 tỷ đồng, tăng 5,1% so với đầu năm. Dư nợ tín dụng đạt 210.428 tỷ đồng, tăng 2,6% so với đầu năm và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước.

Năm 2026, OCB đưa ra mục tiêu đầy tham vọng, lợi nhuận trước thuế đạt mức 6.960 tỷ đồng, tăng 39% so với năm 2025; tổng tài sản tăng 10% so với số thực hiện cuối năm 2025, ước đạt 354.214 tỷ đồng; tổng huy động và tổng dư nợ thị trường 1 tăng lần lượt 14% và 15%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80