Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất hạ nhẹ tại một số ngân hàng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/4 cho thấy, một số ngân hàng đã có động thái giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4 như: VietABank, VPBank, ABBank, SeABank...

Đơn cử, VietABank và VPBank đã có động thái giảm lãi suất khá rõ ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Cụ thể, tại kỳ hạn 6 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 5,8%/năm, trong khi VPBank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm còn 5,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm về 5,9%/năm, VPBank giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm xuống 6,1%/năm. Với kỳ hạn 24 tháng, cả hai ngân hàng tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất về quanh 6,1%/năm.

Đại diện VietABank cho biết, theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn tiền gửi được điều chỉnh giảm với biên độ hợp lý, vừa đảm bảo quyền lợi của khách hàng, vừa phù hợp với định hướng chung về kiểm soát chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, SeABank cũng chủ động triển khai giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi phát sinh mới trên toàn hệ thống từ ngày 10/4.

Ngay sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều ngày 9/4, đại diện ABBank cho biết, ngân hàng cũng lập tức thực hiện cắt giảm 0,5%/năm lãi suất huy động trên nhiều kỳ hạn.

lãi suất ngày 10/4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Lãi suất vẫn neo cao, nhóm dẫn đầu vẫn “giữ nhiệt”

Dù có điều chỉnh giảm cục bộ ngày 9/4, mặt bằng lãi suất 6 tháng tại các ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu quý IV/2025, với mức tăng phổ biến từ 1,3 - 3,2 điểm phần trăm. Cùng với đó, các ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất thị trường kỳ hạn 6 tháng như: HongLeong Bank, Sacombank, UOB, Techcombank, PGBank... vẫn chưa có động thái hạ lãi suất, cho thấy xu hướng tăng trước đó vẫn chưa bị đảo chiều rõ rệt.

Theo ghi nhận thực tế, một nhân viên OCB cho biết, trong hai ngày gần nhất ngân hàng vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất, song dự kiến từ thứ hai tuần tới sẽ có thông báo điều chỉnh giảm, mức giảm dự kiến khoảng 0,2 điểm phần trăm.

Nhân viên OCB này cho biết, lãi suất có thể được kéo xuống mức 7,x%/năm, trong bối cảnh có định hướng chung giảm 1 - 2% lãi suất cả ở chiều huy động và cho vay. Cùng với đó, việc tư vấn lãi suất đang được kiểm soát chặt, chỉ cập nhật theo từng ngày và không được thông tin trước.

Khảo sát lãi suất kỳ hạn 6 tháng ngày 10/4, lãi suất huy động tại các ngân hàng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ sau chỉ đạo điều hành. Đơn cử, Hong Leong Bank niêm yết mức cao nhất 7,6%/năm, tăng 3,2 điểm phần trăm so với đầu quý IV/2025. Sacombank ở mức 6,6%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm; UOB 6,2%/năm, tăng 2,2 điểm phần trăm.

Nhóm tăng trung bình gồm: Techcombank niêm yết 6,45%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; PGBank 7,1%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; BacABank 7,05%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm; Saigonbank 6,5%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; OCB 6,6%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; Public Bank niêm yết 6,3%/năm, tăng 1,5 điểm phần trăm...

Như vậy, đặt trong tương quan với làn sóng tăng lãi suất dồn dập từ đầu quý IV/2025, nhịp điều chỉnh giảm hiện tại vẫn chỉ mang tính “hạ nhiệt" nhẹ, chưa đủ để tạo dấu ấn rõ rệt trên nhiều kỳ hạn.

Theo nhận định của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), phản ứng ngay sau phiên họp, hàng loạt ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng - 1 năm trong ngày 9/4, tuy nhiên, đây chủ yếu là phản ứng mang tính ngắn hạn.

Định hướng hạ lãi suất, nhưng cuộc đua lãi suất "ngầm" mới đáng lo

Biểu lãi suất niêm yết trên thị trường thực tế còn chưa bao gồm các chương trình cộng lãi suất “ngầm” mà từng ngân hàng áp dụng. Có những nhà băng niêm yết chỉ quanh hơn 7%/năm, nhưng khi cộng ưu đãi, mức sinh lời thực tế có thể vọt lên tới 8,8%/năm.

Đơn cử, theo chính sách lãi suất huy động khách hàng cá nhân mới nhất của OCB ban hành ngày 9/4, mức lãi suất cao nhất đạt 8,8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng, với điều kiện trả lãi định kỳ 6 tháng/lần (thuộc sản phẩm tiết kiệm thả nổi hoặc Max Savings - tiền gửi sinh lời tối ưu). Đáng chú ý, mức lãi suất cộng thêm cao nhất lên tới 2,25%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi Max Savings, cho thấy biên độ ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai.

lãi suất ngày 10/4
Chính sách lãi suất huy động tại OCB. Ảnh tư liệu.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từng cảnh báo, việc xuất hiện các hình thức cộng lãi suất "ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động bước sang giai đoạn gay gắt hơn, thậm chí có dấu hiệu phá vỡ mặt bằng niêm yết chính thức. Đây là yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, bởi nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến rủi ro lệch chuẩn thị trường và làm méo mó tín hiệu chính sách tiền tệ.

Thông tin sau cuộc họp liên quan tới định hướng chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 9/4, quy tụ lãnh đạo 46 tổ chức tín dụng cho thấy, các ngân hàng thương mại dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động từ 0,5 - 1% đối với các kỳ hạn trên 6 tháng, nhằm mục tiêu lớn nhất là giảm lãi suất cho vay thực tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thế giới còn nhiều rủi ro khó đo lường.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt trên kênh liên ngân hàng và bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

Cơ quan điều hành cũng tiếp tục duy trì thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, ưu tiên phục vụ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời điều hành hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm đối với từng tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế.

Cùng với đó là định hướng xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, đặc biệt là việc cho phép tính tiền gửi Kho bạc nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi và loại trừ vốn vay liên ngân hàng ngắn hạn khỏi mẫu số khi tính tỷ lệ này./.

Thanh khoản là “nút thắt”, hạ lãi suất phải dè chừng áp lực tỷ giá, lạm phát

Theo nhóm phân tích ACBS, để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất lâu dài, việc quan trọng vẫn là bù đắp được nhu cầu thanh khoản thực tế của hệ thống, cũng như giải quyết bài toán về các chỉ số an toàn thanh khoản.

Nhóm phân tích cũng lưu ý, việc mở rộng cung tiền và giảm lãi suất cũng tạo ra áp lực nhất định lên tỷ giá và lạm phát. Trong ba tháng đầu năm, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao so với USD, cùng với nguồn kiều hối dồi dào đã góp phần cân bằng tỷ giá trong bối cảnh nhập siêu khoảng 3,64 USD từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ giá vẫn là rủi ro cần lưu ý, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đối mặt với thách thức từ lạm phát chi phí đẩy như: thuế quan và giá dầu neo cao, khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước không còn nhiều. Đồng thời, giá dầu duy trì ở mức cao cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát nếu đi cùng với việc mở rộng cung tiền nhanh trong thời gian ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17690 17963 18538
CAD 18079 18354 18969
CHF 31610 31990 32630
CNY 0 3833 3925
EUR 29288 29508 30582
GBP 34271 34662 35592
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14902 15491
SGD 19766 20048 20613
THB 699 762 815
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,079 26,129 26,450
USD20 26,079 26,129 26,450
USD1 26,079 26,129 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,253 29,353 31,009
CAD 18,174 18,274 19,580
SGD 19,998 20,148 20,820
JPY 158.69 160.19 165.75
GBP 34,463 34,613 35,675
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80