Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất hạ nhẹ tại một số ngân hàng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/4 cho thấy, một số ngân hàng đã có động thái giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4 như: VietABank, VPBank, ABBank, SeABank...

Đơn cử, VietABank và VPBank đã có động thái giảm lãi suất khá rõ ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Cụ thể, tại kỳ hạn 6 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 5,8%/năm, trong khi VPBank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm còn 5,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm về 5,9%/năm, VPBank giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm xuống 6,1%/năm. Với kỳ hạn 24 tháng, cả hai ngân hàng tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất về quanh 6,1%/năm.

Đại diện VietABank cho biết, theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn tiền gửi được điều chỉnh giảm với biên độ hợp lý, vừa đảm bảo quyền lợi của khách hàng, vừa phù hợp với định hướng chung về kiểm soát chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, SeABank cũng chủ động triển khai giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi phát sinh mới trên toàn hệ thống từ ngày 10/4.

Ngay sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều ngày 9/4, đại diện ABBank cho biết, ngân hàng cũng lập tức thực hiện cắt giảm 0,5%/năm lãi suất huy động trên nhiều kỳ hạn.

lãi suất ngày 10/4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Lãi suất vẫn neo cao, nhóm dẫn đầu vẫn “giữ nhiệt”

Dù có điều chỉnh giảm cục bộ ngày 9/4, mặt bằng lãi suất 6 tháng tại các ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu quý IV/2025, với mức tăng phổ biến từ 1,3 - 3,2 điểm phần trăm. Cùng với đó, các ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất thị trường kỳ hạn 6 tháng như: HongLeong Bank, Sacombank, UOB, Techcombank, PGBank... vẫn chưa có động thái hạ lãi suất, cho thấy xu hướng tăng trước đó vẫn chưa bị đảo chiều rõ rệt.

Theo ghi nhận thực tế, một nhân viên OCB cho biết, trong hai ngày gần nhất ngân hàng vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất, song dự kiến từ thứ hai tuần tới sẽ có thông báo điều chỉnh giảm, mức giảm dự kiến khoảng 0,2 điểm phần trăm.

Nhân viên OCB này cho biết, lãi suất có thể được kéo xuống mức 7,x%/năm, trong bối cảnh có định hướng chung giảm 1 - 2% lãi suất cả ở chiều huy động và cho vay. Cùng với đó, việc tư vấn lãi suất đang được kiểm soát chặt, chỉ cập nhật theo từng ngày và không được thông tin trước.

Khảo sát lãi suất kỳ hạn 6 tháng ngày 10/4, lãi suất huy động tại các ngân hàng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ sau chỉ đạo điều hành. Đơn cử, Hong Leong Bank niêm yết mức cao nhất 7,6%/năm, tăng 3,2 điểm phần trăm so với đầu quý IV/2025. Sacombank ở mức 6,6%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm; UOB 6,2%/năm, tăng 2,2 điểm phần trăm.

Nhóm tăng trung bình gồm: Techcombank niêm yết 6,45%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; PGBank 7,1%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; BacABank 7,05%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm; Saigonbank 6,5%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; OCB 6,6%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; Public Bank niêm yết 6,3%/năm, tăng 1,5 điểm phần trăm...

Như vậy, đặt trong tương quan với làn sóng tăng lãi suất dồn dập từ đầu quý IV/2025, nhịp điều chỉnh giảm hiện tại vẫn chỉ mang tính “hạ nhiệt" nhẹ, chưa đủ để tạo dấu ấn rõ rệt trên nhiều kỳ hạn.

Theo nhận định của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), phản ứng ngay sau phiên họp, hàng loạt ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng - 1 năm trong ngày 9/4, tuy nhiên, đây chủ yếu là phản ứng mang tính ngắn hạn.

Định hướng hạ lãi suất, nhưng cuộc đua lãi suất "ngầm" mới đáng lo

Biểu lãi suất niêm yết trên thị trường thực tế còn chưa bao gồm các chương trình cộng lãi suất “ngầm” mà từng ngân hàng áp dụng. Có những nhà băng niêm yết chỉ quanh hơn 7%/năm, nhưng khi cộng ưu đãi, mức sinh lời thực tế có thể vọt lên tới 8,8%/năm.

Đơn cử, theo chính sách lãi suất huy động khách hàng cá nhân mới nhất của OCB ban hành ngày 9/4, mức lãi suất cao nhất đạt 8,8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng, với điều kiện trả lãi định kỳ 6 tháng/lần (thuộc sản phẩm tiết kiệm thả nổi hoặc Max Savings - tiền gửi sinh lời tối ưu). Đáng chú ý, mức lãi suất cộng thêm cao nhất lên tới 2,25%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi Max Savings, cho thấy biên độ ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai.

lãi suất ngày 10/4
Chính sách lãi suất huy động tại OCB. Ảnh tư liệu.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từng cảnh báo, việc xuất hiện các hình thức cộng lãi suất "ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động bước sang giai đoạn gay gắt hơn, thậm chí có dấu hiệu phá vỡ mặt bằng niêm yết chính thức. Đây là yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, bởi nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến rủi ro lệch chuẩn thị trường và làm méo mó tín hiệu chính sách tiền tệ.

Thông tin sau cuộc họp liên quan tới định hướng chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 9/4, quy tụ lãnh đạo 46 tổ chức tín dụng cho thấy, các ngân hàng thương mại dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động từ 0,5 - 1% đối với các kỳ hạn trên 6 tháng, nhằm mục tiêu lớn nhất là giảm lãi suất cho vay thực tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thế giới còn nhiều rủi ro khó đo lường.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt trên kênh liên ngân hàng và bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

Cơ quan điều hành cũng tiếp tục duy trì thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, ưu tiên phục vụ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời điều hành hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm đối với từng tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế.

Cùng với đó là định hướng xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, đặc biệt là việc cho phép tính tiền gửi Kho bạc nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi và loại trừ vốn vay liên ngân hàng ngắn hạn khỏi mẫu số khi tính tỷ lệ này./.

Thanh khoản là “nút thắt”, hạ lãi suất phải dè chừng áp lực tỷ giá, lạm phát

Theo nhóm phân tích ACBS, để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất lâu dài, việc quan trọng vẫn là bù đắp được nhu cầu thanh khoản thực tế của hệ thống, cũng như giải quyết bài toán về các chỉ số an toàn thanh khoản.

Nhóm phân tích cũng lưu ý, việc mở rộng cung tiền và giảm lãi suất cũng tạo ra áp lực nhất định lên tỷ giá và lạm phát. Trong ba tháng đầu năm, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao so với USD, cùng với nguồn kiều hối dồi dào đã góp phần cân bằng tỷ giá trong bối cảnh nhập siêu khoảng 3,64 USD từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ giá vẫn là rủi ro cần lưu ý, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đối mặt với thách thức từ lạm phát chi phí đẩy như: thuế quan và giá dầu neo cao, khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước không còn nhiều. Đồng thời, giá dầu duy trì ở mức cao cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát nếu đi cùng với việc mở rộng cung tiền nhanh trong thời gian ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

(TBTCO) - Cục Hải quan vừa bổ sung Ngân hàng Bank of Communications (BOCOM) - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) và nộp thuế điện tử 24/7. Việc mở rộng thêm ngân hàng phối hợp thu giúp doanh nghiệp có thêm kênh thanh toán thuế nhanh chóng, giảm thời gian thông quan.
Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

(TBTCO) - Chuyển đổi số đang mở ra cách tiếp cận mới cho ngành bảo hiểm: không chỉ mở rộng kênh phân phối, mà còn giúp doanh nghiệp hiện diện đúng lúc, đúng nhu cầu và đúng bối cảnh trong hành trình tài chính của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 26/05/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18354 18630 19206
CAD 18545 18822 19440
CHF 33075 33461 34097
CNY 0 3844 3936
EUR 30048 30321 31352
GBP 34757 35150 36084
HKD 0 3233 3435
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15159 15750
SGD 20090 20373 20899
THB 727 790 843
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,256 30,280 31,540
JPY 161.84 162.13 170.93
GBP 35,006 35,101 36,102
AUD 18,594 18,661 19,263
CAD 18,786 18,846 19,433
CHF 33,397 33,501 34,294
SGD 20,268 20,331 21,011
CNY - 3,824 3,947
HKD 3,307 3,317 3,435
KRW 16.12 16.81 18.19
THB 776.68 786.27 836.69
NZD 15,191 15,332 15,697
SEK - 2,797 2,879
DKK - 4,049 4,167
NOK - 2,812 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,246.13 - 7,012.46
TWD 759.19 - 914.39
SAR - 6,926.08 7,252.83
KWD - 83,883 88,734
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26200 26200 26392
AUD 18535 18635 19563
CAD 18726 18826 19842
CHF 33309 33339 34931
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30229 30259 31987
GBP 35057 35107 36870
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15267 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20248 20378 21109
THB 0 756.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80