Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất hạ nhẹ tại một số ngân hàng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/4 cho thấy, một số ngân hàng đã có động thái giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4 như: VietABank, VPBank, ABBank, SeABank...

Đơn cử, VietABank và VPBank đã có động thái giảm lãi suất khá rõ ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Cụ thể, tại kỳ hạn 6 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 5,8%/năm, trong khi VPBank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm còn 5,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm về 5,9%/năm, VPBank giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm xuống 6,1%/năm. Với kỳ hạn 24 tháng, cả hai ngân hàng tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất về quanh 6,1%/năm.

Đại diện VietABank cho biết, theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn tiền gửi được điều chỉnh giảm với biên độ hợp lý, vừa đảm bảo quyền lợi của khách hàng, vừa phù hợp với định hướng chung về kiểm soát chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, SeABank cũng chủ động triển khai giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi phát sinh mới trên toàn hệ thống từ ngày 10/4.

Ngay sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều ngày 9/4, đại diện ABBank cho biết, ngân hàng cũng lập tức thực hiện cắt giảm 0,5%/năm lãi suất huy động trên nhiều kỳ hạn.

lãi suất ngày 10/4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Lãi suất vẫn neo cao, nhóm dẫn đầu vẫn “giữ nhiệt”

Dù có điều chỉnh giảm cục bộ ngày 9/4, mặt bằng lãi suất 6 tháng tại các ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu quý IV/2025, với mức tăng phổ biến từ 1,3 - 3,2 điểm phần trăm. Cùng với đó, các ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất thị trường kỳ hạn 6 tháng như: HongLeong Bank, Sacombank, UOB, Techcombank, PGBank... vẫn chưa có động thái hạ lãi suất, cho thấy xu hướng tăng trước đó vẫn chưa bị đảo chiều rõ rệt.

Theo ghi nhận thực tế, một nhân viên OCB cho biết, trong hai ngày gần nhất ngân hàng vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất, song dự kiến từ thứ hai tuần tới sẽ có thông báo điều chỉnh giảm, mức giảm dự kiến khoảng 0,2 điểm phần trăm.

Nhân viên OCB này cho biết, lãi suất có thể được kéo xuống mức 7,x%/năm, trong bối cảnh có định hướng chung giảm 1 - 2% lãi suất cả ở chiều huy động và cho vay. Cùng với đó, việc tư vấn lãi suất đang được kiểm soát chặt, chỉ cập nhật theo từng ngày và không được thông tin trước.

Khảo sát lãi suất kỳ hạn 6 tháng ngày 10/4, lãi suất huy động tại các ngân hàng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ sau chỉ đạo điều hành. Đơn cử, Hong Leong Bank niêm yết mức cao nhất 7,6%/năm, tăng 3,2 điểm phần trăm so với đầu quý IV/2025. Sacombank ở mức 6,6%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm; UOB 6,2%/năm, tăng 2,2 điểm phần trăm.

Nhóm tăng trung bình gồm: Techcombank niêm yết 6,45%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; PGBank 7,1%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; BacABank 7,05%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm; Saigonbank 6,5%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; OCB 6,6%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; Public Bank niêm yết 6,3%/năm, tăng 1,5 điểm phần trăm...

Như vậy, đặt trong tương quan với làn sóng tăng lãi suất dồn dập từ đầu quý IV/2025, nhịp điều chỉnh giảm hiện tại vẫn chỉ mang tính “hạ nhiệt" nhẹ, chưa đủ để tạo dấu ấn rõ rệt trên nhiều kỳ hạn.

Theo nhận định của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), phản ứng ngay sau phiên họp, hàng loạt ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng - 1 năm trong ngày 9/4, tuy nhiên, đây chủ yếu là phản ứng mang tính ngắn hạn.

Định hướng hạ lãi suất, nhưng cuộc đua lãi suất "ngầm" mới đáng lo

Biểu lãi suất niêm yết trên thị trường thực tế còn chưa bao gồm các chương trình cộng lãi suất “ngầm” mà từng ngân hàng áp dụng. Có những nhà băng niêm yết chỉ quanh hơn 7%/năm, nhưng khi cộng ưu đãi, mức sinh lời thực tế có thể vọt lên tới 8,8%/năm.

Đơn cử, theo chính sách lãi suất huy động khách hàng cá nhân mới nhất của OCB ban hành ngày 9/4, mức lãi suất cao nhất đạt 8,8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng, với điều kiện trả lãi định kỳ 6 tháng/lần (thuộc sản phẩm tiết kiệm thả nổi hoặc Max Savings - tiền gửi sinh lời tối ưu). Đáng chú ý, mức lãi suất cộng thêm cao nhất lên tới 2,25%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi Max Savings, cho thấy biên độ ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai.

lãi suất ngày 10/4
Chính sách lãi suất huy động tại OCB. Ảnh tư liệu.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từng cảnh báo, việc xuất hiện các hình thức cộng lãi suất "ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động bước sang giai đoạn gay gắt hơn, thậm chí có dấu hiệu phá vỡ mặt bằng niêm yết chính thức. Đây là yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, bởi nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến rủi ro lệch chuẩn thị trường và làm méo mó tín hiệu chính sách tiền tệ.

Thông tin sau cuộc họp liên quan tới định hướng chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 9/4, quy tụ lãnh đạo 46 tổ chức tín dụng cho thấy, các ngân hàng thương mại dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động từ 0,5 - 1% đối với các kỳ hạn trên 6 tháng, nhằm mục tiêu lớn nhất là giảm lãi suất cho vay thực tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thế giới còn nhiều rủi ro khó đo lường.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt trên kênh liên ngân hàng và bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

Cơ quan điều hành cũng tiếp tục duy trì thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, ưu tiên phục vụ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời điều hành hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm đối với từng tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế.

Cùng với đó là định hướng xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, đặc biệt là việc cho phép tính tiền gửi Kho bạc nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi và loại trừ vốn vay liên ngân hàng ngắn hạn khỏi mẫu số khi tính tỷ lệ này./.

Thanh khoản là “nút thắt”, hạ lãi suất phải dè chừng áp lực tỷ giá, lạm phát

Theo nhóm phân tích ACBS, để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất lâu dài, việc quan trọng vẫn là bù đắp được nhu cầu thanh khoản thực tế của hệ thống, cũng như giải quyết bài toán về các chỉ số an toàn thanh khoản.

Nhóm phân tích cũng lưu ý, việc mở rộng cung tiền và giảm lãi suất cũng tạo ra áp lực nhất định lên tỷ giá và lạm phát. Trong ba tháng đầu năm, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao so với USD, cùng với nguồn kiều hối dồi dào đã góp phần cân bằng tỷ giá trong bối cảnh nhập siêu khoảng 3,64 USD từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ giá vẫn là rủi ro cần lưu ý, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đối mặt với thách thức từ lạm phát chi phí đẩy như: thuế quan và giá dầu neo cao, khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước không còn nhiều. Đồng thời, giá dầu duy trì ở mức cao cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát nếu đi cùng với việc mở rộng cung tiền nhanh trong thời gian ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngân hàng