Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất hạ nhẹ tại một số ngân hàng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/4 cho thấy, một số ngân hàng đã có động thái giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 9/4 như: VietABank, VPBank, ABBank, SeABank...

Đơn cử, VietABank và VPBank đã có động thái giảm lãi suất khá rõ ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Cụ thể, tại kỳ hạn 6 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 5,8%/năm, trong khi VPBank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm còn 5,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm về 5,9%/năm, VPBank giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm xuống 6,1%/năm. Với kỳ hạn 24 tháng, cả hai ngân hàng tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất về quanh 6,1%/năm.

Đại diện VietABank cho biết, theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn tiền gửi được điều chỉnh giảm với biên độ hợp lý, vừa đảm bảo quyền lợi của khách hàng, vừa phù hợp với định hướng chung về kiểm soát chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, SeABank cũng chủ động triển khai giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi phát sinh mới trên toàn hệ thống từ ngày 10/4.

Ngay sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều ngày 9/4, đại diện ABBank cho biết, ngân hàng cũng lập tức thực hiện cắt giảm 0,5%/năm lãi suất huy động trên nhiều kỳ hạn.

lãi suất ngày 10/4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Lãi suất vẫn neo cao, nhóm dẫn đầu vẫn “giữ nhiệt”

Dù có điều chỉnh giảm cục bộ ngày 9/4, mặt bằng lãi suất 6 tháng tại các ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu quý IV/2025, với mức tăng phổ biến từ 1,3 - 3,2 điểm phần trăm. Cùng với đó, các ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất thị trường kỳ hạn 6 tháng như: HongLeong Bank, Sacombank, UOB, Techcombank, PGBank... vẫn chưa có động thái hạ lãi suất, cho thấy xu hướng tăng trước đó vẫn chưa bị đảo chiều rõ rệt.

Theo ghi nhận thực tế, một nhân viên OCB cho biết, trong hai ngày gần nhất ngân hàng vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất, song dự kiến từ thứ hai tuần tới sẽ có thông báo điều chỉnh giảm, mức giảm dự kiến khoảng 0,2 điểm phần trăm.

Nhân viên OCB này cho biết, lãi suất có thể được kéo xuống mức 7,x%/năm, trong bối cảnh có định hướng chung giảm 1 - 2% lãi suất cả ở chiều huy động và cho vay. Cùng với đó, việc tư vấn lãi suất đang được kiểm soát chặt, chỉ cập nhật theo từng ngày và không được thông tin trước.

Khảo sát lãi suất kỳ hạn 6 tháng ngày 10/4, lãi suất huy động tại các ngân hàng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ sau chỉ đạo điều hành. Đơn cử, Hong Leong Bank niêm yết mức cao nhất 7,6%/năm, tăng 3,2 điểm phần trăm so với đầu quý IV/2025. Sacombank ở mức 6,6%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm; UOB 6,2%/năm, tăng 2,2 điểm phần trăm.

Nhóm tăng trung bình gồm: Techcombank niêm yết 6,45%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; PGBank 7,1%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; BacABank 7,05%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm; Saigonbank 6,5%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; OCB 6,6%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; Public Bank niêm yết 6,3%/năm, tăng 1,5 điểm phần trăm...

Như vậy, đặt trong tương quan với làn sóng tăng lãi suất dồn dập từ đầu quý IV/2025, nhịp điều chỉnh giảm hiện tại vẫn chỉ mang tính “hạ nhiệt" nhẹ, chưa đủ để tạo dấu ấn rõ rệt trên nhiều kỳ hạn.

Theo nhận định của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), phản ứng ngay sau phiên họp, hàng loạt ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng - 1 năm trong ngày 9/4, tuy nhiên, đây chủ yếu là phản ứng mang tính ngắn hạn.

Định hướng hạ lãi suất, nhưng cuộc đua lãi suất "ngầm" mới đáng lo

Biểu lãi suất niêm yết trên thị trường thực tế còn chưa bao gồm các chương trình cộng lãi suất “ngầm” mà từng ngân hàng áp dụng. Có những nhà băng niêm yết chỉ quanh hơn 7%/năm, nhưng khi cộng ưu đãi, mức sinh lời thực tế có thể vọt lên tới 8,8%/năm.

Đơn cử, theo chính sách lãi suất huy động khách hàng cá nhân mới nhất của OCB ban hành ngày 9/4, mức lãi suất cao nhất đạt 8,8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng, với điều kiện trả lãi định kỳ 6 tháng/lần (thuộc sản phẩm tiết kiệm thả nổi hoặc Max Savings - tiền gửi sinh lời tối ưu). Đáng chú ý, mức lãi suất cộng thêm cao nhất lên tới 2,25%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi Max Savings, cho thấy biên độ ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai.

lãi suất ngày 10/4
Chính sách lãi suất huy động tại OCB. Ảnh tư liệu.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từng cảnh báo, việc xuất hiện các hình thức cộng lãi suất "ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động bước sang giai đoạn gay gắt hơn, thậm chí có dấu hiệu phá vỡ mặt bằng niêm yết chính thức. Đây là yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, bởi nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến rủi ro lệch chuẩn thị trường và làm méo mó tín hiệu chính sách tiền tệ.

Thông tin sau cuộc họp liên quan tới định hướng chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 9/4, quy tụ lãnh đạo 46 tổ chức tín dụng cho thấy, các ngân hàng thương mại dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động từ 0,5 - 1% đối với các kỳ hạn trên 6 tháng, nhằm mục tiêu lớn nhất là giảm lãi suất cho vay thực tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thế giới còn nhiều rủi ro khó đo lường.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt trên kênh liên ngân hàng và bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

Cơ quan điều hành cũng tiếp tục duy trì thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, ưu tiên phục vụ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời điều hành hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm đối với từng tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế.

Cùng với đó là định hướng xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, đặc biệt là việc cho phép tính tiền gửi Kho bạc nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi và loại trừ vốn vay liên ngân hàng ngắn hạn khỏi mẫu số khi tính tỷ lệ này./.

Thanh khoản là “nút thắt”, hạ lãi suất phải dè chừng áp lực tỷ giá, lạm phát

Theo nhóm phân tích ACBS, để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất lâu dài, việc quan trọng vẫn là bù đắp được nhu cầu thanh khoản thực tế của hệ thống, cũng như giải quyết bài toán về các chỉ số an toàn thanh khoản.

Nhóm phân tích cũng lưu ý, việc mở rộng cung tiền và giảm lãi suất cũng tạo ra áp lực nhất định lên tỷ giá và lạm phát. Trong ba tháng đầu năm, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao so với USD, cùng với nguồn kiều hối dồi dào đã góp phần cân bằng tỷ giá trong bối cảnh nhập siêu khoảng 3,64 USD từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ giá vẫn là rủi ro cần lưu ý, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đối mặt với thách thức từ lạm phát chi phí đẩy như: thuế quan và giá dầu neo cao, khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước không còn nhiều. Đồng thời, giá dầu duy trì ở mức cao cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát nếu đi cùng với việc mở rộng cung tiền nhanh trong thời gian ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80