Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
aa

Nhiều nhà băng chủ động “phanh gấp”

Bức tranh dư nợ kinh doanh bất động sản quý I/2026 cho thấy sự phân hóa mạnh giữa các ngân hàng, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước siết định hướng tín dụng vào lĩnh vực này sau giai đoạn tăng trưởng nóng kéo dài. Đồng thời, hệ thống ngân hàng cũng đối mặt áp lực thanh khoản do lệch pha giữa vốn huy động ngắn hạn và cho vay trung dài hạn, trong khi dòng vốn bị “chôn” tại các dự án kéo dài khiến vòng quay vốn chậm, chưa kể nguy cơ nợ xấu có thể gia tăng.

Dữ liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 thể hiện rõ đà tăng tín dụng kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng đã chậm lại đáng kể.

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản
Nguồn: Báo cáo tài chính quý I/2026 các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Đáng chú ý, có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ bất động sản giảm so với đầu năm, đó là KienlongBank (giảm 18,2%); Techcombank (giảm 3,9%) và LPBank (giảm 2,5%).

Cùng với đó, tốc độ tăng dư nợ kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng đã giảm rõ rệt trong quý đầu năm 2026, sau giai đoạn tăng nóng kéo dài trước đó.

Đơn cử, dư nợ kinh doanh bất động sản của VIB quý I/2026 đạt 24.006,8 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cuối năm 2025, thấp hơn đáng kể tốc độ tăng theo quý của các giai đoạn trước như: 27,8% (quý IV/2025); 62,4% (quý III/2025). Vì vậy, khi so với cùng kỳ năm trước, dư nợ lĩnh vực này của VIB vẫn cao nhất nhóm khảo sát 237,4%, do cùng kỳ quý I/2025 chỉ ở mức 7.114,5 tỷ đồng.

Tương tự, dư nợ kinh doanh bất động sản của MB quý I/2026 đạt 131.895,5 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2025, đây là quý đầu tiên tăng trưởng một chữ số sau 6 quý liên tiếp duy trì mức tăng hai chữ số.

Dù hiện mới có số liệu cho vay kinh doanh bất động sản, chưa bao gồm cho vay mua nhà, nhưng xu hướng đã phần nào phản ánh chiến lược tín dụng của từng ngân hàng.

Tìm động lực tăng trưởng mới ngoài bất động sản

Ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank nhận định, bất động sản vẫn là lĩnh vực sẽ tiếp tục được theo sát và kiểm soát trong thời gian tới. Ngân hàng đang tìm kiếm cơ hội mở rộng sang các ngành mới, nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng, liên quan đến tiêu dùng của người dân, hay xây dựng, đầu tư công và phát triển hạ tầng, nhằm đa dạng hóa danh mục tín dụng.

Điểm đáng lưu ý trong điều hành chính sách tín dụng năm nay, đó là Ngân hàng Nhà nước đã phát tín hiệu “tuýt còi” các ngân hàng có tốc độ tăng tín dụng bất động sản cao hơn tăng trưởng tín dụng chung. Theo đó, các nhà băng này có thể đối mặt nguy cơ bị hạn chế room tín dụng trong các quý tới nếu tiếp tục đẩy vốn vào bất động sản quá mạnh.

Một số ngân hàng vẫn ghi nhận dư nợ bất động sản tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng nói chung, như: VIB tăng 13,8% cho vay kinh doanh bất động sản, dù cho vay khách hàng nói chung chỉ tăng 1,1%; PGBank tăng 14,7%, trong khi cho vay giảm 4,2%. Điều này có thể khiến các nhà băng chịu áp lực giám sát lớn hơn từ cơ quan điều hành.

Chọn lọc dự án, tránh để thị trường phát triển quá “nóng”

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo thống kê, ổn định tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, dòng vốn hiện đang chảy vào bất động sản với tỷ lệ cao. Nếu ưu tiên quá mức cho một lĩnh vực như bất động sản thì các ngành nghề khác sẽ khó tiếp cận vốn, trong khi phần lớn số lượng doanh nghiệp hiện là là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, nếu nhóm này không tiếp cận được nguồn vốn, cơ quan quản lý buộc phải điều tiết lại dòng tín dụng cho phù hợp.

“Ngành ngân hàng sẽ tiếp tục tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro” - ông Lân nhấn mạnh.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank cho biết, Nhà nước đưa ra một số tín hiệu nhằm kiểm soát các phân khúc bất động sản và đây là định hướng hợp lý để tránh thị trường phát triển quá nóng, gây rủi ro.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo ngân hàng VPBank, bất động sản trong dài hạn vẫn là ngành kinh tế quan trọng, vấn đề cốt lõi là phát triển theo định hướng phù hợp, để vừa đóng góp cho nền kinh tế, vừa hỗ trợ hoạt động ngân hàng. VPBank hiện là một trong những ngân hàng tham gia tài trợ mạnh cho lĩnh vực bất động sản cũng như cho vay người mua nhà, bởi nhu cầu sở hữu nhà ở vẫn là nhu cầu lớn của người dân.

Cùng chung quan điểm, ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Techcombank cho rằng, lĩnh vực bất động sản cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và cơ quan quản lý phát đi những tín hiệu rõ ràng. Ngân hàng cũng không muốn phụ thuộc quá lớn vào một lĩnh vực, bởi khi thị trường gặp rủi ro, tốc độ phát triển của ngân hàng cũng có thể bị chậm lại.

Dù vậy, lãnh đạo ngân hàng Techcombank nhận định trong 5 - 10 năm tới, bất động sản vẫn sẽ là một lĩnh vực tiếp tục phát triển tại Việt Nam. Theo đó, vấn đề quan trọng là cách kiểm soát rủi ro ra sao.

Dẫn chứng tại Ngân hàng DBS (Singapore) có hơn 50% danh mục tín dụng là cho vay mua bất động sản, Tổng Giám đốc Techcombank Jens Lottner cũng cho rằng, vấn đề quan trọng không nằm ở tỷ trọng cho vay, mà là cách quản lý danh mục và kiểm soát rủi ro.

Tại VPBank, Tổng Giám đốc Nguyễn Đức Vinh cho biết, trong mảng bất động sản, ngân hàng đã có những điều chỉnh, tập trung ưu tiên vào việc tài trợ cho các dự án nhà ở, đặc biệt nhà ở xã hội, nhà ở phân khúc trung bình và khá. Đồng thời, hạn chế đầu tư vào những phân khúc cao cấp, đặc biệt hạn chế các dự án nghỉ dưỡng.

“Một trong số những bài học trong quá khứ rút ra trong 3 năm tài trợ cho bất động sản, chúng tôi cũng gặp một số dự án không hiệu quả. Vì thiếu cơ sở pháp lý dẫn đến dự án có thể tồn đọng trong 3 - 4 năm, làm quá trình thu hồi vốn cho vay chậm và là một trong những nguyên nhân tạo ra nợ xấu” - ông Vinh bày tỏ.

Khẩu vị thận trọng với tín dụng bất động sản, duy trì nợ xấu thấp

Trong hệ thống, không ít nhà băng duy trì tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức thấp và chủ động mở rộng danh mục tín dụng sang các lĩnh vực khác.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, ACB hiện là một trong những ngân hàng có tỷ lệ cho vay các công ty bất động sản thấp nhất thị trường, với dư nợ cho vay lĩnh vực này chỉ dưới 5% tổng danh mục cho vay. ACB lựa chọn hợp tác với những doanh nghiệp bất động sản tốt, đặc biệt ở phân khúc nhà ở trung bình, nhằm gia tăng lợi ích cho khách hàng và các bên liên quan. Ngân hàng cũng sẽ tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp để đảm bảo an toàn hoạt động trong trung dài hạn.

Cũng theo ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB, ngân hàng duy trì hoạt động tín dụng ở cả ba phân khúc gồm khách hàng lớn, khách hàng vừa và nhỏ, cùng khách hàng cá nhân. Theo lãnh đạo MB, tổng dư nợ bất động sản hiện chiếm dưới 12% tổng dư nợ của ngân hàng, trong đó, cho vay kinh doanh bất động sản ở mức khoảng 10% và được Hội đồng quản trị giám sát chặt dưới ngưỡng 12%.

Tỷ lệ nợ xấu bất động sản của MB hiện rất thấp, thậm chí thấp hơn cả mức nợ xấu chung của ngân hàng là 1,12% trong năm trước; đồng thời, lãnh đạo MB khẳng định, ngân hàng luôn duy trì sự thận trọng với tín dụng bất động sản trong nhiều năm qua.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17664 17937 18513
CAD 18044 18319 18934
CHF 31605 31985 32627
CNY 0 3829 3922
EUR 29269 29489 30567
GBP 34264 34655 35586
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14885 15469
SGD 19752 20033 20610
THB 699 762 815
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26026 0 0
USD (50,100) 26055 26069 26429
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,389 29,413 30,814
JPY 157.33 157.61 167.11
GBP 34,436 34,529 35,713
AUD 17,832 17,896 18,572
CAD 18,216 18,274 18,944
CHF 31,841 31,940 32,880
SGD 19,864 19,926 20,709
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.21 16.9 18.39
THB 747.41 756.64 810.27
NZD 14,840 14,978 15,420
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,932 4,070
NOK - 2,640 2,734
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,013.38 - 6,789.76
TWD 736.1 - 891.68
SAR - 6,874 7,239.79
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26050 26050 26486
AUD 17815 17915 18837
CAD 18215 18315 19329
CHF 31839 31869 33455
CNY 3808 3833 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29439 29469 31194
GBP 34549 34599 36354
HKD 0 3355 0
JPY 158.15 158.65 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14986 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19893 20023 20754
THB 0 727.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14410000 14410000 14710000
SBJ 13000000 13000000 14710000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,090 26,140 26,450
USD20 26,090 26,140 26,450
USD1 26,090 26,140 26,450
AUD 17,877 17,977 19,085
EUR 29,260 29,360 31,016
CAD 18,169 18,269 19,577
SGD 19,981 20,131 20,820
JPY 158.74 160.24 165.77
GBP 34,473 34,623 35,685
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80