Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
aa

Nhiều nhà băng chủ động “phanh gấp”

Bức tranh dư nợ kinh doanh bất động sản quý I/2026 cho thấy sự phân hóa mạnh giữa các ngân hàng, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước siết định hướng tín dụng vào lĩnh vực này sau giai đoạn tăng trưởng nóng kéo dài. Đồng thời, hệ thống ngân hàng cũng đối mặt áp lực thanh khoản do lệch pha giữa vốn huy động ngắn hạn và cho vay trung dài hạn, trong khi dòng vốn bị “chôn” tại các dự án kéo dài khiến vòng quay vốn chậm, chưa kể nguy cơ nợ xấu có thể gia tăng.

Dữ liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 thể hiện rõ đà tăng tín dụng kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng đã chậm lại đáng kể.

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản
Nguồn: Báo cáo tài chính quý I/2026 các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Đáng chú ý, có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ bất động sản giảm so với đầu năm, đó là KienlongBank (giảm 18,2%); Techcombank (giảm 3,9%) và LPBank (giảm 2,5%).

Cùng với đó, tốc độ tăng dư nợ kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng đã giảm rõ rệt trong quý đầu năm 2026, sau giai đoạn tăng nóng kéo dài trước đó.

Đơn cử, dư nợ kinh doanh bất động sản của VIB quý I/2026 đạt 24.006,8 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cuối năm 2025, thấp hơn đáng kể tốc độ tăng theo quý của các giai đoạn trước như: 27,8% (quý IV/2025); 62,4% (quý III/2025). Vì vậy, khi so với cùng kỳ năm trước, dư nợ lĩnh vực này của VIB vẫn cao nhất nhóm khảo sát 237,4%, do cùng kỳ quý I/2025 chỉ ở mức 7.114,5 tỷ đồng.

Tương tự, dư nợ kinh doanh bất động sản của MB quý I/2026 đạt 131.895,5 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2025, đây là quý đầu tiên tăng trưởng một chữ số sau 6 quý liên tiếp duy trì mức tăng hai chữ số.

Dù hiện mới có số liệu cho vay kinh doanh bất động sản, chưa bao gồm cho vay mua nhà, nhưng xu hướng đã phần nào phản ánh chiến lược tín dụng của từng ngân hàng.

Tìm động lực tăng trưởng mới ngoài bất động sản

Ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank nhận định, bất động sản vẫn là lĩnh vực sẽ tiếp tục được theo sát và kiểm soát trong thời gian tới. Ngân hàng đang tìm kiếm cơ hội mở rộng sang các ngành mới, nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng, liên quan đến tiêu dùng của người dân, hay xây dựng, đầu tư công và phát triển hạ tầng, nhằm đa dạng hóa danh mục tín dụng.

Điểm đáng lưu ý trong điều hành chính sách tín dụng năm nay, đó là Ngân hàng Nhà nước đã phát tín hiệu “tuýt còi” các ngân hàng có tốc độ tăng tín dụng bất động sản cao hơn tăng trưởng tín dụng chung. Theo đó, các nhà băng này có thể đối mặt nguy cơ bị hạn chế room tín dụng trong các quý tới nếu tiếp tục đẩy vốn vào bất động sản quá mạnh.

Một số ngân hàng vẫn ghi nhận dư nợ bất động sản tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng nói chung, như: VIB tăng 13,8% cho vay kinh doanh bất động sản, dù cho vay khách hàng nói chung chỉ tăng 1,1%; PGBank tăng 14,7%, trong khi cho vay giảm 4,2%. Điều này có thể khiến các nhà băng chịu áp lực giám sát lớn hơn từ cơ quan điều hành.

Chọn lọc dự án, tránh để thị trường phát triển quá “nóng”

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo thống kê, ổn định tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, dòng vốn hiện đang chảy vào bất động sản với tỷ lệ cao. Nếu ưu tiên quá mức cho một lĩnh vực như bất động sản thì các ngành nghề khác sẽ khó tiếp cận vốn, trong khi phần lớn số lượng doanh nghiệp hiện là là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, nếu nhóm này không tiếp cận được nguồn vốn, cơ quan quản lý buộc phải điều tiết lại dòng tín dụng cho phù hợp.

“Ngành ngân hàng sẽ tiếp tục tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro” - ông Lân nhấn mạnh.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank cho biết, Nhà nước đưa ra một số tín hiệu nhằm kiểm soát các phân khúc bất động sản và đây là định hướng hợp lý để tránh thị trường phát triển quá nóng, gây rủi ro.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo ngân hàng VPBank, bất động sản trong dài hạn vẫn là ngành kinh tế quan trọng, vấn đề cốt lõi là phát triển theo định hướng phù hợp, để vừa đóng góp cho nền kinh tế, vừa hỗ trợ hoạt động ngân hàng. VPBank hiện là một trong những ngân hàng tham gia tài trợ mạnh cho lĩnh vực bất động sản cũng như cho vay người mua nhà, bởi nhu cầu sở hữu nhà ở vẫn là nhu cầu lớn của người dân.

Cùng chung quan điểm, ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Techcombank cho rằng, lĩnh vực bất động sản cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và cơ quan quản lý phát đi những tín hiệu rõ ràng. Ngân hàng cũng không muốn phụ thuộc quá lớn vào một lĩnh vực, bởi khi thị trường gặp rủi ro, tốc độ phát triển của ngân hàng cũng có thể bị chậm lại.

Dù vậy, lãnh đạo ngân hàng Techcombank nhận định trong 5 - 10 năm tới, bất động sản vẫn sẽ là một lĩnh vực tiếp tục phát triển tại Việt Nam. Theo đó, vấn đề quan trọng là cách kiểm soát rủi ro ra sao.

Dẫn chứng tại Ngân hàng DBS (Singapore) có hơn 50% danh mục tín dụng là cho vay mua bất động sản, Tổng Giám đốc Techcombank Jens Lottner cũng cho rằng, vấn đề quan trọng không nằm ở tỷ trọng cho vay, mà là cách quản lý danh mục và kiểm soát rủi ro.

Tại VPBank, Tổng Giám đốc Nguyễn Đức Vinh cho biết, trong mảng bất động sản, ngân hàng đã có những điều chỉnh, tập trung ưu tiên vào việc tài trợ cho các dự án nhà ở, đặc biệt nhà ở xã hội, nhà ở phân khúc trung bình và khá. Đồng thời, hạn chế đầu tư vào những phân khúc cao cấp, đặc biệt hạn chế các dự án nghỉ dưỡng.

“Một trong số những bài học trong quá khứ rút ra trong 3 năm tài trợ cho bất động sản, chúng tôi cũng gặp một số dự án không hiệu quả. Vì thiếu cơ sở pháp lý dẫn đến dự án có thể tồn đọng trong 3 - 4 năm, làm quá trình thu hồi vốn cho vay chậm và là một trong những nguyên nhân tạo ra nợ xấu” - ông Vinh bày tỏ.

Khẩu vị thận trọng với tín dụng bất động sản, duy trì nợ xấu thấp

Trong hệ thống, không ít nhà băng duy trì tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức thấp và chủ động mở rộng danh mục tín dụng sang các lĩnh vực khác.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, ACB hiện là một trong những ngân hàng có tỷ lệ cho vay các công ty bất động sản thấp nhất thị trường, với dư nợ cho vay lĩnh vực này chỉ dưới 5% tổng danh mục cho vay. ACB lựa chọn hợp tác với những doanh nghiệp bất động sản tốt, đặc biệt ở phân khúc nhà ở trung bình, nhằm gia tăng lợi ích cho khách hàng và các bên liên quan. Ngân hàng cũng sẽ tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp để đảm bảo an toàn hoạt động trong trung dài hạn.

Cũng theo ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB, ngân hàng duy trì hoạt động tín dụng ở cả ba phân khúc gồm khách hàng lớn, khách hàng vừa và nhỏ, cùng khách hàng cá nhân. Theo lãnh đạo MB, tổng dư nợ bất động sản hiện chiếm dưới 12% tổng dư nợ của ngân hàng, trong đó, cho vay kinh doanh bất động sản ở mức khoảng 10% và được Hội đồng quản trị giám sát chặt dưới ngưỡng 12%.

Tỷ lệ nợ xấu bất động sản của MB hiện rất thấp, thậm chí thấp hơn cả mức nợ xấu chung của ngân hàng là 1,12% trong năm trước; đồng thời, lãnh đạo MB khẳng định, ngân hàng luôn duy trì sự thận trọng với tín dụng bất động sản trong nhiều năm qua.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

(TBTCO) - Cục Hải quan vừa bổ sung Ngân hàng Bank of Communications (BOCOM) - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) và nộp thuế điện tử 24/7. Việc mở rộng thêm ngân hàng phối hợp thu giúp doanh nghiệp có thêm kênh thanh toán thuế nhanh chóng, giảm thời gian thông quan.
Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

(TBTCO) - Chuyển đổi số đang mở ra cách tiếp cận mới cho ngành bảo hiểm: không chỉ mở rộng kênh phân phối, mà còn giúp doanh nghiệp hiện diện đúng lúc, đúng nhu cầu và đúng bối cảnh trong hành trình tài chính của khách hàng.
Quý I/2026: VietinBank tiếp tục nền tảng tăng trưởng bền vững

Quý I/2026: VietinBank tiếp tục nền tảng tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 21/05/2026, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã tổ chức thành công Hội nghị trực tuyến cập nhật kết quả kinh doanh quý I/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Kim TT/AVPL 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 14,900 ▲100K 15,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 14,850 ▲100K 15,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▲50K 16,050 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▲50K 16,000 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▲50K 15,980 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
NL 99.90 14,450 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500 ▲100K
Trang sức 99.9 15,390 ▲50K 16,090 ▲50K
Trang sức 99.99 15,400 ▲50K 16,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼1426K 16,202 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼1426K 16,203 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▲1427K 1,615 ▲1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▲1427K 1,616 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▲1409K 160 ▼1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▲495K 158,416 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▲375K 120,162 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▲340K 108,961 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼79669K 9,776 ▼87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▲291K 93,439 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▲209K 66,877 ▲209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Cập nhật: 25/05/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18335 18611 19184
CAD 18541 18818 19437
CHF 33044 33430 34080
CNY 0 3844 3937
EUR 30031 30304 31334
GBP 34727 35120 36056
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15153 15743
SGD 20086 20369 20895
THB 726 789 843
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26178 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,256 30,280 31,540
JPY 161.84 162.13 170.93
GBP 35,006 35,101 36,102
AUD 18,594 18,661 19,263
CAD 18,786 18,846 19,433
CHF 33,397 33,501 34,294
SGD 20,268 20,331 21,011
CNY - 3,824 3,947
HKD 3,307 3,317 3,435
KRW 16.12 16.81 18.19
THB 776.68 786.27 836.69
NZD 15,191 15,332 15,697
SEK - 2,797 2,879
DKK - 4,049 4,167
NOK - 2,812 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,246.13 - 7,012.46
TWD 759.19 - 914.39
SAR - 6,926.08 7,252.83
KWD - 83,883 88,734
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26392
AUD 18522 18622 19550
CAD 18726 18826 19843
CHF 33309 33339 34913
CNY 3826.4 3851.4 3986.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30219 30249 31974
GBP 35024 35074 36837
HKD 0 3355 0
JPY 162.29 162.79 173.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20252 20382 21105
THB 0 756.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/05/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80