Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7% Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Tiếp tục “mở van” bơm ròng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6%

Trong tuần từ ngày 18 - 22/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO) thông qua nghiệp vụ cầm cố giấy tờ có giá.

Cụ thể, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước đã cho vay tổng cộng 45.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu tăng dần từ 4.000 tỷ đồng trong phiên 18/5 lên 14.000 tỷ đồng vào ngày 22/5. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn giảm mạnh từ 22.000 tỷ đồng xuống còn 4.000 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng ra hệ thống ngân hàng. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 301.578,83 tỷ đồng.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo ở mức cao và tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn. Chốt phiên ngày 21/5, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ở mức 5,6%/năm, tăng 0,35 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,55 điểm phần trăm lên 6,1%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,65 điểm phần trăm lên 6,68%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,25 điểm phần trăm lên 6,95%/năm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,54 điểm phần trăm lên 7,8%/năm.

Việc Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm thanh khoản cho thấy áp lực vốn ngắn hạn trong hệ thống vẫn khá lớn, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang vượt đáng kể tốc độ huy động vốn.

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản hệ thống không quá căng thẳng, nhưng cũng không còn dư thừa như giai đoạn giữa tháng 4, khi Ngân hàng Nhà nước đã thu hẹp dần quy mô hỗ trợ và để OMO lưu hành đi ngang quanh vùng 300 - 315 nghìn tỷ đồng.

Áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn vẫn duy trì cao liên tục từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Nguồn: Techcombank.

Lãi suất liên ngân hàng quanh 6% được xem là vùng “cân bằng”

Nhóm phân tích Techcombank kỳ vọng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định trong vùng xung quanh 6%, nhưng vẫn có thể xuất hiện những phiên có thể dao động ở biên độ rộng (100 điểm cơ bản) do thanh khoản hiện nay được hỗ trợ nhiều từ các nguồn của Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank nghiêng về việc lãi suất liên ngân hàng có thể duy trì ở vùng hiện hành, tức là quanh 6%.

Nhóm phân tích Techcombank cho rằng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6% là vùng lãi suất tương đối cân bằng, đủ cao để duy trì chênh lệch lãi suất với USD (khoảng 2 - 3%) nhằm hỗ trợ tỷ giá, nhưng vẫn đủ thấp để hạn chế áp lực tăng lên lãi suất tiền gửi và cho vay.

Kỳ vọng lãi suất đi ngang cho phần còn lại của năm cũng đến từ sự cân bằng của cả yếu tố hỗ trợ tăng và giảm lãi suất.

Theo đó, yếu tố có thể giúp lãi suất giảm, thứ nhất, dư địa từ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ (Swap) còn rất dồi dào, tổng trên 300.000 tỷ đồng, nếu tính theo mức tối đa từng thực hiện trong quá khứ. Nhà điều hành vẫn sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh một mặt bằng lãi suất tương đối thấp vẫn được ưu tiên để hỗ trợ phát triển kinh tế.

Đồng thời, nhóm phân tích đặt kỳ vọng giải ngân đầu tư công tích cực sẽ bổ sung thêm lượng lớn tiền vào trong hệ thống ngân hàng, qua đó, càng hỗ trợ mặt bằng lãi suất ở mức thấp.

“Ở chiều ngược lại, những rủi ro biến động của tỷ giá và lạm phát đến từ kinh tế thế giới vô cùng khó lường và hoàn toàn có thể khiến mặt bằng lãi suất cao hơn” - nhóm phân tích Techcombank đặt vấn đề.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh 4 tháng, USD tự do tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 3 đồng, lên mức 25.134 đồng vào ngày 22/5, tiếp đà tăng 19 đồng tuần trước đó. Dù mức tăng trong tuần không lớn, tỷ giá trung tâm vẫn duy trì quanh vùng cao nhất trong khoảng 4 tháng gần đây, phản ánh áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong bối cảnh đồng USD quốc tế neo cao.

Tỷ giá VND tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương đối nhẹ chiều bán, song tăng mạnh hơn chiều mua. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.130 - 26.390 VND/USD, tăng lần lượt 23 đồng ở chiều mua và 3 đồng ở chiều bán. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.150 - 26.390 VND/USD, tăng tương ứng 13 đồng và 3 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 18-22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng tuần qua, sau nhiều tuần giảm sâu. So với giai đoạn trước, đà tăng của USD tự do đã hạ nhiệt đáng kể, chủ yếu do hoạt động đầu cơ vàng suy giảm khiến nhu cầu gom USD trên thị trường tự do bớt căng thẳng hơn. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,31 điểm, tăng 0,06%, cho thấy đồng USD tiếp tục duy trì đà phục hồi nhẹ.

Đối với các cặp tỷ giá chủ chốt, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8618 EUR/USD, tăng 0,13%, trong khi tỷ giá USD/GBP lên 0,7449 GBP/USD, tăng 0,05%. Tỷ giá USD/JPY cũng tăng 0,11%, lên 159,13 JPY/USD, cho thấy đồng yên tiếp tục chịu áp lực suy yếu so với USD. Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD/CNY giảm 0,11%, xuống 6,7953 CNY/USD, phản ánh đồng nhân dân tệ phục hồi nhẹ so với đồng bạc xanh.

Đồng USD duy trì ổn định quanh mức cao nhất trong 6 tuần trong phiên giao dịch ngày thứ sáu, khi thị trường tiếp tục theo dõi sát các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột giữa Mỹ - Iran. Tính chung cả tuần, DXY gần như đi ngang, tăng khoảng 0,04%, sau nhiều phiên biến động mạnh do các tín hiệu trái chiều liên quan đến tiến trình đàm phán giữa hai nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Kim TT/AVPL 13,480 ▼400K 13,880 ▼500K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,480 ▼400K 13,880 ▼500K
Nguyên Liệu 99.99 13,500 ▼300K 13,700 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼500K 13,650 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,480 ▼320K 13,880 ▼420K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,430 ▼320K 13,830 ▼420K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,360 ▼320K 13,810 ▼420K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Nghệ An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Thái Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,070 ▼500K 13,770 ▼500K
Trang sức 99.99 13,080 ▼500K 13,780 ▼500K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,337 ▼49K 1,387 ▼49K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,337 ▼49K 1,388 ▼49K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,317 ▼49K 1,372 ▼49K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,842 ▼4851K 135,842 ▼4851K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,356 ▼87880K 10,306 ▼96430K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,955 ▼3333K 93,455 ▼3333K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,435 ▼299K 8,385 ▼299K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,646 ▼2857K 80,146 ▼2857K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,868 ▼2044K 57,368 ▼2044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17924 18198 18773
CAD 18351 18627 19243
CHF 32300 32683 33331
CNY 0 3842 3934
EUR 29766 29988 31066
GBP 34431 34822 35748
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14974 15561
SGD 19890 20172 20748
THB 715 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26410
AUD 18124 18224 19154
CAD 18527 18627 19638
CHF 32585 32615 34193
CNY 3824.4 3849.4 3984.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29951 29981 31706
GBP 34740 34790 36548
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20053 20183 20914
THB 0 745 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 12000000 12000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80