Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7% Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Tiếp tục “mở van” bơm ròng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6%

Trong tuần từ ngày 18 - 22/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO) thông qua nghiệp vụ cầm cố giấy tờ có giá.

Cụ thể, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước đã cho vay tổng cộng 45.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu tăng dần từ 4.000 tỷ đồng trong phiên 18/5 lên 14.000 tỷ đồng vào ngày 22/5. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn giảm mạnh từ 22.000 tỷ đồng xuống còn 4.000 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng ra hệ thống ngân hàng. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 301.578,83 tỷ đồng.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo ở mức cao và tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn. Chốt phiên ngày 21/5, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ở mức 5,6%/năm, tăng 0,35 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,55 điểm phần trăm lên 6,1%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,65 điểm phần trăm lên 6,68%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,25 điểm phần trăm lên 6,95%/năm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,54 điểm phần trăm lên 7,8%/năm.

Việc Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm thanh khoản cho thấy áp lực vốn ngắn hạn trong hệ thống vẫn khá lớn, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang vượt đáng kể tốc độ huy động vốn.

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản hệ thống không quá căng thẳng, nhưng cũng không còn dư thừa như giai đoạn giữa tháng 4, khi Ngân hàng Nhà nước đã thu hẹp dần quy mô hỗ trợ và để OMO lưu hành đi ngang quanh vùng 300 - 315 nghìn tỷ đồng.

Áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn vẫn duy trì cao liên tục từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Nguồn: Techcombank.

Lãi suất liên ngân hàng quanh 6% được xem là vùng “cân bằng”

Nhóm phân tích Techcombank kỳ vọng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định trong vùng xung quanh 6%, nhưng vẫn có thể xuất hiện những phiên có thể dao động ở biên độ rộng (100 điểm cơ bản) do thanh khoản hiện nay được hỗ trợ nhiều từ các nguồn của Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank nghiêng về việc lãi suất liên ngân hàng có thể duy trì ở vùng hiện hành, tức là quanh 6%.

Nhóm phân tích Techcombank cho rằng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6% là vùng lãi suất tương đối cân bằng, đủ cao để duy trì chênh lệch lãi suất với USD (khoảng 2 - 3%) nhằm hỗ trợ tỷ giá, nhưng vẫn đủ thấp để hạn chế áp lực tăng lên lãi suất tiền gửi và cho vay.

Kỳ vọng lãi suất đi ngang cho phần còn lại của năm cũng đến từ sự cân bằng của cả yếu tố hỗ trợ tăng và giảm lãi suất.

Theo đó, yếu tố có thể giúp lãi suất giảm, thứ nhất, dư địa từ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ (Swap) còn rất dồi dào, tổng trên 300.000 tỷ đồng, nếu tính theo mức tối đa từng thực hiện trong quá khứ. Nhà điều hành vẫn sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh một mặt bằng lãi suất tương đối thấp vẫn được ưu tiên để hỗ trợ phát triển kinh tế.

Đồng thời, nhóm phân tích đặt kỳ vọng giải ngân đầu tư công tích cực sẽ bổ sung thêm lượng lớn tiền vào trong hệ thống ngân hàng, qua đó, càng hỗ trợ mặt bằng lãi suất ở mức thấp.

“Ở chiều ngược lại, những rủi ro biến động của tỷ giá và lạm phát đến từ kinh tế thế giới vô cùng khó lường và hoàn toàn có thể khiến mặt bằng lãi suất cao hơn” - nhóm phân tích Techcombank đặt vấn đề.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh 4 tháng, USD tự do tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 3 đồng, lên mức 25.134 đồng vào ngày 22/5, tiếp đà tăng 19 đồng tuần trước đó. Dù mức tăng trong tuần không lớn, tỷ giá trung tâm vẫn duy trì quanh vùng cao nhất trong khoảng 4 tháng gần đây, phản ánh áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong bối cảnh đồng USD quốc tế neo cao.

Tỷ giá VND tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương đối nhẹ chiều bán, song tăng mạnh hơn chiều mua. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.130 - 26.390 VND/USD, tăng lần lượt 23 đồng ở chiều mua và 3 đồng ở chiều bán. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.150 - 26.390 VND/USD, tăng tương ứng 13 đồng và 3 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 18-22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng tuần qua, sau nhiều tuần giảm sâu. So với giai đoạn trước, đà tăng của USD tự do đã hạ nhiệt đáng kể, chủ yếu do hoạt động đầu cơ vàng suy giảm khiến nhu cầu gom USD trên thị trường tự do bớt căng thẳng hơn. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,31 điểm, tăng 0,06%, cho thấy đồng USD tiếp tục duy trì đà phục hồi nhẹ.

Đối với các cặp tỷ giá chủ chốt, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8618 EUR/USD, tăng 0,13%, trong khi tỷ giá USD/GBP lên 0,7449 GBP/USD, tăng 0,05%. Tỷ giá USD/JPY cũng tăng 0,11%, lên 159,13 JPY/USD, cho thấy đồng yên tiếp tục chịu áp lực suy yếu so với USD. Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD/CNY giảm 0,11%, xuống 6,7953 CNY/USD, phản ánh đồng nhân dân tệ phục hồi nhẹ so với đồng bạc xanh.

Đồng USD duy trì ổn định quanh mức cao nhất trong 6 tuần trong phiên giao dịch ngày thứ sáu, khi thị trường tiếp tục theo dõi sát các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột giữa Mỹ - Iran. Tính chung cả tuần, DXY gần như đi ngang, tăng khoảng 0,04%, sau nhiều phiên biến động mạnh do các tín hiệu trái chiều liên quan đến tiến trình đàm phán giữa hai nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định 85/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý triển khai hiệu quả, bền vững chính sách cho bảo hiểm hưu trí bổ sung. Bộ Tài chính kỳ vọng Nghị định góp phần đa dạng hóa chương trình an sinh xã hội, giảm gánh nặng ngân sách trong bối cảnh chuẩn bị giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, thúc đẩy hình thành nguồn vốn dài hạn, phát triển cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Sống trên những cú chạm số

Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

(TBTCO) - Người dùng có thể hoàn tất một giao dịch ngân hàng chỉ trong vài giây. Nhưng để những thao tác ấy diễn ra đủ nhanh, đủ an toàn và ổn định mỗi ngày là cả một hành trình chuyển đổi số phức tạp của các ngân hàng lớn.
Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Dù duy trì chia cổ tức tiền mặt nhiều năm, PJICO vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng cao hơn từ nhiều cổ đông trong bối cảnh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm chịu sức ép. Quý I/2026, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 13,2% lên mức cao, song áp lực chi phí khiến lợi nhuận gộp mảng bảo hiểm đi ngang, tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu dựa vào hoạt động tài chính.
Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - NCB vừa công bố danh sách nhà đầu tư chuyên nghiệp dự kiến tham gia đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ, trong đó có nhiều lãnh đạo và cổ đông hiện hữu đăng ký mua thêm. Sau khi phát hành thành công 1 tỷ cổ phiếu, ngân hàng sẽ nâng vốn điều lệ lên hơn 29.280 tỷ đồng, trong bối cảnh tín dụng quý đầu năm tăng mạnh 20%.
VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

(TBTCO) - VPBank dự kiến phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 26,04%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng ngay trong quý II - III/2026 và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên vượt mốc này. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô tín dụng hợp nhất mở rộng mạnh 10,2% chỉ sau một quý, đạt 1,06 triệu tỷ đồng.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,850 15,050
Nguyên Liệu 99.9 14,800 15,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,350
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 23/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18257 18532 19108
CAD 18577 18854 19470
CHF 32874 33259 33899
CNY 0 3839 3931
EUR 29952 30225 31250
GBP 34588 34980 35911
HKD 0 3233 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15712
SGD 20054 20337 20859
THB 722 786 839
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26178 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,390
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,142 30,166 31,436
JPY 161.5 161.79 170.65
GBP 34,819 34,913 35,922
AUD 18,496 18,563 19,164
CAD 18,794 18,854 19,444
CHF 33,155 33,258 34,050
SGD 20,221 20,284 20,967
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.05 16.74 18.11
THB 770.86 780.38 831.51
NZD 15,161 15,302 15,669
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,033 4,153
NOK - 2,808 2,891
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,225.64 - 6,990.35
TWD 757.57 - 912.8
SAR - 6,919.88 7,249.51
KWD - 83,792 88,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80