Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7% Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Tiếp tục “mở van” bơm ròng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6%

Trong tuần từ ngày 18 - 22/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO) thông qua nghiệp vụ cầm cố giấy tờ có giá.

Cụ thể, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước đã cho vay tổng cộng 45.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu tăng dần từ 4.000 tỷ đồng trong phiên 18/5 lên 14.000 tỷ đồng vào ngày 22/5. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn giảm mạnh từ 22.000 tỷ đồng xuống còn 4.000 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng ra hệ thống ngân hàng. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 301.578,83 tỷ đồng.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo ở mức cao và tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn. Chốt phiên ngày 21/5, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ở mức 5,6%/năm, tăng 0,35 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,55 điểm phần trăm lên 6,1%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,65 điểm phần trăm lên 6,68%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,25 điểm phần trăm lên 6,95%/năm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,54 điểm phần trăm lên 7,8%/năm.

Việc Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm thanh khoản cho thấy áp lực vốn ngắn hạn trong hệ thống vẫn khá lớn, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang vượt đáng kể tốc độ huy động vốn.

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản hệ thống không quá căng thẳng, nhưng cũng không còn dư thừa như giai đoạn giữa tháng 4, khi Ngân hàng Nhà nước đã thu hẹp dần quy mô hỗ trợ và để OMO lưu hành đi ngang quanh vùng 300 - 315 nghìn tỷ đồng.

Áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn vẫn duy trì cao liên tục từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Nguồn: Techcombank.

Lãi suất liên ngân hàng quanh 6% được xem là vùng “cân bằng”

Nhóm phân tích Techcombank kỳ vọng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định trong vùng xung quanh 6%, nhưng vẫn có thể xuất hiện những phiên có thể dao động ở biên độ rộng (100 điểm cơ bản) do thanh khoản hiện nay được hỗ trợ nhiều từ các nguồn của Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank nghiêng về việc lãi suất liên ngân hàng có thể duy trì ở vùng hiện hành, tức là quanh 6%.

Nhóm phân tích Techcombank cho rằng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6% là vùng lãi suất tương đối cân bằng, đủ cao để duy trì chênh lệch lãi suất với USD (khoảng 2 - 3%) nhằm hỗ trợ tỷ giá, nhưng vẫn đủ thấp để hạn chế áp lực tăng lên lãi suất tiền gửi và cho vay.

Kỳ vọng lãi suất đi ngang cho phần còn lại của năm cũng đến từ sự cân bằng của cả yếu tố hỗ trợ tăng và giảm lãi suất.

Theo đó, yếu tố có thể giúp lãi suất giảm, thứ nhất, dư địa từ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ (Swap) còn rất dồi dào, tổng trên 300.000 tỷ đồng, nếu tính theo mức tối đa từng thực hiện trong quá khứ. Nhà điều hành vẫn sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh một mặt bằng lãi suất tương đối thấp vẫn được ưu tiên để hỗ trợ phát triển kinh tế.

Đồng thời, nhóm phân tích đặt kỳ vọng giải ngân đầu tư công tích cực sẽ bổ sung thêm lượng lớn tiền vào trong hệ thống ngân hàng, qua đó, càng hỗ trợ mặt bằng lãi suất ở mức thấp.

“Ở chiều ngược lại, những rủi ro biến động của tỷ giá và lạm phát đến từ kinh tế thế giới vô cùng khó lường và hoàn toàn có thể khiến mặt bằng lãi suất cao hơn” - nhóm phân tích Techcombank đặt vấn đề.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh 4 tháng, USD tự do tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 3 đồng, lên mức 25.134 đồng vào ngày 22/5, tiếp đà tăng 19 đồng tuần trước đó. Dù mức tăng trong tuần không lớn, tỷ giá trung tâm vẫn duy trì quanh vùng cao nhất trong khoảng 4 tháng gần đây, phản ánh áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong bối cảnh đồng USD quốc tế neo cao.

Tỷ giá VND tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương đối nhẹ chiều bán, song tăng mạnh hơn chiều mua. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.130 - 26.390 VND/USD, tăng lần lượt 23 đồng ở chiều mua và 3 đồng ở chiều bán. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.150 - 26.390 VND/USD, tăng tương ứng 13 đồng và 3 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 18-22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng tuần qua, sau nhiều tuần giảm sâu. So với giai đoạn trước, đà tăng của USD tự do đã hạ nhiệt đáng kể, chủ yếu do hoạt động đầu cơ vàng suy giảm khiến nhu cầu gom USD trên thị trường tự do bớt căng thẳng hơn. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,31 điểm, tăng 0,06%, cho thấy đồng USD tiếp tục duy trì đà phục hồi nhẹ.

Đối với các cặp tỷ giá chủ chốt, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8618 EUR/USD, tăng 0,13%, trong khi tỷ giá USD/GBP lên 0,7449 GBP/USD, tăng 0,05%. Tỷ giá USD/JPY cũng tăng 0,11%, lên 159,13 JPY/USD, cho thấy đồng yên tiếp tục chịu áp lực suy yếu so với USD. Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD/CNY giảm 0,11%, xuống 6,7953 CNY/USD, phản ánh đồng nhân dân tệ phục hồi nhẹ so với đồng bạc xanh.

Đồng USD duy trì ổn định quanh mức cao nhất trong 6 tuần trong phiên giao dịch ngày thứ sáu, khi thị trường tiếp tục theo dõi sát các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột giữa Mỹ - Iran. Tính chung cả tuần, DXY gần như đi ngang, tăng khoảng 0,04%, sau nhiều phiên biến động mạnh do các tín hiệu trái chiều liên quan đến tiến trình đàm phán giữa hai nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 11:30
Ngân hàng