Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7% Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Tiếp tục “mở van” bơm ròng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6%

Trong tuần từ ngày 18 - 22/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO) thông qua nghiệp vụ cầm cố giấy tờ có giá.

Cụ thể, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước đã cho vay tổng cộng 45.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu tăng dần từ 4.000 tỷ đồng trong phiên 18/5 lên 14.000 tỷ đồng vào ngày 22/5. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn giảm mạnh từ 22.000 tỷ đồng xuống còn 4.000 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng ra hệ thống ngân hàng. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 301.578,83 tỷ đồng.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo ở mức cao và tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn. Chốt phiên ngày 21/5, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ở mức 5,6%/năm, tăng 0,35 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,55 điểm phần trăm lên 6,1%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,65 điểm phần trăm lên 6,68%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,25 điểm phần trăm lên 6,95%/năm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,54 điểm phần trăm lên 7,8%/năm.

Việc Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm thanh khoản cho thấy áp lực vốn ngắn hạn trong hệ thống vẫn khá lớn, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang vượt đáng kể tốc độ huy động vốn.

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản hệ thống không quá căng thẳng, nhưng cũng không còn dư thừa như giai đoạn giữa tháng 4, khi Ngân hàng Nhà nước đã thu hẹp dần quy mô hỗ trợ và để OMO lưu hành đi ngang quanh vùng 300 - 315 nghìn tỷ đồng.

Áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn vẫn duy trì cao liên tục từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Nguồn: Techcombank.

Lãi suất liên ngân hàng quanh 6% được xem là vùng “cân bằng”

Nhóm phân tích Techcombank kỳ vọng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định trong vùng xung quanh 6%, nhưng vẫn có thể xuất hiện những phiên có thể dao động ở biên độ rộng (100 điểm cơ bản) do thanh khoản hiện nay được hỗ trợ nhiều từ các nguồn của Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank nghiêng về việc lãi suất liên ngân hàng có thể duy trì ở vùng hiện hành, tức là quanh 6%.

Nhóm phân tích Techcombank cho rằng, lãi suất liên ngân hàng quanh 6% là vùng lãi suất tương đối cân bằng, đủ cao để duy trì chênh lệch lãi suất với USD (khoảng 2 - 3%) nhằm hỗ trợ tỷ giá, nhưng vẫn đủ thấp để hạn chế áp lực tăng lên lãi suất tiền gửi và cho vay.

Kỳ vọng lãi suất đi ngang cho phần còn lại của năm cũng đến từ sự cân bằng của cả yếu tố hỗ trợ tăng và giảm lãi suất.

Theo đó, yếu tố có thể giúp lãi suất giảm, thứ nhất, dư địa từ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ (Swap) còn rất dồi dào, tổng trên 300.000 tỷ đồng, nếu tính theo mức tối đa từng thực hiện trong quá khứ. Nhà điều hành vẫn sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh một mặt bằng lãi suất tương đối thấp vẫn được ưu tiên để hỗ trợ phát triển kinh tế.

Đồng thời, nhóm phân tích đặt kỳ vọng giải ngân đầu tư công tích cực sẽ bổ sung thêm lượng lớn tiền vào trong hệ thống ngân hàng, qua đó, càng hỗ trợ mặt bằng lãi suất ở mức thấp.

“Ở chiều ngược lại, những rủi ro biến động của tỷ giá và lạm phát đến từ kinh tế thế giới vô cùng khó lường và hoàn toàn có thể khiến mặt bằng lãi suất cao hơn” - nhóm phân tích Techcombank đặt vấn đề.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh 4 tháng, USD tự do tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 3 đồng, lên mức 25.134 đồng vào ngày 22/5, tiếp đà tăng 19 đồng tuần trước đó. Dù mức tăng trong tuần không lớn, tỷ giá trung tâm vẫn duy trì quanh vùng cao nhất trong khoảng 4 tháng gần đây, phản ánh áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong bối cảnh đồng USD quốc tế neo cao.

Tỷ giá VND tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương đối nhẹ chiều bán, song tăng mạnh hơn chiều mua. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.130 - 26.390 VND/USD, tăng lần lượt 23 đồng ở chiều mua và 3 đồng ở chiều bán. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.150 - 26.390 VND/USD, tăng tương ứng 13 đồng và 3 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 18-22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%
Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng tuần qua, sau nhiều tuần giảm sâu. So với giai đoạn trước, đà tăng của USD tự do đã hạ nhiệt đáng kể, chủ yếu do hoạt động đầu cơ vàng suy giảm khiến nhu cầu gom USD trên thị trường tự do bớt căng thẳng hơn. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,31 điểm, tăng 0,06%, cho thấy đồng USD tiếp tục duy trì đà phục hồi nhẹ.

Đối với các cặp tỷ giá chủ chốt, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8618 EUR/USD, tăng 0,13%, trong khi tỷ giá USD/GBP lên 0,7449 GBP/USD, tăng 0,05%. Tỷ giá USD/JPY cũng tăng 0,11%, lên 159,13 JPY/USD, cho thấy đồng yên tiếp tục chịu áp lực suy yếu so với USD. Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD/CNY giảm 0,11%, xuống 6,7953 CNY/USD, phản ánh đồng nhân dân tệ phục hồi nhẹ so với đồng bạc xanh.

Đồng USD duy trì ổn định quanh mức cao nhất trong 6 tuần trong phiên giao dịch ngày thứ sáu, khi thị trường tiếp tục theo dõi sát các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột giữa Mỹ - Iran. Tính chung cả tuần, DXY gần như đi ngang, tăng khoảng 0,04%, sau nhiều phiên biến động mạnh do các tín hiệu trái chiều liên quan đến tiến trình đàm phán giữa hai nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 ▼14550K 0 ▼14850K
Kim TT/AVPL 0 ▼14350K 0 ▼14750K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - ▼14350K - ▼14750K
Nguyên Liệu 99.99 0 ▼13200K 0 ▼13400K
Nguyên Liệu 99.9 0 ▼13150K 0 ▼13350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼150700K -142,000 ▼156200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17809 18082 18655
CAD 18176 18452 19064
CHF 31819 32200 32833
CNY 0 3836 3928
EUR 29408 29628 30705
GBP 34555 34947 35887
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15028 15612
SGD 19806 20088 20664
THB 697 760 813
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,060 26,060 26,440
USD(1-2-5) 25,018 - -
USD(10-20) 25,018 - -
EUR 29,530 29,554 30,965
JPY 157.17 157.45 166.95
GBP 34,735 34,829 36,039
AUD 18,031 18,096 18,777
CAD 18,356 18,415 19,094
CHF 32,068 32,168 33,115
SGD 19,918 19,980 20,765
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,280 3,290 3,428
KRW 16.38 17.08 18.58
THB 745.12 754.32 807.55
NZD 15,014 15,153 15,601
SEK - 2,674 2,769
DKK - 3,950 4,089
NOK - 2,666 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,008.13 - 6,782.2
TWD 734.41 - 889.63
SAR - 6,868.07 7,238.02
KWD - 83,059 88,370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 17986 18086 19011
CAD 18356 18456 19470
CHF 32054 32084 33666
CNY 3815.3 3840.3 3975.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34861 34911 36668
HKD 0 3355 0
JPY 158.18 158.68 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15123 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19965 20095 20816
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,087 26,137 26,450
USD20 26,087 26,137 26,450
USD1 26,087 26,137 26,450
AUD 18,025 18,125 19,232
EUR 29,378 29,478 31,134
CAD 18,298 18,398 19,705
SGD 20,035 20,185 20,800
JPY 158.68 160.18 165.75
GBP 34,747 34,897 35,959
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80