Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Lãi suất liên ngân hàng neo cao 6 - 7%, vẫn tiếp tục hút ròng qua OMO

Trong tuần qua từ ngày 11 - 15/5, lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao. Theo đó, kết phiên 14/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,05%/năm, tăng 1,06 điểm phần trăm. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần lên 6,2%/năm, tăng 0,83 điểm phần trăm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 0,57 điểm phần trăm lên 6,47%/năm.

Đối với các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 6,69%/năm, tăng 0,75 điểm phần trăm. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng lên 7,34%/năm, song thấp hơn khoảng 0,19 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự hạ nhiệt.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ khoảng 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Việc duy trì trạng thái hút ròng trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng neo cao cho thấy cơ quan điều hành vẫn theo đuổi định hướng kiểm soát thanh khoản thận trọng, đồng thời hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Diễn biến lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết hỗ trợ thông qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 33.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm; lượng phát hành tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn dài hơn. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn cao hơn, khoảng 38.873 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, Công ty TNHH Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) đánh giá, thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định dù nhu cầu vốn ngắn hạn có tăng nhẹ.

“Áp lực thanh khoản trong ngắn hạn đã hạ nhiệt sau các chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh phản ánh sự nhạy cảm của lãi suất đến chu kỳ giải ngân tín dụng, thanh khoản trong hệ thống dù không còn quá căng thẳng như giai đoạn trước Tết. Ngân hàng Nhà nước cũng luân phiên bơm hút linh hoạt qua kênh nghiệp vụ thị trường mở OMO.

Dù vậy, trên thị trường 1, lãi suất niêm yết khó có thể giảm thêm nữa khi mà lạm phát bình quân hiện tại đã gần vượt mốc 4%. Theo nhóm phân tích VNDirect, nếu như giá dầu thô thế giới tiếp tục duy trì trên mức 100 USD/thùng như hiện tại chúng tôi ước tính lạm phát bình quân cả năm sẽ vượt 5%. Khi đó, dư địa để điều tiết chính sách tiền tệ sẽ trở nên hạn chế hơn.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 4 tháng, DXY bật tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 19 đồng, đảo chiều rõ nét so với tuần trước khi giảm nhẹ 1 đồng. Đây cũng là mức biến động mạnh nhất của tỷ giá trung tâm trong gần 2 tháng trở lại đây. Chốt phiên ngày 15/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.131 VND/USD, tương đương mức ghi nhận ngày 16/1 và là mức cao nhất trong khoảng 4 tháng qua.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì xu hướng tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.107 - 26.387 VND/USD, cùng tăng 20 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.137 - 26.387 VND/USD, cũng tăng 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nắm giữ USD có xu hướng gia tăng nhẹ trong bối cảnh đồng bạc xanh quốc tế duy trì sức mạnh.

Trong khi đó, thị trường USD tự do biến động mạnh hơn đáng kể so với kênh chính thức, giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD, giảm tới 100 đồng trong tuần, cho thấy áp lực hạ nhiệt trên thị trường phi chính thức đang dần ổn định hơn.

Theo quan sát của Chứng khoán Yuanta, áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã dịu bớt đáng kể, trong bối cảnh DXY điều chỉnh và chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới thu hẹp.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trên thị trường quốc tế, đồng USD tiếp tục duy trì đà tăng khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,41% lên mức 99,23 điểm. Diễn biến này cho thấy đồng bạc xanh đang mạnh lên so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Tỷ giá USD/EUR tăng 0,34% lên 0,8599; tương tự, tỷ giá USD/GBP tăng 0,48% lên 0,7498.

Đồng yên Nhật cũng tiếp tục chịu áp lực giảm giá khi cặp USD/JPY tăng 0,2% lên 158,63 JPY/USD. Trong khi đó, cặp USD/CNY tăng 0,37% lên 6,8099, phản ánh đồng nhân dân tệ suy yếu nhẹ so với USD.

Tại các ngân hàng thương mại, đối với đồng euro, tỷ giá ghi nhận xu hướng giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR giảm 192 đồng ở chiều mua vào và giảm 202,2 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 29.882,45 - 31.457,75 VND/EUR. Trong khi đó, tại BIDV, tỷ giá EUR giảm mạnh hơn, với mức giảm 218 đồng ở chiều mua vào và 228 đồng ở chiều bán ra, hiện niêm yết ở mức 30.226 - 31.536 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm các ngoại tệ chủ chốt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP giảm 473,3 đồng ở chiều mua vào và giảm 493,5 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.284,94 - 35.740,20 VND/GBP. Tại BIDV, tỷ giá GBP giảm sâu hơn, với mức giảm 542 đồng ở chiều mua vào và 549 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.641 - 35.763 VND/GBP.

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD vẫn được hỗ trợ phần nào bởi dữ liệu việc làm Mỹ tháng 4 tốt hơn dự báo và khả năng Fed có thể tiếp tục giữ lãi suất cao lâu hơn.

Đồng JPY tiếp tục là tâm điểm chú ý của thị trường, khi tỷ giá USD/JPY dao động mạnh quanh vùng 156 - 160. Sau khi can thiệp vào cuối tháng 4, Bộ Tài chính Nhật Bản được cho là tiếp tục mua yên vào tuần qua giúp đồng yên có những phiên tăng mạnh đột ngột. Bên cạnh đó, kỳ vọng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể nâng lãi suất thêm trong tháng 6 cũng hỗ trợ đồng JPY, dù thị trường vẫn cho rằng quá trình bình thường hóa chính sách của BoJ sẽ diễn ra chậm./.

Nhập siêu nhiều tháng khiến áp lực tỷ giá gia tăng

Theo nhận định của Chứng khoán VNDirect, định hướng chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong thời gian tới nhiều khả năng vẫn nghiêng về ổn định giá cả hơn là sớm hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất USD nhiều khả năng sẽ tiếp tục neo ở mức cao, qua đó duy trì áp lực lên tỷ giá, chênh lệch lãi suất VND/USD và dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong các quý tới.

Trong nước, biến động tỷ giá chủ yếu phản ánh chênh lệch lãi suất và nhu cầu nắm giữ USD. Dù cán cân thương mại và dòng vốn FDI vẫn là các điểm tựa quan trọng, việc nhập siêu duy trì trong vài tháng vừa qua, cùng áp lực chi phí vốn có thể khiến dư địa điều hành tỷ giá và chính sách tiền tệ thận trọng hơn trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17690 17963 18538
CAD 18079 18354 18969
CHF 31610 31990 32630
CNY 0 3833 3925
EUR 29288 29508 30582
GBP 34271 34662 35592
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14902 15491
SGD 19766 20048 20613
THB 699 762 815
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,079 26,129 26,450
USD20 26,079 26,129 26,450
USD1 26,079 26,129 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,253 29,353 31,009
CAD 18,174 18,274 19,580
SGD 19,998 20,148 20,820
JPY 158.69 160.19 165.75
GBP 34,463 34,613 35,675
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80