Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Lãi suất liên ngân hàng neo cao 6 - 7%, vẫn tiếp tục hút ròng qua OMO

Trong tuần qua từ ngày 11 - 15/5, lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao. Theo đó, kết phiên 14/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,05%/năm, tăng 1,06 điểm phần trăm. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần lên 6,2%/năm, tăng 0,83 điểm phần trăm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 0,57 điểm phần trăm lên 6,47%/năm.

Đối với các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 6,69%/năm, tăng 0,75 điểm phần trăm. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng lên 7,34%/năm, song thấp hơn khoảng 0,19 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự hạ nhiệt.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ khoảng 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Việc duy trì trạng thái hút ròng trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng neo cao cho thấy cơ quan điều hành vẫn theo đuổi định hướng kiểm soát thanh khoản thận trọng, đồng thời hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Diễn biến lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết hỗ trợ thông qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 33.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm; lượng phát hành tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn dài hơn. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn cao hơn, khoảng 38.873 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, Công ty TNHH Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) đánh giá, thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định dù nhu cầu vốn ngắn hạn có tăng nhẹ.

“Áp lực thanh khoản trong ngắn hạn đã hạ nhiệt sau các chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh phản ánh sự nhạy cảm của lãi suất đến chu kỳ giải ngân tín dụng, thanh khoản trong hệ thống dù không còn quá căng thẳng như giai đoạn trước Tết. Ngân hàng Nhà nước cũng luân phiên bơm hút linh hoạt qua kênh nghiệp vụ thị trường mở OMO.

Dù vậy, trên thị trường 1, lãi suất niêm yết khó có thể giảm thêm nữa khi mà lạm phát bình quân hiện tại đã gần vượt mốc 4%. Theo nhóm phân tích VNDirect, nếu như giá dầu thô thế giới tiếp tục duy trì trên mức 100 USD/thùng như hiện tại chúng tôi ước tính lạm phát bình quân cả năm sẽ vượt 5%. Khi đó, dư địa để điều tiết chính sách tiền tệ sẽ trở nên hạn chế hơn.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 4 tháng, DXY bật tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 19 đồng, đảo chiều rõ nét so với tuần trước khi giảm nhẹ 1 đồng. Đây cũng là mức biến động mạnh nhất của tỷ giá trung tâm trong gần 2 tháng trở lại đây. Chốt phiên ngày 15/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.131 VND/USD, tương đương mức ghi nhận ngày 16/1 và là mức cao nhất trong khoảng 4 tháng qua.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì xu hướng tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.107 - 26.387 VND/USD, cùng tăng 20 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.137 - 26.387 VND/USD, cũng tăng 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nắm giữ USD có xu hướng gia tăng nhẹ trong bối cảnh đồng bạc xanh quốc tế duy trì sức mạnh.

Trong khi đó, thị trường USD tự do biến động mạnh hơn đáng kể so với kênh chính thức, giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD, giảm tới 100 đồng trong tuần, cho thấy áp lực hạ nhiệt trên thị trường phi chính thức đang dần ổn định hơn.

Theo quan sát của Chứng khoán Yuanta, áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã dịu bớt đáng kể, trong bối cảnh DXY điều chỉnh và chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới thu hẹp.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trên thị trường quốc tế, đồng USD tiếp tục duy trì đà tăng khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,41% lên mức 99,23 điểm. Diễn biến này cho thấy đồng bạc xanh đang mạnh lên so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Tỷ giá USD/EUR tăng 0,34% lên 0,8599; tương tự, tỷ giá USD/GBP tăng 0,48% lên 0,7498.

Đồng yên Nhật cũng tiếp tục chịu áp lực giảm giá khi cặp USD/JPY tăng 0,2% lên 158,63 JPY/USD. Trong khi đó, cặp USD/CNY tăng 0,37% lên 6,8099, phản ánh đồng nhân dân tệ suy yếu nhẹ so với USD.

Tại các ngân hàng thương mại, đối với đồng euro, tỷ giá ghi nhận xu hướng giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR giảm 192 đồng ở chiều mua vào và giảm 202,2 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 29.882,45 - 31.457,75 VND/EUR. Trong khi đó, tại BIDV, tỷ giá EUR giảm mạnh hơn, với mức giảm 218 đồng ở chiều mua vào và 228 đồng ở chiều bán ra, hiện niêm yết ở mức 30.226 - 31.536 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm các ngoại tệ chủ chốt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP giảm 473,3 đồng ở chiều mua vào và giảm 493,5 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.284,94 - 35.740,20 VND/GBP. Tại BIDV, tỷ giá GBP giảm sâu hơn, với mức giảm 542 đồng ở chiều mua vào và 549 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.641 - 35.763 VND/GBP.

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD vẫn được hỗ trợ phần nào bởi dữ liệu việc làm Mỹ tháng 4 tốt hơn dự báo và khả năng Fed có thể tiếp tục giữ lãi suất cao lâu hơn.

Đồng JPY tiếp tục là tâm điểm chú ý của thị trường, khi tỷ giá USD/JPY dao động mạnh quanh vùng 156 - 160. Sau khi can thiệp vào cuối tháng 4, Bộ Tài chính Nhật Bản được cho là tiếp tục mua yên vào tuần qua giúp đồng yên có những phiên tăng mạnh đột ngột. Bên cạnh đó, kỳ vọng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể nâng lãi suất thêm trong tháng 6 cũng hỗ trợ đồng JPY, dù thị trường vẫn cho rằng quá trình bình thường hóa chính sách của BoJ sẽ diễn ra chậm./.

Nhập siêu nhiều tháng khiến áp lực tỷ giá gia tăng

Theo nhận định của Chứng khoán VNDirect, định hướng chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong thời gian tới nhiều khả năng vẫn nghiêng về ổn định giá cả hơn là sớm hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất USD nhiều khả năng sẽ tiếp tục neo ở mức cao, qua đó duy trì áp lực lên tỷ giá, chênh lệch lãi suất VND/USD và dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong các quý tới.

Trong nước, biến động tỷ giá chủ yếu phản ánh chênh lệch lãi suất và nhu cầu nắm giữ USD. Dù cán cân thương mại và dòng vốn FDI vẫn là các điểm tựa quan trọng, việc nhập siêu duy trì trong vài tháng vừa qua, cùng áp lực chi phí vốn có thể khiến dư địa điều hành tỷ giá và chính sách tiền tệ thận trọng hơn trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa được Hội đồng thương hiệu quốc gia vinh danh tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 9 BIDV được trao tặng danh hiệu uy tín này.
Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng từ 500.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa vàng miếng lên 143,9 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn lên cao nhất 143,5 triệu đồng/lượng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30