Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Lãi suất liên ngân hàng neo cao 6 - 7%, vẫn tiếp tục hút ròng qua OMO

Trong tuần qua từ ngày 11 - 15/5, lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao. Theo đó, kết phiên 14/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,05%/năm, tăng 1,06 điểm phần trăm. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần lên 6,2%/năm, tăng 0,83 điểm phần trăm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 0,57 điểm phần trăm lên 6,47%/năm.

Đối với các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 6,69%/năm, tăng 0,75 điểm phần trăm. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng lên 7,34%/năm, song thấp hơn khoảng 0,19 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự hạ nhiệt.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ khoảng 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Việc duy trì trạng thái hút ròng trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng neo cao cho thấy cơ quan điều hành vẫn theo đuổi định hướng kiểm soát thanh khoản thận trọng, đồng thời hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Diễn biến lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết hỗ trợ thông qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 33.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm; lượng phát hành tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn dài hơn. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn cao hơn, khoảng 38.873 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, Công ty TNHH Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) đánh giá, thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định dù nhu cầu vốn ngắn hạn có tăng nhẹ.

“Áp lực thanh khoản trong ngắn hạn đã hạ nhiệt sau các chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh phản ánh sự nhạy cảm của lãi suất đến chu kỳ giải ngân tín dụng, thanh khoản trong hệ thống dù không còn quá căng thẳng như giai đoạn trước Tết. Ngân hàng Nhà nước cũng luân phiên bơm hút linh hoạt qua kênh nghiệp vụ thị trường mở OMO.

Dù vậy, trên thị trường 1, lãi suất niêm yết khó có thể giảm thêm nữa khi mà lạm phát bình quân hiện tại đã gần vượt mốc 4%. Theo nhóm phân tích VNDirect, nếu như giá dầu thô thế giới tiếp tục duy trì trên mức 100 USD/thùng như hiện tại chúng tôi ước tính lạm phát bình quân cả năm sẽ vượt 5%. Khi đó, dư địa để điều tiết chính sách tiền tệ sẽ trở nên hạn chế hơn.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 4 tháng, DXY bật tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 19 đồng, đảo chiều rõ nét so với tuần trước khi giảm nhẹ 1 đồng. Đây cũng là mức biến động mạnh nhất của tỷ giá trung tâm trong gần 2 tháng trở lại đây. Chốt phiên ngày 15/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.131 VND/USD, tương đương mức ghi nhận ngày 16/1 và là mức cao nhất trong khoảng 4 tháng qua.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì xu hướng tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.107 - 26.387 VND/USD, cùng tăng 20 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.137 - 26.387 VND/USD, cũng tăng 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nắm giữ USD có xu hướng gia tăng nhẹ trong bối cảnh đồng bạc xanh quốc tế duy trì sức mạnh.

Trong khi đó, thị trường USD tự do biến động mạnh hơn đáng kể so với kênh chính thức, giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD, giảm tới 100 đồng trong tuần, cho thấy áp lực hạ nhiệt trên thị trường phi chính thức đang dần ổn định hơn.

Theo quan sát của Chứng khoán Yuanta, áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã dịu bớt đáng kể, trong bối cảnh DXY điều chỉnh và chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới thu hẹp.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trên thị trường quốc tế, đồng USD tiếp tục duy trì đà tăng khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,41% lên mức 99,23 điểm. Diễn biến này cho thấy đồng bạc xanh đang mạnh lên so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Tỷ giá USD/EUR tăng 0,34% lên 0,8599; tương tự, tỷ giá USD/GBP tăng 0,48% lên 0,7498.

Đồng yên Nhật cũng tiếp tục chịu áp lực giảm giá khi cặp USD/JPY tăng 0,2% lên 158,63 JPY/USD. Trong khi đó, cặp USD/CNY tăng 0,37% lên 6,8099, phản ánh đồng nhân dân tệ suy yếu nhẹ so với USD.

Tại các ngân hàng thương mại, đối với đồng euro, tỷ giá ghi nhận xu hướng giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR giảm 192 đồng ở chiều mua vào và giảm 202,2 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 29.882,45 - 31.457,75 VND/EUR. Trong khi đó, tại BIDV, tỷ giá EUR giảm mạnh hơn, với mức giảm 218 đồng ở chiều mua vào và 228 đồng ở chiều bán ra, hiện niêm yết ở mức 30.226 - 31.536 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm các ngoại tệ chủ chốt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP giảm 473,3 đồng ở chiều mua vào và giảm 493,5 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.284,94 - 35.740,20 VND/GBP. Tại BIDV, tỷ giá GBP giảm sâu hơn, với mức giảm 542 đồng ở chiều mua vào và 549 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.641 - 35.763 VND/GBP.

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD vẫn được hỗ trợ phần nào bởi dữ liệu việc làm Mỹ tháng 4 tốt hơn dự báo và khả năng Fed có thể tiếp tục giữ lãi suất cao lâu hơn.

Đồng JPY tiếp tục là tâm điểm chú ý của thị trường, khi tỷ giá USD/JPY dao động mạnh quanh vùng 156 - 160. Sau khi can thiệp vào cuối tháng 4, Bộ Tài chính Nhật Bản được cho là tiếp tục mua yên vào tuần qua giúp đồng yên có những phiên tăng mạnh đột ngột. Bên cạnh đó, kỳ vọng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể nâng lãi suất thêm trong tháng 6 cũng hỗ trợ đồng JPY, dù thị trường vẫn cho rằng quá trình bình thường hóa chính sách của BoJ sẽ diễn ra chậm./.

Nhập siêu nhiều tháng khiến áp lực tỷ giá gia tăng

Theo nhận định của Chứng khoán VNDirect, định hướng chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong thời gian tới nhiều khả năng vẫn nghiêng về ổn định giá cả hơn là sớm hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất USD nhiều khả năng sẽ tiếp tục neo ở mức cao, qua đó duy trì áp lực lên tỷ giá, chênh lệch lãi suất VND/USD và dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong các quý tới.

Trong nước, biến động tỷ giá chủ yếu phản ánh chênh lệch lãi suất và nhu cầu nắm giữ USD. Dù cán cân thương mại và dòng vốn FDI vẫn là các điểm tựa quan trọng, việc nhập siêu duy trì trong vài tháng vừa qua, cùng áp lực chi phí vốn có thể khiến dư địa điều hành tỷ giá và chính sách tiền tệ thận trọng hơn trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Nghệ An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Thái Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,070 ▼500K 13,770 ▼500K
Trang sức 99.99 13,080 ▼500K 13,780 ▼500K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17909 18183 18766
CAD 18353 18629 19248
CHF 32297 32680 33320
CNY 0 3842 3934
EUR 29777 29999 31075
GBP 34419 34810 35747
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14974 15567
SGD 19894 20176 20749
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26410
AUD 18124 18224 19154
CAD 18527 18627 19638
CHF 32585 32615 34193
CNY 3824.4 3849.4 3984.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29951 29981 31706
GBP 34740 34790 36548
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20053 20183 20914
THB 0 745 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 12000000 12000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80