Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

“Cầm lái” linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Lãi suất liên ngân hàng neo cao 6 - 7%, vẫn tiếp tục hút ròng qua OMO

Trong tuần qua từ ngày 11 - 15/5, lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao. Theo đó, kết phiên 14/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,05%/năm, tăng 1,06 điểm phần trăm. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần lên 6,2%/năm, tăng 0,83 điểm phần trăm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 0,57 điểm phần trăm lên 6,47%/năm.

Đối với các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 6,69%/năm, tăng 0,75 điểm phần trăm. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng lên 7,34%/năm, song thấp hơn khoảng 0,19 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự hạ nhiệt.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ khoảng 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Việc duy trì trạng thái hút ròng trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng neo cao cho thấy cơ quan điều hành vẫn theo đuổi định hướng kiểm soát thanh khoản thận trọng, đồng thời hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Diễn biến lãi suất liên ngân hàng ở vùng cao, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết hỗ trợ thông qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 33.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm; lượng phát hành tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn dài hơn. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn cao hơn, khoảng 38.873 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trong báo cáo tiền tệ tuần mới phát hành, Công ty TNHH Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) đánh giá, thanh khoản hệ thống được duy trì ổn định dù nhu cầu vốn ngắn hạn có tăng nhẹ.

“Áp lực thanh khoản trong ngắn hạn đã hạ nhiệt sau các chỉ đạo từ phía Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh phản ánh sự nhạy cảm của lãi suất đến chu kỳ giải ngân tín dụng, thanh khoản trong hệ thống dù không còn quá căng thẳng như giai đoạn trước Tết. Ngân hàng Nhà nước cũng luân phiên bơm hút linh hoạt qua kênh nghiệp vụ thị trường mở OMO.

Dù vậy, trên thị trường 1, lãi suất niêm yết khó có thể giảm thêm nữa khi mà lạm phát bình quân hiện tại đã gần vượt mốc 4%. Theo nhóm phân tích VNDirect, nếu như giá dầu thô thế giới tiếp tục duy trì trên mức 100 USD/thùng như hiện tại chúng tôi ước tính lạm phát bình quân cả năm sẽ vượt 5%. Khi đó, dư địa để điều tiết chính sách tiền tệ sẽ trở nên hạn chế hơn.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 4 tháng, DXY bật tăng trở lại

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 19 đồng, đảo chiều rõ nét so với tuần trước khi giảm nhẹ 1 đồng. Đây cũng là mức biến động mạnh nhất của tỷ giá trung tâm trong gần 2 tháng trở lại đây. Chốt phiên ngày 15/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.131 VND/USD, tương đương mức ghi nhận ngày 16/1 và là mức cao nhất trong khoảng 4 tháng qua.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì xu hướng tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.107 - 26.387 VND/USD, cùng tăng 20 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự, BIDV niêm yết USD ở mức 26.137 - 26.387 VND/USD, cũng tăng 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nắm giữ USD có xu hướng gia tăng nhẹ trong bối cảnh đồng bạc xanh quốc tế duy trì sức mạnh.

Trong khi đó, thị trường USD tự do biến động mạnh hơn đáng kể so với kênh chính thức, giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD, giảm tới 100 đồng trong tuần, cho thấy áp lực hạ nhiệt trên thị trường phi chính thức đang dần ổn định hơn.

Theo quan sát của Chứng khoán Yuanta, áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã dịu bớt đáng kể, trong bối cảnh DXY điều chỉnh và chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới thu hẹp.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Trên thị trường quốc tế, đồng USD tiếp tục duy trì đà tăng khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,41% lên mức 99,23 điểm. Diễn biến này cho thấy đồng bạc xanh đang mạnh lên so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Tỷ giá USD/EUR tăng 0,34% lên 0,8599; tương tự, tỷ giá USD/GBP tăng 0,48% lên 0,7498.

Đồng yên Nhật cũng tiếp tục chịu áp lực giảm giá khi cặp USD/JPY tăng 0,2% lên 158,63 JPY/USD. Trong khi đó, cặp USD/CNY tăng 0,37% lên 6,8099, phản ánh đồng nhân dân tệ suy yếu nhẹ so với USD.

Tại các ngân hàng thương mại, đối với đồng euro, tỷ giá ghi nhận xu hướng giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR giảm 192 đồng ở chiều mua vào và giảm 202,2 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 29.882,45 - 31.457,75 VND/EUR. Trong khi đó, tại BIDV, tỷ giá EUR giảm mạnh hơn, với mức giảm 218 đồng ở chiều mua vào và 228 đồng ở chiều bán ra, hiện niêm yết ở mức 30.226 - 31.536 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm các ngoại tệ chủ chốt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP giảm 473,3 đồng ở chiều mua vào và giảm 493,5 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.284,94 - 35.740,20 VND/GBP. Tại BIDV, tỷ giá GBP giảm sâu hơn, với mức giảm 542 đồng ở chiều mua vào và 549 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 34.641 - 35.763 VND/GBP.

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng USD vẫn được hỗ trợ phần nào bởi dữ liệu việc làm Mỹ tháng 4 tốt hơn dự báo và khả năng Fed có thể tiếp tục giữ lãi suất cao lâu hơn.

Đồng JPY tiếp tục là tâm điểm chú ý của thị trường, khi tỷ giá USD/JPY dao động mạnh quanh vùng 156 - 160. Sau khi can thiệp vào cuối tháng 4, Bộ Tài chính Nhật Bản được cho là tiếp tục mua yên vào tuần qua giúp đồng yên có những phiên tăng mạnh đột ngột. Bên cạnh đó, kỳ vọng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể nâng lãi suất thêm trong tháng 6 cũng hỗ trợ đồng JPY, dù thị trường vẫn cho rằng quá trình bình thường hóa chính sách của BoJ sẽ diễn ra chậm./.

Nhập siêu nhiều tháng khiến áp lực tỷ giá gia tăng

Theo nhận định của Chứng khoán VNDirect, định hướng chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong thời gian tới nhiều khả năng vẫn nghiêng về ổn định giá cả hơn là sớm hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất USD nhiều khả năng sẽ tiếp tục neo ở mức cao, qua đó duy trì áp lực lên tỷ giá, chênh lệch lãi suất VND/USD và dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong các quý tới.

Trong nước, biến động tỷ giá chủ yếu phản ánh chênh lệch lãi suất và nhu cầu nắm giữ USD. Dù cán cân thương mại và dòng vốn FDI vẫn là các điểm tựa quan trọng, việc nhập siêu duy trì trong vài tháng vừa qua, cùng áp lực chi phí vốn có thể khiến dư địa điều hành tỷ giá và chính sách tiền tệ thận trọng hơn trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 164,000
Hà Nội - PNJ 161,000 164,000
Đà Nẵng - PNJ 161,000 164,000
Miền Tây - PNJ 161,000 164,000
Tây Nguyên - PNJ 161,000 164,000
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 164,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 16,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 16,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 1,638
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 1,639
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 1,623
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 160,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 121,887
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 110,525
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 99,163
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 9,478
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 67,836
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Cập nhật: 16/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80