VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

Tuấn Nguyễn
(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
aa

Góp phần hiện thực hóa nhiều công trình trọng điểm

Trong 20 năm qua, nguồn vốn tín dụng đầu tư của VDB đã đảm bảo sự thành công của hàng trăm dự án quy mô lớn, đặc biệt là các dự án trọng điểm, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia. Nguồn vốn tín dụng đầu tư của VDB đã góp phần hiện thực hóa nhiều công trình trọng điểm như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lượng, điển hình như: Dự án Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Hệ thống truyền tải điện miền Trung, miền Nam… Các dự án nêu trên đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia
Cho vay đầu tư phát triển dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Ảnh: VDB

Bên cạnh đó, VDB vừa là nhà tài trợ vốn vừa trực tiếp là nhà đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành dự án Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đây là một trong những con đường có tiêu chuẩn cao nhất của Việt Nam, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, kết nối với các tuyến đường bộ khác tạo thành hệ thống giao thông đồng bộ hiện đại thúc đẩy giao thương, du lịch, dịch vụ và sản xuất vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu, VDB đã cung cấp nguồn vốn đáng kể để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như nông, lâm, thủy sản, đồng thời mở rộng sang các mặt hàng công nghiệp. Một trong những dấu ấn quan trọng của VDB là việc tập trung nguồn lực cho phát triển các vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi, VDB đã tài trợ cho hàng loạt dự án về cơ sở hạ tầng nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, phát triển giao thông nông thôn, xây dựng trường học, bệnh viện, hệ thống cấp nước sạch, nhà ở xã hội… Những dự án này đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới.

Trong giai đoạn phát triển mới, VDB sẽ tập trung huy động và phân bổ nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Ông Lê Văn Hoan - Chủ tịch HĐQT
Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Ngoài ra, VDB còn thông qua Bộ Tài chính huy động các nguồn vốn nước ngoài thuộc 7 Chương trình mục tiêu với điều kiện ưu đãi để cho vay lại các chương trình, dự án. Một số dự án/chương trình cho vay lại có thể kể đến như: Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo vốn JICA, Chương trình chống biến đổi khí hậu vốn EIB, Chương trình cấp nước đồng bằng sông Cửu Long vốn AFD...

Các dự án hạ tầng, giao thông, năng lượng…, do VDB hỗ trợ không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm, vùng biên giới, hải đảo.

Tái định vị là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế

Góp ý cho định hướng phát triển của VDB trong giai đoạn tới, TS. Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, VDB cần được tái định vị là định chế tài chính phát triển của Chính phủ, có vai trò dẫn dắt và huy động nguồn lực xã hội, đồng thời khắc phục những khoảng trống của thị trường vốn dài hạn.

Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của VDB theo hướng đa chiều, kết hợp hiệu quả chính sách với hiệu quả tài chính; đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát hành trái phiếu, huy động vốn quốc tế và tăng cường đồng tài trợ với khu vực tư nhân.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Minh Thảo - Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, trong bối cảnh phát triển mới đang đặt ra yêu cầu tái định vị vai trò của VDB như một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Theo đó, VDB cần được tăng cường năng lực tài chính, hoàn thiện cơ chế hoạt động và nâng cao quản trị rủi ro; cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đa dạng hóa nguồn huy động vốn, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị ngân hàng. VDB cũng cần tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên chiến lược, đóng vai trò “vốn mồi” dẫn dắt dòng vốn xã hội vào các dự án có tính lan tỏa cao.

Còn theo bà Đỗ Kim Liên - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn AquaOne (doanh nghiệp sử dụng dòng vốn từ VDB triển khai Dự án Nhà máy nước mặt Xuân Mai) cho rằng, trong lĩnh vực cấp nước, các dự án thường có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài, khiến việc huy động vốn theo cơ chế thị trường thuần túy gặp nhiều khó khăn.

Trong bối cảnh đó, tín dụng đầu tư Nhà nước thông qua VDB đóng vai trò nguồn lực dẫn dắt, giúp dự án trở nên khả thi, đồng thời bảo đảm mục tiêu an sinh và phát triển bền vững. Bà Liên khẳng định, hiệu quả của tín dụng đầu tư Nhà nước không chỉ nằm ở quy mô vốn giải ngân mà ở giá trị lan tỏa mà dự án tạo ra cho xã hội. Khi được thiết kế phù hợp với đặc thù ngành và có sự đồng hành của tổ chức tín dụng chính sách, nguồn vốn này có thể trở thành “đòn bẩy” giúp triển khai các dự án hạ tầng thiết yếu, mở đường cho phát triển kinh tế - xã hội và thu hút thêm nguồn lực từ khu vực tư nhân.

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia
Thực hiện cho vay ưu đãi Chương trình Kiên cố hóa Kênh mương. Ảnh: VDB
Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 13,950 ▼200K 14,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,900 ▼200K 14,100 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17977 18251 18832
CAD 18131 18406 19019
CHF 32288 32671 33319
CNY 0 3851 3943
EUR 29689 29911 30986
GBP 34230 34621 35552
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14938 15528
SGD 19909 20191 20762
THB 721 785 838
USD (1,2) 26050 0 0
USD (5,10,20) 26091 0 0
USD (50,100) 26120 26134 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,835 29,859 31,218
JPY 159.52 159.81 169.09
GBP 34,449 34,542 35,663
AUD 18,185 18,251 18,894
CAD 18,344 18,403 19,033
CHF 32,595 32,696 33,581
SGD 20,040 20,102 20,848
CNY - 3,824 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.94 16.62 18.04
THB 769.03 778.53 831.31
NZD 14,915 15,053 15,467
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,992 4,123
NOK - 2,699 2,788
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,023.82 - 6,784.15
TWD 752.35 - 909.27
SAR - 6,901.23 7,251.67
KWD - 83,541 88,676
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26431
AUD 18148 18248 19171
CAD 18320 18420 19433
CHF 32547 32577 34163
CNY 3834.4 3859.4 3995
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29864 29894 31619
GBP 34531 34581 36339
HKD 0 3355 0
JPY 160.3 160.8 171.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15021 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20057 20187 20915
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15300000
SBJ 13500000 13500000 15300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,431
USD20 26,151 26,201 26,431
USD1 23,915 26,201 26,431
AUD 18,201 18,301 19,408
EUR 30,019 30,019 31,578
CAD 18,270 18,370 19,673
SGD 20,137 20,287 20,852
JPY 160.8 162.3 166.84
GBP 34,431 34,781 35,653
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,744 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80