Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
aa
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược” Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Cạnh tranh huy động vốn ngày càng nóng

Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) vừa có báo cáo đánh giá về kết quả kinh doanh quý I/2026 ngành ngân hàng.

Các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của SSI Research ghi nhận kết quả kinh doanh quý I/2026 tích cực, với lợi nhuận trước thuế đạt 79,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng khoảng 10% trong dự báo trước đó.

Kết quả vượt trội chủ yếu đến từ VietinBank, TechcombankMB nhờ giảm trích lập dự phòng, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh. Các ngân hàng còn lại nhìn chung ghi nhận kết quả phù hợp với kỳ vọng.

Tăng trưởng lợi nhuận tiếp tục được dẫn dắt bởi tín dụng, với dư nợ cho vay tăng 20% so với cùng kỳ, giúp thu nhập lãi thuần tăng 18%. Thu nhập phí phục hồi cùng với việc kiểm soát chi phí hoạt động tăng 10% tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận quý I/2026.

Theo SSI Research, bức tranh huy động kém tích cực phản ánh các yếu tố mang tính cấu trúc và dòng tiền luân chuyển theo mùa vụ, bao gồm xu hướng tăng nắm giữ tiền mặt trước những thay đổi quy định gần đây, vòng quay tiền chậm lại sau giai đoạn giải ngân mạnh vào bất động sản các năm trước và tiền gửi doanh nghiệp thường giảm vào đầu năm.

Đáng chú ý, nguồn vốn trở thành điểm nóng trong quý I/2026. “Tính đến cuối quý IV/2025, tỷ lệ LDR của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đã tiệm cận 100%, trong khi thanh khoản ngày càng phụ thuộc vào tiền gửi Kho bạc Nhà nước, kênh OMO (thị trường mở) và một số nguồn vốn nước ngoài, thay vì tăng trưởng tiền gửi cốt lõi” - SSI Research nhấn mạnh.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Điều này dẫn tới cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt trong quý I/2026. Mặc dù tổng tiền gửi khách hàng toàn hệ thống chỉ tăng 0,2% từ đầu năm, sự phân hóa diễn ra khá rõ. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giảm 0,7%, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng 1,3%, phản ánh dòng tiền gửi dịch chuyển từ các ngân hàng có lãi suất thấp sang các ngân hàng trả lãi suất cao hơn.

VPBankHDBank là những ngân hàng dẫn dắt chu kỳ điều chỉnh lãi suất, qua đó, sớm thu hút được tiền gửi khách hàng. Mặt bằng lãi suất có thời điểm lên vùng 9 - 9,5%, tăng khoảng 120 - 150 điểm cơ bản.

Trước bối cảnh đó, các ngân hàng gia tăng sử dụng nguồn vốn thay thế như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và vốn nước ngoài, với lượng phát hành đáng chú ý tại BIDV tăng 78 nghìn tỷ đồng, ACB tăng 23 nghìn tỷ đồng và MB tăng 22 nghìn tỷ đồng.

Cạnh tranh lãi suất gay gắt, NIM co hẹp còn 3,04%

SSI Research đánh giá, tăng trưởng tiền gửi có thể phục hồi trong quý II/2026 nhờ lãi suất huy động vẫn neo ở mức tương đối cao, yếu tố mùa vụ liên quan đến tiền gửi khách hàng doanh nghiệp quay trở lại bình thường và những điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh.

Trong khi đó, huy động vốn nước ngoài nếu sớm được triển khai thành công sẽ góp phần cải thiện dần tình hình huy động.

Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng có thể chậm lại trong bối cảnh lãi suất cho vay ở mức hai chữ số, qua đó, phần nào giảm áp lực thanh khoản và giúp điều kiện thanh khoản dần ổn định từ mức căng thẳng hiện tại.

“Tuy nhiên, điều kiện nguồn vốn vẫn rất nhạy cảm với các thay đổi quy định sắp tới. Đặc biệt, việc áp dụng các thước đo thanh khoản mới như CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) - nếu được triển khai ngay lập tức và không có giai đoạn chuyển tiếp hoặc lộ trình áp dụng theo từng bước - có thể khiến áp lực huy động gia tăng trở lại” - nhóm phân tích nêu quan điểm.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt
SSI Research cho biết, mặc dù lợi suất tài sản tăng nhẹ 9 điểm cơ bản so với quý trước, mức tăng này không đủ bù đắp cho chi phí vốn tăng mạnh 31 điểm cơ bản trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất gay gắt, cho thấy giới hạn của việc mở rộng bảng cân đối kế toán trong việc bù đắp áp lực chi phí. Do đó, NIM toàn hệ thống giảm 20 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,04%.

Tăng trưởng tín dụng đạt 3,7% từ đầu năm, tương đương tăng 20% so với cùng kỳ, so với mức tăng 3,4% và 19% của quý I/2025, chủ yếu được dẫn dắt bởi các ngân hàng còn dư địa hạn mức nhờ tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém.

Tuy nhiên, trong nhóm này, chỉ VPBank tăng 10,3%, HDBank tăng 8% và Vietcombank tăng 4,8% nhờ lợi thế về nguồn vốn huy động.

SSI Research nhấn mạnh, điều này cho thấy, dù hạn mức tín dụng vẫn là điều kiện cần, khả năng huy động vốn đã trở thành yếu tố phân hóa then chốt trong bối cảnh LDR toàn hệ thống đã vượt 100%.

Phần lớn các ngân hàng còn lại chỉ ghi nhận tăng trưởng khoảng 2,5 - 3,5% từ đầu năm, trong khi VietinBank tăng 1,8% và Sacombank tăng 0,1%, thấp hơn mặt bằng chung.

Cũng theo quan sát của SSI Research, NIM giảm trở lại sau nhịp phục hồi trong quý IV/2025, với mức độ phân hóa nhìn chung phù hợp kỳ vọng. Cụ thể, NIM cải thiện tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, nhưng tiếp tục chịu áp lực tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần do chi phí huy động tăng, trong đó BIDV là ngoại lệ đáng chú ý trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Vietcombank và VietinBank nổi bật với NIM tăng 14 điểm cơ bản so với quý trước nhờ cơ cấu nguồn vốn vững mạnh hơn. Ngược lại, BIDV giảm 36 điểm cơ bản do lợi suất tài sản sụt giảm mạnh, có thể phản ánh khác biệt về thời điểm ghi nhận và cần được theo dõi sát hơn.

Sacombank là trường hợp đặc biệt khi NIM phục hồi 34 điểm cơ bản so với quý trước, chủ yếu nhờ mức nền rất thấp trong quý IV/2025 do các yếu tố liên quan đến chất lượng tài sản./.

Kiểm soát NIM trở thành thách thức chính

Với tỷ lệ LDR và lãi suất huy động vẫn ở mức cao, SSI Research đánh giá, NIM dự kiến tiếp tục chịu áp lực, khiến việc kiểm soát NIM trở thành thách thức chính trong các quý tới. Các hạn chế về nguồn vốn và áp lực thu hẹp biên lợi nhuận dự kiến sẽ tiếp diễn trong ngắn hạn. Rủi ro chất lượng tài sản được dự báo dần rõ nét hơn trong môi trường lãi suất cao.

Bên cạnh đó, các thay đổi quy định sắp tới có thể ảnh hưởng đến điều kiện thanh khoản và làm tăng chi phí nếu thiếu lộ trình chuyển tiếp phù hợp. Trong bối cảnh này, SSI Research cho rằng, mức độ phân hóa về hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Những ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn ổn định, bộ đệm vốn mạnh và quản trị rủi ro tốt sẽ ở vị thế thuận lợi hơn để vượt qua thách thức.

Các cổ phiếu ưa thích vẫn là Vietcombank, VietinBank và MB. Trong đó, MB cần tiếp tục cải thiện mức độ đa dạng hóa nguồn vốn và phục hồi nền tảng tiền gửi nhằm củng cố luận điểm đầu tư./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80