Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
aa
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược” Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Cạnh tranh huy động vốn ngày càng nóng

Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) vừa có báo cáo đánh giá về kết quả kinh doanh quý I/2026 ngành ngân hàng.

Các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của SSI Research ghi nhận kết quả kinh doanh quý I/2026 tích cực, với lợi nhuận trước thuế đạt 79,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng khoảng 10% trong dự báo trước đó.

Kết quả vượt trội chủ yếu đến từ VietinBank, TechcombankMB nhờ giảm trích lập dự phòng, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh. Các ngân hàng còn lại nhìn chung ghi nhận kết quả phù hợp với kỳ vọng.

Tăng trưởng lợi nhuận tiếp tục được dẫn dắt bởi tín dụng, với dư nợ cho vay tăng 20% so với cùng kỳ, giúp thu nhập lãi thuần tăng 18%. Thu nhập phí phục hồi cùng với việc kiểm soát chi phí hoạt động tăng 10% tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận quý I/2026.

Theo SSI Research, bức tranh huy động kém tích cực phản ánh các yếu tố mang tính cấu trúc và dòng tiền luân chuyển theo mùa vụ, bao gồm xu hướng tăng nắm giữ tiền mặt trước những thay đổi quy định gần đây, vòng quay tiền chậm lại sau giai đoạn giải ngân mạnh vào bất động sản các năm trước và tiền gửi doanh nghiệp thường giảm vào đầu năm.

Đáng chú ý, nguồn vốn trở thành điểm nóng trong quý I/2026. “Tính đến cuối quý IV/2025, tỷ lệ LDR của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đã tiệm cận 100%, trong khi thanh khoản ngày càng phụ thuộc vào tiền gửi Kho bạc Nhà nước, kênh OMO (thị trường mở) và một số nguồn vốn nước ngoài, thay vì tăng trưởng tiền gửi cốt lõi” - SSI Research nhấn mạnh.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Điều này dẫn tới cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt trong quý I/2026. Mặc dù tổng tiền gửi khách hàng toàn hệ thống chỉ tăng 0,2% từ đầu năm, sự phân hóa diễn ra khá rõ. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giảm 0,7%, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng 1,3%, phản ánh dòng tiền gửi dịch chuyển từ các ngân hàng có lãi suất thấp sang các ngân hàng trả lãi suất cao hơn.

VPBankHDBank là những ngân hàng dẫn dắt chu kỳ điều chỉnh lãi suất, qua đó, sớm thu hút được tiền gửi khách hàng. Mặt bằng lãi suất có thời điểm lên vùng 9 - 9,5%, tăng khoảng 120 - 150 điểm cơ bản.

Trước bối cảnh đó, các ngân hàng gia tăng sử dụng nguồn vốn thay thế như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và vốn nước ngoài, với lượng phát hành đáng chú ý tại BIDV tăng 78 nghìn tỷ đồng, ACB tăng 23 nghìn tỷ đồng và MB tăng 22 nghìn tỷ đồng.

Cạnh tranh lãi suất gay gắt, NIM co hẹp còn 3,04%

SSI Research đánh giá, tăng trưởng tiền gửi có thể phục hồi trong quý II/2026 nhờ lãi suất huy động vẫn neo ở mức tương đối cao, yếu tố mùa vụ liên quan đến tiền gửi khách hàng doanh nghiệp quay trở lại bình thường và những điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh.

Trong khi đó, huy động vốn nước ngoài nếu sớm được triển khai thành công sẽ góp phần cải thiện dần tình hình huy động.

Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng có thể chậm lại trong bối cảnh lãi suất cho vay ở mức hai chữ số, qua đó, phần nào giảm áp lực thanh khoản và giúp điều kiện thanh khoản dần ổn định từ mức căng thẳng hiện tại.

“Tuy nhiên, điều kiện nguồn vốn vẫn rất nhạy cảm với các thay đổi quy định sắp tới. Đặc biệt, việc áp dụng các thước đo thanh khoản mới như CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) - nếu được triển khai ngay lập tức và không có giai đoạn chuyển tiếp hoặc lộ trình áp dụng theo từng bước - có thể khiến áp lực huy động gia tăng trở lại” - nhóm phân tích nêu quan điểm.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt
SSI Research cho biết, mặc dù lợi suất tài sản tăng nhẹ 9 điểm cơ bản so với quý trước, mức tăng này không đủ bù đắp cho chi phí vốn tăng mạnh 31 điểm cơ bản trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất gay gắt, cho thấy giới hạn của việc mở rộng bảng cân đối kế toán trong việc bù đắp áp lực chi phí. Do đó, NIM toàn hệ thống giảm 20 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,04%.

Tăng trưởng tín dụng đạt 3,7% từ đầu năm, tương đương tăng 20% so với cùng kỳ, so với mức tăng 3,4% và 19% của quý I/2025, chủ yếu được dẫn dắt bởi các ngân hàng còn dư địa hạn mức nhờ tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém.

Tuy nhiên, trong nhóm này, chỉ VPBank tăng 10,3%, HDBank tăng 8% và Vietcombank tăng 4,8% nhờ lợi thế về nguồn vốn huy động.

SSI Research nhấn mạnh, điều này cho thấy, dù hạn mức tín dụng vẫn là điều kiện cần, khả năng huy động vốn đã trở thành yếu tố phân hóa then chốt trong bối cảnh LDR toàn hệ thống đã vượt 100%.

Phần lớn các ngân hàng còn lại chỉ ghi nhận tăng trưởng khoảng 2,5 - 3,5% từ đầu năm, trong khi VietinBank tăng 1,8% và Sacombank tăng 0,1%, thấp hơn mặt bằng chung.

Cũng theo quan sát của SSI Research, NIM giảm trở lại sau nhịp phục hồi trong quý IV/2025, với mức độ phân hóa nhìn chung phù hợp kỳ vọng. Cụ thể, NIM cải thiện tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, nhưng tiếp tục chịu áp lực tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần do chi phí huy động tăng, trong đó BIDV là ngoại lệ đáng chú ý trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Vietcombank và VietinBank nổi bật với NIM tăng 14 điểm cơ bản so với quý trước nhờ cơ cấu nguồn vốn vững mạnh hơn. Ngược lại, BIDV giảm 36 điểm cơ bản do lợi suất tài sản sụt giảm mạnh, có thể phản ánh khác biệt về thời điểm ghi nhận và cần được theo dõi sát hơn.

Sacombank là trường hợp đặc biệt khi NIM phục hồi 34 điểm cơ bản so với quý trước, chủ yếu nhờ mức nền rất thấp trong quý IV/2025 do các yếu tố liên quan đến chất lượng tài sản./.

Kiểm soát NIM trở thành thách thức chính

Với tỷ lệ LDR và lãi suất huy động vẫn ở mức cao, SSI Research đánh giá, NIM dự kiến tiếp tục chịu áp lực, khiến việc kiểm soát NIM trở thành thách thức chính trong các quý tới. Các hạn chế về nguồn vốn và áp lực thu hẹp biên lợi nhuận dự kiến sẽ tiếp diễn trong ngắn hạn. Rủi ro chất lượng tài sản được dự báo dần rõ nét hơn trong môi trường lãi suất cao.

Bên cạnh đó, các thay đổi quy định sắp tới có thể ảnh hưởng đến điều kiện thanh khoản và làm tăng chi phí nếu thiếu lộ trình chuyển tiếp phù hợp. Trong bối cảnh này, SSI Research cho rằng, mức độ phân hóa về hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Những ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn ổn định, bộ đệm vốn mạnh và quản trị rủi ro tốt sẽ ở vị thế thuận lợi hơn để vượt qua thách thức.

Các cổ phiếu ưa thích vẫn là Vietcombank, VietinBank và MB. Trong đó, MB cần tiếp tục cải thiện mức độ đa dạng hóa nguồn vốn và phục hồi nền tảng tiền gửi nhằm củng cố luận điểm đầu tư./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

(TBTCO) - Năm 2026, Vietnam Airlines đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Dù dự kiến lãi khoảng 2.000 tỷ đồng nửa đầu năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm khoảng 510 tỷ đồng do áp lực từ giá nhiên liệu bay. Hãng tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn, tăng vốn để trả nợ, đầu tư dài hạn và chủ động ứng phó biến động thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,250 ▼50K 13,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,200 ▼50K 13,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 ▼50K 14,200 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 ▼50K 14,180 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼100K 14,590 ▼100K
Trang sức 99.99 13,900 ▼100K 14,600 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1310K 14,802 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1310K 14,803 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼5K 1,479 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼5K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▼5K 1,464 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼124651K 14,495 ▼130951K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▼375K 109,961 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▼340K 99,712 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▼305K 89,463 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼68700K 8,551 ▼77250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▼208K 61,205 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cập nhật: 29/06/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18455
CAD 17989 18264 18881
CHF 31868 32249 32897
CNY 0 3828 3921
EUR 29347 29567 30648
GBP 33956 34346 35284
HKD 0 3221 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15138
SGD 19779 20061 20642
THB 705 769 822
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26461
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,121 26,121 26,461
USD(1-2-5) 25,077 - -
USD(10-20) 25,077 - -
EUR 29,614 29,638 31,000
JPY 158.78 159.07 168.4
GBP 34,293 34,386 35,514
AUD 17,890 17,955 18,609
CAD 18,275 18,334 18,975
CHF 32,249 32,349 33,241
SGD 20,003 20,065 20,820
CNY - 3,814 3,954
HKD 3,300 3,310 3,442
KRW 15.79 16.47 17.89
THB 756.99 766.34 819.12
NZD 14,612 14,748 15,159
SEK - 2,673 2,763
DKK - 3,962 4,095
NOK - 2,618 2,706
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,070.98 - 6,843.95
TWD 748.51 - 905.28
SAR - 6,913.42 7,269.75
KWD - 83,470 88,665
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,101 26,121 26,461
EUR 29,401 29,519 30,699
GBP 34,102 34,239 35,249
HKD 3,286 3,299 3,415
CHF 31,936 32,064 32,976
JPY 158.57 159.21 166.99
AUD 17,767 17,838 18,423
SGD 19,977 20,057 20,635
THB 768 771 806
CAD 18,206 18,279 18,840
NZD 14,581 15,109
KRW 16.38 18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26097 26097 26461
AUD 17779 17879 18801
CAD 18170 18270 19284
CHF 32091 32121 33703
CNY 3808.5 3833.5 3968.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29518 29548 31270
GBP 34236 34286 36038
HKD 0 3355 0
JPY 158.84 159.34 169.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14648 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19933 20063 20789
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,461
USD20 26,135 26,185 26,461
USD1 26,135 26,185 26,461
AUD 17,824 17,924 19,037
EUR 29,656 29,656 31,380
CAD 18,136 18,236 19,545
SGD 20,022 20,172 20,732
JPY 159.57 161.07 165.63
GBP 34,125 34,475 35,598
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/06/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80