Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
aa
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Sau 3 tháng “án binh”, nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

BIDV giữ ngôi đầu, nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng tăng tốc hút vốn

Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, riêng ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ, cho thấy tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 12.881.371,7 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,6% so với cuối quý IV/2025. Đây là mức tăng khá khiêm tốn trong bối cảnh quý đầu năm thường là giai đoạn dòng tiền rút mạnh khỏi ngân hàng để phục vụ chi tiêu, thanh toán cuối năm và dịp Tết.

Trong khi đó, nếu so với cuối quý III/2025 - thời điểm các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động trên toàn hệ thống - tổng tiền gửi khách hàng đã tăng khoảng 5%, cho thấy mặt bằng lãi suất cao hơn phần nào phát huy tác động trong việc hút dòng vốn quay trở lại ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

HDBank, ABBank, VPBank và MB là các ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống so với cuối quý III/2025. Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB đều nằm trong nhóm ngân hàng được kỳ vọng đẩy mạnh tín dụng, nhờ nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Điều này cũng khiến nhu cầu tăng trưởng huy động vốn trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn hoạt động.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống, BIDV tiếp tục dẫn đầu với tiền gửi khách hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026, giảm 3,7% so với cuối năm 2025, nhưng vẫn tăng 2,6% so với cuối quý III/2025.

VietinBank đứng thứ hai nhóm khảo sát, với quy mô tiền gửi khách hàng đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 2,7% so với cuối quý III/2025.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank xếp thứ ba với tiền gửi khách hàng đạt khoảng 1,68 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng 4,3% so với cuối quý III/2025.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB dẫn đầu và đứng thứ 4 toàn hệ thống, với quy mô huy động đạt khoảng 906 nghìn tỷ đồng. Dù giảm 1,7% so với cuối quý IV/2025 do yếu tố mùa vụ đầu năm, tiền gửi khách hàng của MB vẫn tăng mạnh 15% so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, VPBank và HDBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động nổi bật nhất hệ thống trong quý I/2026. Cụ thể, tiền gửi khách hàng tại VPBank đạt 682.719,4 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,5% so với cuối quý III/2025.

Trong khi đó, HDBank đạt 621.548,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với quý IV/2025 và tăng mạnh tới 27,4% so với cuối quý III/2025, cho thấy khả năng hút dòng tiền rất mạnh trong giai đoạn lãi suất huy động tăng cao. HDBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống.

Sau cuộc đua lãi suất, nhiều ngân hàng vẫn chật vật giữ dòng tiền

Dù nhiều ngân hàng bắt đầu tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025 để hút dòng tiền, tiền gửi khách hàng trong quý I/2026 vẫn ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều nhà băng, chủ yếu dòng tiền rút ra mạnh để phục vụ thanh toán lương thưởng, chi tiêu Tết, thanh toán công nợ và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong nhóm khảo sát, VietBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 96.521,5 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cuối quý IV/2025. TPBank giảm 4,3% xuống 267.038,2 tỷ đồng; Saigonbank giảm 3,7% còn 25.348,7 tỷ đồng; BIDV giảm 3,7% xuống hơn 2,1 triệu tỷ đồng...

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành nam châm hút vốn
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành “nam châm” hút vốn. Ảnh minh họa.

Bên cạnh đó, dù nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025, một số nhà băng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026, cho thấy áp lực cạnh tranh dòng tiền vẫn khá lớn.

Trong nhóm khảo sát, NamABank là ngân hàng giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 176.865,4 tỷ đồng, giảm 8,7% so với cuối quý III/2025. Sacombank cũng giảm 6,3%, xuống còn 600.789 tỷ đồng.

Một số ngân hàng khác ghi nhận huy động “đi lùi” như: VietBank giảm 4,3% xuống 96.521,5 tỷ đồng; Saigonbank giảm 2,3% còn 25.348,7 tỷ đồng; BacABank giảm 2,3% còn 127.458,1 tỷ đồng. Trong khi đó, ACB gần như đi ngang 569.109,6 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy việc tăng lãi suất huy động chưa thể ngay lập tức giúp tất cả ngân hàng cải thiện quy mô tiền gửi, trong bối cảnh dòng tiền của người dân và doanh nghiệp vẫn phân bổ sang các kênh đầu tư khác; đồng thời, cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt khi nhiều ngân hàng lớn cũng đồng loạt nâng mạnh lãi suất để hút vốn.

Nhìn lại mặt bằng lãi suất huy động niêm yết trong tháng 3/2026 cho thấy cuộc đua hút tiền gửi giữa các ngân hàng tư nhân lớn diễn ra khá quyết liệt. Ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng, VPBank nổi bật nhất, đặc biệt tại kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi lên tới 6,4%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank và MB “so kè” khi cùng niêm yết mức 6,5%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài 24 tháng, MB cho thấy lợi thế rõ rệt với mức lãi suất tới 7,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 6,2%/năm của VPBank, phản ánh chiến lược ưu tiên hút dòng tiền trung và dài hạn của ngân hàng này.

“VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 3 tháng đầu năm 10,2% trong khi tổng thị trường chỉ tăng khoảng 2,1% và huy động cũng đã tăng hơn 10%, đặc biệt, riêng ngân hàng mẹ mức tăng huy động tới 11,3%. Những các yếu tố này cho thấy VPBank đang ở trong “guồng quay” tăng trưởng rất cao” - lãnh đạo VPBank nhìn nhận.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, Tổng Giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng huy động rất mạnh, khoảng 35 - 36%, trong đó huy động được khoảng 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Sang năm 2026, ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng huy động thêm khoảng 40%, đồng thời dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng.

Theo ông Vinh, quy mô huy động dự kiến tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương quy mô của một ngân hàng cỡ trung bình, nên đây không phải nhiệm vụ dễ dàng với bất kỳ ngân hàng nào.

Năm 2026, MB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ và huy động vốn khoảng 35%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Lãnh đạo MB chia sẻ tại Hội nghị nhà đầu tư rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn huy động phù hợp với tốc độ mở rộng cho vay. Theo đó, chi phí vốn (COF) của MB năm 2026 dự kiến tăng khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm so với năm 2025.

Nói về làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian qua, lãnh đạo VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng cao nhất trong vòng 3 năm gần đây. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh chung của toàn ngành ngân hàng.

Theo lãnh đạo VPBank, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý I/2026 vừa qua khoảng 3 - 3,5%, huy động tăng thấp hơn; trong khi VPBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên áp lực huy động vốn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, với các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước cùng sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng, xu hướng tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ dần được điều chỉnh lại, sau đó đi ngang trước khi có điều kiện giảm dần./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 16,550
Kim TT/AVPL 16,250 16,550
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 165,500
Hà Nội - PNJ 162,500 165,500
Đà Nẵng - PNJ 162,500 165,500
Miền Tây - PNJ 162,500 165,500
Tây Nguyên - PNJ 162,500 165,500
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 165,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 16,550
Miếng SJC Nghệ An 16,250 16,550
Miếng SJC Thái Bình 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,100
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 16,552
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 16,553
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 1,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 1,654
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 1,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 162,178
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 123,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 111,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 100,078
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 95,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 68,461
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cập nhật: 13/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80