Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
aa
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Sau 3 tháng “án binh”, nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

BIDV giữ ngôi đầu, nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng tăng tốc hút vốn

Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, riêng ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ, cho thấy tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 12.881.371,7 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,6% so với cuối quý IV/2025. Đây là mức tăng khá khiêm tốn trong bối cảnh quý đầu năm thường là giai đoạn dòng tiền rút mạnh khỏi ngân hàng để phục vụ chi tiêu, thanh toán cuối năm và dịp Tết.

Trong khi đó, nếu so với cuối quý III/2025 - thời điểm các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động trên toàn hệ thống - tổng tiền gửi khách hàng đã tăng khoảng 5%, cho thấy mặt bằng lãi suất cao hơn phần nào phát huy tác động trong việc hút dòng vốn quay trở lại ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

HDBank, ABBank, VPBank và MB là các ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống so với cuối quý III/2025. Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB đều nằm trong nhóm ngân hàng được kỳ vọng đẩy mạnh tín dụng, nhờ nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Điều này cũng khiến nhu cầu tăng trưởng huy động vốn trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn hoạt động.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống, BIDV tiếp tục dẫn đầu với tiền gửi khách hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026, giảm 3,7% so với cuối năm 2025, nhưng vẫn tăng 2,6% so với cuối quý III/2025.

VietinBank đứng thứ hai nhóm khảo sát, với quy mô tiền gửi khách hàng đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 2,7% so với cuối quý III/2025.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank xếp thứ ba với tiền gửi khách hàng đạt khoảng 1,68 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng 4,3% so với cuối quý III/2025.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB dẫn đầu và đứng thứ 4 toàn hệ thống, với quy mô huy động đạt khoảng 906 nghìn tỷ đồng. Dù giảm 1,7% so với cuối quý IV/2025 do yếu tố mùa vụ đầu năm, tiền gửi khách hàng của MB vẫn tăng mạnh 15% so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, VPBank và HDBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động nổi bật nhất hệ thống trong quý I/2026. Cụ thể, tiền gửi khách hàng tại VPBank đạt 682.719,4 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,5% so với cuối quý III/2025.

Trong khi đó, HDBank đạt 621.548,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với quý IV/2025 và tăng mạnh tới 27,4% so với cuối quý III/2025, cho thấy khả năng hút dòng tiền rất mạnh trong giai đoạn lãi suất huy động tăng cao. HDBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống.

Sau cuộc đua lãi suất, nhiều ngân hàng vẫn chật vật giữ dòng tiền

Dù nhiều ngân hàng bắt đầu tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025 để hút dòng tiền, tiền gửi khách hàng trong quý I/2026 vẫn ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều nhà băng, chủ yếu dòng tiền rút ra mạnh để phục vụ thanh toán lương thưởng, chi tiêu Tết, thanh toán công nợ và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong nhóm khảo sát, VietBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 96.521,5 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cuối quý IV/2025. TPBank giảm 4,3% xuống 267.038,2 tỷ đồng; Saigonbank giảm 3,7% còn 25.348,7 tỷ đồng; BIDV giảm 3,7% xuống hơn 2,1 triệu tỷ đồng...

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành nam châm hút vốn
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành “nam châm” hút vốn. Ảnh minh họa.

Bên cạnh đó, dù nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025, một số nhà băng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026, cho thấy áp lực cạnh tranh dòng tiền vẫn khá lớn.

Trong nhóm khảo sát, NamABank là ngân hàng giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 176.865,4 tỷ đồng, giảm 8,7% so với cuối quý III/2025. Sacombank cũng giảm 6,3%, xuống còn 600.789 tỷ đồng.

Một số ngân hàng khác ghi nhận huy động “đi lùi” như: VietBank giảm 4,3% xuống 96.521,5 tỷ đồng; Saigonbank giảm 2,3% còn 25.348,7 tỷ đồng; BacABank giảm 2,3% còn 127.458,1 tỷ đồng. Trong khi đó, ACB gần như đi ngang 569.109,6 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy việc tăng lãi suất huy động chưa thể ngay lập tức giúp tất cả ngân hàng cải thiện quy mô tiền gửi, trong bối cảnh dòng tiền của người dân và doanh nghiệp vẫn phân bổ sang các kênh đầu tư khác; đồng thời, cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt khi nhiều ngân hàng lớn cũng đồng loạt nâng mạnh lãi suất để hút vốn.

Nhìn lại mặt bằng lãi suất huy động niêm yết trong tháng 3/2026 cho thấy cuộc đua hút tiền gửi giữa các ngân hàng tư nhân lớn diễn ra khá quyết liệt. Ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng, VPBank nổi bật nhất, đặc biệt tại kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi lên tới 6,4%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank và MB “so kè” khi cùng niêm yết mức 6,5%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài 24 tháng, MB cho thấy lợi thế rõ rệt với mức lãi suất tới 7,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 6,2%/năm của VPBank, phản ánh chiến lược ưu tiên hút dòng tiền trung và dài hạn của ngân hàng này.

“VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 3 tháng đầu năm 10,2% trong khi tổng thị trường chỉ tăng khoảng 2,1% và huy động cũng đã tăng hơn 10%, đặc biệt, riêng ngân hàng mẹ mức tăng huy động tới 11,3%. Những các yếu tố này cho thấy VPBank đang ở trong “guồng quay” tăng trưởng rất cao” - lãnh đạo VPBank nhìn nhận.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, Tổng Giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng huy động rất mạnh, khoảng 35 - 36%, trong đó huy động được khoảng 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Sang năm 2026, ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng huy động thêm khoảng 40%, đồng thời dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng.

Theo ông Vinh, quy mô huy động dự kiến tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương quy mô của một ngân hàng cỡ trung bình, nên đây không phải nhiệm vụ dễ dàng với bất kỳ ngân hàng nào.

Năm 2026, MB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ và huy động vốn khoảng 35%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Lãnh đạo MB chia sẻ tại Hội nghị nhà đầu tư rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn huy động phù hợp với tốc độ mở rộng cho vay. Theo đó, chi phí vốn (COF) của MB năm 2026 dự kiến tăng khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm so với năm 2025.

Nói về làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian qua, lãnh đạo VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng cao nhất trong vòng 3 năm gần đây. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh chung của toàn ngành ngân hàng.

Theo lãnh đạo VPBank, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý I/2026 vừa qua khoảng 3 - 3,5%, huy động tăng thấp hơn; trong khi VPBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên áp lực huy động vốn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, với các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước cùng sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng, xu hướng tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ dần được điều chỉnh lại, sau đó đi ngang trước khi có điều kiện giảm dần./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,420 14,720
Kim TT/AVPL 14,420 14,720
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,420 14,720
Nguyên Liệu 99.99 13,050 13,250
Nguyên Liệu 99.9 13,000 13,200
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,200 147,200
Hà Nội - PNJ 144,200 147,200
Đà Nẵng - PNJ 144,200 147,200
Miền Tây - PNJ 144,200 147,200
Tây Nguyên - PNJ 144,200 147,200
Đông Nam Bộ - PNJ 144,200 147,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 14,720
Miếng SJC Nghệ An 14,420 14,720
Miếng SJC Thái Bình 14,420 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 14,722
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 14,723
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,421 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 144,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,668 99,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,475 88,975
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,543 85,043
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,371 60,871
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cập nhật: 21/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18774
CAD 18058 18333 18954
CHF 31959 32340 32980
CNY 0 3846 3940
EUR 29546 29767 30851
GBP 34019 34409 35350
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14795 15380
SGD 19816 20098 20708
THB 715 778 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80