Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
aa
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Sau 3 tháng “án binh”, nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

BIDV giữ ngôi đầu, nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng tăng tốc hút vốn

Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, riêng ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ, cho thấy tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 12.881.371,7 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,6% so với cuối quý IV/2025. Đây là mức tăng khá khiêm tốn trong bối cảnh quý đầu năm thường là giai đoạn dòng tiền rút mạnh khỏi ngân hàng để phục vụ chi tiêu, thanh toán cuối năm và dịp Tết.

Trong khi đó, nếu so với cuối quý III/2025 - thời điểm các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động trên toàn hệ thống - tổng tiền gửi khách hàng đã tăng khoảng 5%, cho thấy mặt bằng lãi suất cao hơn phần nào phát huy tác động trong việc hút dòng vốn quay trở lại ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

HDBank, ABBank, VPBank và MB là các ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống so với cuối quý III/2025. Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB đều nằm trong nhóm ngân hàng được kỳ vọng đẩy mạnh tín dụng, nhờ nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Điều này cũng khiến nhu cầu tăng trưởng huy động vốn trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn hoạt động.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống, BIDV tiếp tục dẫn đầu với tiền gửi khách hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026, giảm 3,7% so với cuối năm 2025, nhưng vẫn tăng 2,6% so với cuối quý III/2025.

VietinBank đứng thứ hai nhóm khảo sát, với quy mô tiền gửi khách hàng đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 2,7% so với cuối quý III/2025.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank xếp thứ ba với tiền gửi khách hàng đạt khoảng 1,68 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng 4,3% so với cuối quý III/2025.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB dẫn đầu và đứng thứ 4 toàn hệ thống, với quy mô huy động đạt khoảng 906 nghìn tỷ đồng. Dù giảm 1,7% so với cuối quý IV/2025 do yếu tố mùa vụ đầu năm, tiền gửi khách hàng của MB vẫn tăng mạnh 15% so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, VPBank và HDBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động nổi bật nhất hệ thống trong quý I/2026. Cụ thể, tiền gửi khách hàng tại VPBank đạt 682.719,4 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,5% so với cuối quý III/2025.

Trong khi đó, HDBank đạt 621.548,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với quý IV/2025 và tăng mạnh tới 27,4% so với cuối quý III/2025, cho thấy khả năng hút dòng tiền rất mạnh trong giai đoạn lãi suất huy động tăng cao. HDBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống.

Sau cuộc đua lãi suất, nhiều ngân hàng vẫn chật vật giữ dòng tiền

Dù nhiều ngân hàng bắt đầu tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025 để hút dòng tiền, tiền gửi khách hàng trong quý I/2026 vẫn ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều nhà băng, chủ yếu dòng tiền rút ra mạnh để phục vụ thanh toán lương thưởng, chi tiêu Tết, thanh toán công nợ và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong nhóm khảo sát, VietBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 96.521,5 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cuối quý IV/2025. TPBank giảm 4,3% xuống 267.038,2 tỷ đồng; Saigonbank giảm 3,7% còn 25.348,7 tỷ đồng; BIDV giảm 3,7% xuống hơn 2,1 triệu tỷ đồng...

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành nam châm hút vốn
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành “nam châm” hút vốn. Ảnh minh họa.

Bên cạnh đó, dù nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025, một số nhà băng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026, cho thấy áp lực cạnh tranh dòng tiền vẫn khá lớn.

Trong nhóm khảo sát, NamABank là ngân hàng giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 176.865,4 tỷ đồng, giảm 8,7% so với cuối quý III/2025. Sacombank cũng giảm 6,3%, xuống còn 600.789 tỷ đồng.

Một số ngân hàng khác ghi nhận huy động “đi lùi” như: VietBank giảm 4,3% xuống 96.521,5 tỷ đồng; Saigonbank giảm 2,3% còn 25.348,7 tỷ đồng; BacABank giảm 2,3% còn 127.458,1 tỷ đồng. Trong khi đó, ACB gần như đi ngang 569.109,6 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy việc tăng lãi suất huy động chưa thể ngay lập tức giúp tất cả ngân hàng cải thiện quy mô tiền gửi, trong bối cảnh dòng tiền của người dân và doanh nghiệp vẫn phân bổ sang các kênh đầu tư khác; đồng thời, cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt khi nhiều ngân hàng lớn cũng đồng loạt nâng mạnh lãi suất để hút vốn.

Nhìn lại mặt bằng lãi suất huy động niêm yết trong tháng 3/2026 cho thấy cuộc đua hút tiền gửi giữa các ngân hàng tư nhân lớn diễn ra khá quyết liệt. Ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng, VPBank nổi bật nhất, đặc biệt tại kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi lên tới 6,4%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank và MB “so kè” khi cùng niêm yết mức 6,5%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài 24 tháng, MB cho thấy lợi thế rõ rệt với mức lãi suất tới 7,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 6,2%/năm của VPBank, phản ánh chiến lược ưu tiên hút dòng tiền trung và dài hạn của ngân hàng này.

“VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 3 tháng đầu năm 10,2% trong khi tổng thị trường chỉ tăng khoảng 2,1% và huy động cũng đã tăng hơn 10%, đặc biệt, riêng ngân hàng mẹ mức tăng huy động tới 11,3%. Những các yếu tố này cho thấy VPBank đang ở trong “guồng quay” tăng trưởng rất cao” - lãnh đạo VPBank nhìn nhận.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, Tổng Giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng huy động rất mạnh, khoảng 35 - 36%, trong đó huy động được khoảng 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Sang năm 2026, ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng huy động thêm khoảng 40%, đồng thời dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng.

Theo ông Vinh, quy mô huy động dự kiến tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương quy mô của một ngân hàng cỡ trung bình, nên đây không phải nhiệm vụ dễ dàng với bất kỳ ngân hàng nào.

Năm 2026, MB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ và huy động vốn khoảng 35%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Lãnh đạo MB chia sẻ tại Hội nghị nhà đầu tư rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn huy động phù hợp với tốc độ mở rộng cho vay. Theo đó, chi phí vốn (COF) của MB năm 2026 dự kiến tăng khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm so với năm 2025.

Nói về làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian qua, lãnh đạo VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng cao nhất trong vòng 3 năm gần đây. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh chung của toàn ngành ngân hàng.

Theo lãnh đạo VPBank, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý I/2026 vừa qua khoảng 3 - 3,5%, huy động tăng thấp hơn; trong khi VPBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên áp lực huy động vốn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, với các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước cùng sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng, xu hướng tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ dần được điều chỉnh lại, sau đó đi ngang trước khi có điều kiện giảm dần./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - ABBank đang lấy ý kiến cổ đông về phương án tăng vốn điều lệ từ 16.067,8 tỷ đồng lên 26.833,3 tỷ đồng, tăng 67%. Đáng chú ý, ngân hàng đề xuất tăng gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu lên hơn 8.033 tỷ đồng với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, đồng thời bổ sung phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ 100:12.
PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 ▲180K 14,310 ▲180K
Trang sức 99.99 13,720 ▲180K 14,320 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 ▼1251K 14,402 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 ▼1251K 14,403 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 ▲18K 1,435 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 ▲18K 1,436 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▲18K 142 ▼1260K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▲1782K 140,594 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▲1350K 106,661 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼77004K 9,672 ▼85824K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▲1098K 86,779 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▲1049K 82,944 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼43862K 5,937 ▼52682K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Cập nhật: 08/08/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 08/08/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80