Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
aa
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Sau 3 tháng “án binh”, nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

BIDV giữ ngôi đầu, nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng tăng tốc hút vốn

Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, riêng ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ, cho thấy tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 12.881.371,7 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,6% so với cuối quý IV/2025. Đây là mức tăng khá khiêm tốn trong bối cảnh quý đầu năm thường là giai đoạn dòng tiền rút mạnh khỏi ngân hàng để phục vụ chi tiêu, thanh toán cuối năm và dịp Tết.

Trong khi đó, nếu so với cuối quý III/2025 - thời điểm các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động trên toàn hệ thống - tổng tiền gửi khách hàng đã tăng khoảng 5%, cho thấy mặt bằng lãi suất cao hơn phần nào phát huy tác động trong việc hút dòng vốn quay trở lại ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

HDBank, ABBank, VPBank và MB là các ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống so với cuối quý III/2025. Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB đều nằm trong nhóm ngân hàng được kỳ vọng đẩy mạnh tín dụng, nhờ nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Điều này cũng khiến nhu cầu tăng trưởng huy động vốn trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn hoạt động.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống, BIDV tiếp tục dẫn đầu với tiền gửi khách hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026, giảm 3,7% so với cuối năm 2025, nhưng vẫn tăng 2,6% so với cuối quý III/2025.

VietinBank đứng thứ hai nhóm khảo sát, với quy mô tiền gửi khách hàng đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 2,7% so với cuối quý III/2025.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank xếp thứ ba với tiền gửi khách hàng đạt khoảng 1,68 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng 4,3% so với cuối quý III/2025.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB dẫn đầu và đứng thứ 4 toàn hệ thống, với quy mô huy động đạt khoảng 906 nghìn tỷ đồng. Dù giảm 1,7% so với cuối quý IV/2025 do yếu tố mùa vụ đầu năm, tiền gửi khách hàng của MB vẫn tăng mạnh 15% so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, VPBank và HDBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động nổi bật nhất hệ thống trong quý I/2026. Cụ thể, tiền gửi khách hàng tại VPBank đạt 682.719,4 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,5% so với cuối quý III/2025.

Trong khi đó, HDBank đạt 621.548,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với quý IV/2025 và tăng mạnh tới 27,4% so với cuối quý III/2025, cho thấy khả năng hút dòng tiền rất mạnh trong giai đoạn lãi suất huy động tăng cao. HDBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống.

Sau cuộc đua lãi suất, nhiều ngân hàng vẫn chật vật giữ dòng tiền

Dù nhiều ngân hàng bắt đầu tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025 để hút dòng tiền, tiền gửi khách hàng trong quý I/2026 vẫn ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều nhà băng, chủ yếu dòng tiền rút ra mạnh để phục vụ thanh toán lương thưởng, chi tiêu Tết, thanh toán công nợ và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong nhóm khảo sát, VietBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 96.521,5 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cuối quý IV/2025. TPBank giảm 4,3% xuống 267.038,2 tỷ đồng; Saigonbank giảm 3,7% còn 25.348,7 tỷ đồng; BIDV giảm 3,7% xuống hơn 2,1 triệu tỷ đồng...

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành nam châm hút vốn
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành “nam châm” hút vốn. Ảnh minh họa.

Bên cạnh đó, dù nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025, một số nhà băng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026, cho thấy áp lực cạnh tranh dòng tiền vẫn khá lớn.

Trong nhóm khảo sát, NamABank là ngân hàng giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 176.865,4 tỷ đồng, giảm 8,7% so với cuối quý III/2025. Sacombank cũng giảm 6,3%, xuống còn 600.789 tỷ đồng.

Một số ngân hàng khác ghi nhận huy động “đi lùi” như: VietBank giảm 4,3% xuống 96.521,5 tỷ đồng; Saigonbank giảm 2,3% còn 25.348,7 tỷ đồng; BacABank giảm 2,3% còn 127.458,1 tỷ đồng. Trong khi đó, ACB gần như đi ngang 569.109,6 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy việc tăng lãi suất huy động chưa thể ngay lập tức giúp tất cả ngân hàng cải thiện quy mô tiền gửi, trong bối cảnh dòng tiền của người dân và doanh nghiệp vẫn phân bổ sang các kênh đầu tư khác; đồng thời, cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt khi nhiều ngân hàng lớn cũng đồng loạt nâng mạnh lãi suất để hút vốn.

Nhìn lại mặt bằng lãi suất huy động niêm yết trong tháng 3/2026 cho thấy cuộc đua hút tiền gửi giữa các ngân hàng tư nhân lớn diễn ra khá quyết liệt. Ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng, VPBank nổi bật nhất, đặc biệt tại kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi lên tới 6,4%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank và MB “so kè” khi cùng niêm yết mức 6,5%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài 24 tháng, MB cho thấy lợi thế rõ rệt với mức lãi suất tới 7,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 6,2%/năm của VPBank, phản ánh chiến lược ưu tiên hút dòng tiền trung và dài hạn của ngân hàng này.

“VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 3 tháng đầu năm 10,2% trong khi tổng thị trường chỉ tăng khoảng 2,1% và huy động cũng đã tăng hơn 10%, đặc biệt, riêng ngân hàng mẹ mức tăng huy động tới 11,3%. Những các yếu tố này cho thấy VPBank đang ở trong “guồng quay” tăng trưởng rất cao” - lãnh đạo VPBank nhìn nhận.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, Tổng Giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng huy động rất mạnh, khoảng 35 - 36%, trong đó huy động được khoảng 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Sang năm 2026, ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng huy động thêm khoảng 40%, đồng thời dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng.

Theo ông Vinh, quy mô huy động dự kiến tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương quy mô của một ngân hàng cỡ trung bình, nên đây không phải nhiệm vụ dễ dàng với bất kỳ ngân hàng nào.

Năm 2026, MB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ và huy động vốn khoảng 35%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Lãnh đạo MB chia sẻ tại Hội nghị nhà đầu tư rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn huy động phù hợp với tốc độ mở rộng cho vay. Theo đó, chi phí vốn (COF) của MB năm 2026 dự kiến tăng khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm so với năm 2025.

Nói về làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian qua, lãnh đạo VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng cao nhất trong vòng 3 năm gần đây. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh chung của toàn ngành ngân hàng.

Theo lãnh đạo VPBank, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý I/2026 vừa qua khoảng 3 - 3,5%, huy động tăng thấp hơn; trong khi VPBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên áp lực huy động vốn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, với các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước cùng sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng, xu hướng tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ dần được điều chỉnh lại, sau đó đi ngang trước khi có điều kiện giảm dần./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,250 15,450
Nguyên Liệu 99.9 15,200 15,400
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 07/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19428
CAD 18832 19110 19724
CHF 33142 33528 34174
CNY 0 3824 3915
EUR 30359 30633 31661
GBP 35056 35450 36384
HKD 0 3228 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15399 15987
SGD 20220 20503 21033
THB 733 796 849
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26368
AUD 18763 18863 19788
CAD 19018 19118 20129
CHF 33391 33421 35004
CNY 3804.4 3829.4 3964.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32301
GBP 35362 35412 37173
HKD 0 3355 0
JPY 165.3 165.8 176.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15512 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20386 20516 21239
THB 0 762.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80