Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
aa
Ngân hàng Nhà nước giao NAPAS thúc đẩy thanh toán số và kết nối QR song phương Hộ kinh doanh từ chối nhận thanh toán chuyển khoản “lợi ngắn - hại dài” Loạt bài: Thanh toán “tiền mặt” có đang quay trở lại?

Chiều ngày 5/5, Ngân hàng Nhà nước thông tin về một số kết quả trong thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số ngành ngân hàng.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước nêu rõ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông.

Ngân hàng Nhà nước đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và các quốc gia (Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc), đang triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR với một số quốc gia khác.

Cùng với đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành ngân hàng với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100%.

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%. Ảnh minh họa.
“Nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam có tỷ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. Đặc biệt, đến cuối năm 2025, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt gần 89%” - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh, trong năm 2025, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong thói quen thanh toán của người dân.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 37,98% về số lượng và 14,22% về giá trị; qua kênh Internet tăng 65,68% về số lượng và 28,85% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 33,22% về số lượng và 8,35% về giá trị; qua QR code tăng 16,43% về số lượng và 52,4% về giá trị.

Đến cuối tháng 3/2026, thị trường có 20.699 ATM, giảm 3,01%; 772.552 POS tăng 0,53% so với cùng kỳ năm 2025. Trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch qua ATM giảm 9,29% về số lượng cho thấy nhu cầu thanh toán, rút tiền mặt của người dân qua ATM tiếp tục xu hướng giảm và được thay thế bởi các phương thức, thói quen thanh toán không dùng tiền mặt.

Dịch vụ Tiền di động (Mobile - Money) đã đạt được kết quả khả quan, góp phần phát triển thanh toán không dùng tiền mặt , tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Đến ngày 31/3/2026, tổng số tài khoản Tiền di động được đăng ký và sử dụng là 11,45 triệu tài khoản; số lượng giao dịch qua tài khoản Tiền di động đạt 5,64 triệu giao dịch và giá trị giao dịch đạt 154,34 tỷ đồng.

Hoạt động thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, các ngân hàng thương mại, các tổ chức trung gian thanh toán tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng dịch vụ công Quốc gia để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia.

Thanh toán điện tử trong khu vực chính phủ, dịch vụ hành chính đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách nhà nước bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực.

Ngoài ra, trong chỉ đạo, định hướng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của ngành, tập trung vào 05 trụ cột gồm: phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 06. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, với 105 nhiệm vụ trọng tâm. Những chỉ đạo này đã tạo định hướng cho ngành ngân hàng trong việc nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

(TBTCO) - Cập nhật từ các Đại hội đồng cổ đông, S&I Ratings cho biết, các ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% năm 2026, thấp hơn mức 16% của năm trước, trong bối cảnh bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới. Đáng chú ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với huy động vốn, tốc độ huy động không theo kịp trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
Nguyên Liệu 99.99 15,090 ▼130K 15,290 ▼130K
Nguyên Liệu 99.9 15,040 ▼130K 15,240 ▼130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,890 ▼210K 16,290 ▼210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,840 ▼210K 16,240 ▼210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,770 ▼210K 16,220 ▼210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Hà Nội - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Đà Nẵng - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Miền Tây - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Tây Nguyên - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 14,800 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼150K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 05/05/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18303 18579 19160
CAD 18794 19072 19690
CHF 32936 33321 33966
CNY 0 3813 3905
EUR 30128 30402 31427
GBP 34833 35226 36160
HKD 0 3228 3431
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15160 15747
SGD 20069 20352 20868
THB 719 782 836
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26366
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,366
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 30,325 30,349 31,616
JPY 163.31 163.6 172.46
GBP 35,076 35,171 36,177
AUD 18,513 18,580 19,176
CAD 19,019 19,080 19,670
CHF 33,239 33,342 34,128
SGD 20,236 20,299 20,982
CNY - 3,791 3,913
HKD 3,301 3,311 3,430
KRW 16.48 17.19 18.61
THB 767.66 777.14 826.99
NZD 15,159 15,300 15,667
SEK - 2,791 2,873
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,799 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.79 - 6,985.69
TWD 753.74 - 907.84
SAR - 6,916.18 7,242.95
KWD - 83,834 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,146 26,366
EUR 30,208 30,329 31,510
GBP 34,986 35,127 36,137
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,985 33,117 34,055
JPY 163.57 164.23 171.69
AUD 18,499 18,573 19,168
SGD 20,264 20,345 20,927
THB 784 787 821
CAD 18,976 19,052 19,631
NZD 15,190 15,722
KRW 17.09 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26366
AUD 18487 18587 19514
CAD 18978 19078 20094
CHF 33187 33217 34800
CNY 3793.2 3818.2 3953.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30314 30344 32067
GBP 35144 35194 36954
HKD 0 3355 0
JPY 163.64 164.14 174.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15273 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20225 20355 21086
THB 0 748.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,366
USD20 26,160 26,210 26,366
USD1 26,160 26,210 26,366
AUD 18,550 18,650 19,758
EUR 30,469 30,469 31,880
CAD 18,925 19,025 20,336
SGD 20,317 20,467 21,031
JPY 164.43 165.93 170.51
GBP 35,009 35,359 36,226
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/05/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80