Thúc đẩy thương mại Việt Nam - Ấn Độ, dư địa còn rất lớn

Khánh Linh
(TBTCO) - Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ đang tăng tốc mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong hợp tác kinh tế khu vực châu Á. Với kim ngạch song phương năm 2025 đạt hơn 16,4 tỷ USD và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số trong những tháng đầu năm 2026, dư địa mở rộng thị trường vẫn còn rất lớn.
aa

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Nguyễn Anh Sơn đã làm rõ bức tranh toàn cảnh và đề xuất nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy thương mại Việt - Ấn phát triển bền vững, hiệu quả hơn trong thời gian tới.

PV: Ông đánh giá như thế nào về bức tranh thương mại Việt Nam - Ấn Độ thời gian gần đây?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ trong những năm gần đây ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định. Hai quốc gia đều là những nền kinh tế đang phát triển năng động tại châu Á, có cơ cấu kinh tế mang tính bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng hợp tác thương mại song phương.

Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 16,46 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 10,3 tỷ USD, còn nhập khẩu từ Ấn Độ đạt khoảng 6,1 tỷ USD.

Thúc đẩy thương mại Việt Nam - Ấn Độ, dư địa còn rất lớn
Ông Nguyễn Anh Sơn

Đáng chú ý, trong 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt gần 3 tỷ USD, tăng hơn 25%. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu cũng tăng mạnh trên 34%, cho thấy nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa hai nền kinh tế đang mở rộng rõ rệt.

PV: Những nhóm hàng nào đang đóng vai trò chủ lực trong thương mại song phương, thưa ông?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Cơ cấu hàng hóa giữa hai nước mang tính bổ sung rất rõ. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo như điện thoại, máy vi tính, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị.

Bên cạnh đó, một số mặt hàng ghi nhận tăng trưởng đột biến như giày dép, cà phê hay sắt thép. Ví dụ, trong quý I/2026, xuất khẩu giày dép tăng hơn 1.100%, cà phê tăng hơn 800%.

Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập nguyên liệu đầu vào từ Ấn Độ như kim loại, sắt thép, thức ăn chăn nuôi, linh kiện ô tô… Điều này giúp hỗ trợ sản xuất trong nước và duy trì chuỗi cung ứng.

PV: Theo ông, những yếu tố then chốt nào đang tạo đà bứt phá cho hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Có thể thấy 4 yếu tố thuận lợi nổi bật.

Thứ nhất, đà tăng trưởng thương mại rất tích cực, với mức tăng hai con số ở cả xuất khẩu và nhập khẩu, điều này cho thấy nhu cầu thị trường ổn định và xu hướng mở rộng thương mại rõ rệt.

Thứ hai, cơ cấu hàng hóa mang tính bổ sung lẫn nhau. Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm công nghệ cao và hàng chế biến (điện thoại, điện tử, máy móc), trong khi nhập khẩu từ Ấn Độ chủ yếu là nguyên liệu đầu vào như kim loại, sắt thép, nông sản. Điều này giúp duy trì chuỗi cung ứng ổn định và hạn chế cạnh tranh trực tiếp.

Thứ ba, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam ngày càng được cải thiện. Các mặt hàng có giá trị gia tăng cao như điện tử, máy móc đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị kim ngạch và vị thế của Việt Nam tại thị trường Ấn Độ.

Thứ tư, các hiệp định thương mại khu vực, nhất là Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ, đã tạo điều kiện thuận lợi nhờ cắt giảm thuế quan và mở rộng thị trường.

PV: Dù đạt nhiều kết quả tích cực, đâu là những “điểm nghẽn” và thách thức đang kìm hãm tăng trưởng thương mại song phương hiện nay, thưa ông?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Có một số thách thức đáng lưu ý.

Trước hết, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu (34,11% so với 25,14%) có thể gây áp lực lên cán cân thương mại trong dài hạn, đặc biệt khi nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước gia tăng mạnh.

Bên cạnh đó, chi phí logistics và khoảng cách địa lý vẫn là rào cản lớn. Việc vận chuyển hàng hóa giữa hai nước chủ yếu bằng đường biển với thời gian dài và chi phí cao, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Không những vậy, cơ cấu thương mại vẫn phụ thuộc nhiều vào một số nhóm hàng chủ lực. Xuất khẩu tập trung vào điện tử và máy móc trong khi nhập khẩu phụ thuộc vào nguyên liệu thô, dẫn đến rủi ro khi thị trường hoặc giá cả biến động.

Sự khác biệt về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định kiểm dịch và thủ tục hành chính giữa hai nước có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận thị trường.

Cạnh tranh tại thị trường Ấn Độ ngày càng gia tăng, không chỉ từ doanh nghiệp nội địa mà còn từ các quốc gia khác có lợi thế tương tự Việt Nam trong lĩnh vực nông sản và hàng tiêu dùng.

Thúc đẩy thương mại Việt Nam - Ấn Độ, dư địa còn rất lớn
Giày dép là một trong những mặt hàng có sự tăng trưởng cao khi xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ. Ảnh minh họa

PV: Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần triển khai những giải pháp gì để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ thương mại với Ấn Độ trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại như Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA).

Song song đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng số hóa, minh bạch để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Một yếu tố quan trọng khác là phát triển hạ tầng logistics và tăng cường kết nối vận tải giữa hai nước, qua đó giảm chi phí giao thương. Cùng với đó, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường Ấn Độ hiệu quả hơn.

Về lâu dài, phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước cũng là giải pháp then chốt để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu.

PV: Ông có khuyến nghị gì để doanh nghiệp Việt Nam tận dụng hiệu quả cơ hội và chinh phục tốt hơn thị trường Ấn Độ?

Ông Nguyễn Anh Sơn: Doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, bởi Ấn Độ là thị trường rất đa dạng về vùng miền, thu nhập và thị hiếu tiêu dùng.

Bên cạnh đó, cần tận dụng tốt ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại, đồng thời tuân thủ chặt chẽ các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch và nhãn mác.

Doanh nghiệp cũng nên đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng sang các mặt hàng tiêu dùng và nông sản chế biến, thay vì phụ thuộc vào một số mặt hàng truyền thống.

Ngoài ra, cần tối ưu chi phí logistics, xây dựng mạng lưới đối tác địa phương, chú trọng quản trị rủi ro và phát triển thương hiệu, đặc biệt là tận dụng các nền tảng thương mại điện tử.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhận lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ từ ngày 5 - 7/5/2026. Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được kỳ vọng tạo xung lực góp phần định hình khuôn khổ hợp tác song phương trong giai đoạn phát triển mới.
Khánh Linh

Đọc thêm

Vốn xanh không chỉ nhìn vào “màu xanh” của dự án

Vốn xanh không chỉ nhìn vào “màu xanh” của dự án

(TBTCO) - Dòng vốn xanh ngày càng gắn với các tiêu chuẩn ESG cụ thể, song để tiếp cận nguồn vốn, dự án vẫn phải bảo đảm tính khả thi, hiệu quả tài chính và khả năng hoàn vốn.
Hà Nội đặt mục tiêu khắc phục toàn bộ điểm ngập cục bộ vào mùa mưa 2027

Hà Nội đặt mục tiêu khắc phục toàn bộ điểm ngập cục bộ vào mùa mưa 2027

(TBTCO) - Sau khi 5 công trình chống ngập khẩn cấp đã hoàn thành và phát huy hiệu quả trong mùa mưa 2026, Hà Nội tiếp tục đẩy nhanh tiến độ các dự án còn lại, đặt mục tiêu đến mùa mưa năm 2027 khắc phục toàn bộ tình trạng ngập úng cục bộ trên địa bàn.
Việt Nam - New Zealand: Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giàu tiềm năng

Việt Nam - New Zealand: Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giàu tiềm năng

(TBTCO) - Nền tảng thương mại bổ trợ, cùng dư địa lớn về nông nghiệp xanh, giáo dục, khoa học công nghệ và chuyển đổi xanh đang mở ra cơ hội đưa hợp tác Việt Nam - New Zealand lên tầm cao mới.
Hà Nội đặt “đường găng” tiến độ 7 cầu qua sông Hồng

Hà Nội đặt “đường găng” tiến độ 7 cầu qua sông Hồng

(TBTCO) - Hà Nội đã bàn giao 100% mặt bằng theo chỉ giới cho 7 dự án cầu qua sông Hồng. Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng yêu cầu, sau khi có mặt bằng và hoàn tất di chuyển hạ tầng kỹ thuật, các chủ đầu tư phải tổ chức thi công ngay, không để dự án chậm trễ không có lý do chính đáng.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Công nghệ phải tạo ra giá trị gia tăng cụ thể cho nền kinh tế

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Công nghệ phải tạo ra giá trị gia tăng cụ thể cho nền kinh tế

(TBTCO) - Phát biểu tại Ngày hội Công nghệ TP. Hồ Chí Minh - Conviction 2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng yêu cầu công nghệ không chỉ dừng ở nghiên cứu hay thử nghiệm, mà phải giải quyết các bài toán thực tiễn, tạo ra sản phẩm và giá trị gia tăng cụ thể cho nền kinh tế.
Bức tranh thu hút FDI của Việt Nam đang trở nên đa sắc hơn

Bức tranh thu hút FDI của Việt Nam đang trở nên đa sắc hơn

(TBTCO) - Kết quả thu hút FDI 7 tháng năm 2026 cho thấy, Việt Nam tiếp tục hưởng lợi từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Dòng vốn bắt đầu có sự dịch chuyển, giúp bức tranh thu hút đầu tư trở nên đa sắc hơn, song cũng đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng và khả năng hiện thực hóa dòng vốn.
Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Singapore đầu tư tại Việt Nam

Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Singapore đầu tư tại Việt Nam

(TBTCO) - Tiếp Đại sứ Singapore tại Việt Nam Rajpal Singh chiều ngày 12/8, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định, Chính phủ Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Singapore đầu tư, hoạt động tại Việt Nam.
TP. Huế chọn nhà đầu tư xây dựng bến số 7 và số 8 cảng Chân Mây

TP. Huế chọn nhà đầu tư xây dựng bến số 7 và số 8 cảng Chân Mây

(TBTCO) - TP. Huế sẽ tổ chức đấu thầu rộng rãi và nghiên cứu lựa chọn một nhà đầu tư đủ năng lực thực hiện đồng bộ hai bến cảng số 7 và số 8 tại cảng Chân Mây, từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô thành cực tăng trưởng công nghiệp, logistics, dịch vụ và du lịch của TP. Huế và khu vực miền Trung
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều