Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Vietcombank giữ ngôi, VietinBank và VPBank bứt tốc mạnh

Tính đến ngày 5/5, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, ngoại trừ ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ. Bức tranh lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều gam màu tương phản rõ nét, với 19/27 ngân hàng vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó có nơi tăng bằng lần. Trong khi đó, có 8 ngân hàng đi ngược xu hướng, giảm sâu tới 70%, kéo theo biến động đáng kể về thứ hạng.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ “ngôi vương” với 11.802,7 tỷ đồng, tăng 8,7% và không thay đổi thứ hạng. Điểm nhấn đáng chú ý trong nhóm “big 4” là VietinBank bứt tốc mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ 2 với 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% và nhảy 3 bậc trên bảng xếp hạng. Đây cũng là hai ngân hàng hiếm hoi trong nhóm khảo sát đạt lợi nhuận trước thuế trên 11.000 tỷ đồng. Ngược lại, BIDV dù vẫn tăng trưởng 15,6%, đạt 8.571,6 tỷ đồng, lại lùi 2 bậc xuống vị trí thứ 5.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8%, xếp hạng ba, chỉ đứng sau hai ngân hàng quốc doanh là Vietcombank và VietinBank. Trong khi đó, Techcombank ghi nhận 8.870,0 tỷ đồng, tăng 22,6% và giữ vị trí thứ 4.

Nhóm bám đuổi phía sau gồm VPBank với 7.920,8 tỷ đồng, tăng mạnh 57,9% và nhích lên hạng 6; ACB đạt 5.368,1 tỷ đồng, tăng 16,8% và giữ nguyên hạng 8.

Trong nhóm ngân hàng lãi cao toàn ngành, VietinBank và VPBank nổi bật khi ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 63,3% và 57,9% so với cùng kỳ, đây là tốc độ hiếm thấy ở các ngân hàng quy mô lớn, thậm chí vượt xa nhiều nhà băng “hạt tiêu”.

Ở nửa dưới bảng xếp hạng, bức tranh kém sáng hơn khi nhiều ngân hàng suy giảm lợi nhuận và tụt hạng. SeABank gây chú ý khi lợi nhuận chỉ còn 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% và “rơi tự do” 7 bậc, đây là mức giảm sâu nhất toàn bảng.

Sacombank đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% và lùi 1 bậc; VietBank giảm 32,9% và mất 3 bậc; BacABank giảm 12,2% và lùi 2 bậc; Saigonbank giảm 10,2% và cũng mất 2 bậc.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng quy mô nhỏ lại tạo bất ngờ khi tăng trưởng bứt phá. ABBank dẫn đầu về tốc độ với mức tăng 260,9%, tiếp đến là PGBank (tăng187,3%), BVBank (bật tăng 168,8%), KienlongBank (tăng 46,3%), VietABank (tăng 44,1%) và NCB (tăng 42,9%), qua đó, cải thiện đáng kể vị trí trên bảng xếp hạng.

Nhiều yếu tố chi phối “bánh lái” lợi nhuận

Trong báo cáo điểm qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025.

Các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng kinh doanh, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, điều này cũng khiến nhiều nơi tăng mạnh trích lập dự phòng.

Đằng sau bức tranh lợi nhuận quý I/2026 là sự chi phối của nhiều yếu tố đan xen, từ tăng trưởng tín dụng, diễn biến thu nhập lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đến tổng thu nhập hoạt động và việc chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng..., qua đó, chi phối “bánh lái” lợi nhuận của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, nơi thắng lớn, chỗ hụt hơi
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”. Ảnh minh họa.

Trong nhóm ngân hàng nổi bật, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 11.802,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ cho vay đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (tăng 19,7% so với cùng kỳ và 4,9% so với cuối năm 2025), qua đó, kéo thu nhập lãi thuần lên 17.651,1 tỷ đồng (tăng 29%) và tổng thu nhập hoạt động đạt 21.179,8 tỷ đồng (tăng 22,7%). Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt 231,4% lên 2.493,1 tỷ đồng, Vietcombank vẫn vững vàng ngôi đầu bảng lợi nhuận.

Trước câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về khoảng cách lợi nhuận của Vietcombank đang dần thu hẹp so với các ngân hàng khác, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng sẽ có những giải pháp cải thiện NIM (biên lãi ròng), nhưng quan trọng nhất là có danh mục khách hàng an toàn và hiệu quả.

“Khách hàng tốt thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tốt” - lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ngân hàng đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, hiện các đơn vị đang nghiên cứu và trong quý II/2026 sẽ thống nhất về định hướng chiến lược phát triển trong 5 năm tới của Vietcombank.

VietinBank là điểm sáng tăng trưởng, khi lợi nhuận đạt 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay VietinBank cuối quý I/2026 lần đầu vượt hơn 2 triệu tỷ đồng (tăng 12,7% cùng kỳ và nhích tăng 1,8% so với đầu năm), với thu nhập lãi thuần 19.385,2 tỷ đồng (tăng 25,3%). Tổng thu nhập hoạt động VietinBank đạt 25.101,6 tỷ đồng (tăng 22,7%). Đáng chú ý, chi phí dự phòng giảm 5,1% xuống 7.700,9 tỷ đồng, song vẫn ở mức cao, phần nào trở thành yếu tố then chốt giúp lợi nhuận bứt phá.

Ở nhóm quy mô nhỏ, dù chưa công bố báo cáo hợp nhất, ABBank vẫn gây chú ý khi lợi nhuận riêng lẻ quý I/2026 đạt 1.500,3 tỷ đồng, tăng mạnh 260,9%. Động lực chủ yếu đến từ nguồn thu ngoài lãi, đặc biệt là mảng dịch vụ đạt 413 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ. Điểm đột biến nằm ở thu nhập từ hoạt động khác lên tới 1.354,6 tỷ đồng, gấp gần 8 lần năm trước. Dù chi phí dự phòng tăng gấp 2,5 lần lên 855,2 tỷ đồng, lợi nhuận vẫn tăng gấp 3,7 lần.

Để chạm tới mục tiêu lợi nhuận 4.500 tỷ đồng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 9%, với quy mô dư nợ “hạt tiêu” dự kiến 139 nghìn tỷ đồng, lãnh đạo ABBank nhiều lần nhấn mạnh yếu tố then chốt không nằm ở quy mô, mà ở sự linh hoạt, sáng tạo và đột phá trong điều hành.

Theo Tổng giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng, bất kỳ một tổ chức nào đều có “lương khô” hay “nguồn dự trữ” khác biệt. Với ABBank, “lương khô” không chỉ đến từ xử lý nợ xấu, mà còn từ những nguồn thu chủ động, từ lãi cho vay liên ngân hàng quy mô khoảng 40.000 tỷ đồng, phí thẻ tín dụng, cùng các sản phẩm về giáo dục, bảo hiểm hưu trí... bền bỉ nuôi tăng trưởng.

PGBank cũng là trường hợp tăng trưởng đột biến với lợi nhuận đạt 275,7 tỷ đồng (tăng 187,3%). Dư nợ cho vay PGBank đạt 44.382,6 tỷ đồng, nhưng giảm 4,2% so với cuối năm 2025, khiến thu nhập lãi thuần gần như đi ngang. Dù vậy, tổng thu nhập hoạt động vẫn tăng 20,5% từ nguồn thu ngoài lãi, trong khi chi phí dự phòng giảm mạnh 53,4% xuống 68,3 tỷ đồng. Việc cắt giảm dự phòng là yếu tố chính giúp lợi nhuận PGBank tăng vọt./.

8 nhà băng “đi lùi” lợi nhuận

Trong bức tranh tăng trưởng tích cực toàn ngành, có tới 8/27 nhà băng đi lùi lợi nhuận quý I/2026. Điển hình là SeABank với lợi nhuận trước thuế đạt 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% cùng kỳ và là mức giảm sâu nhất nhóm. Nguyên nhân đến từ nhiều lực kéo cùng lúc khi tín dụng tăng chậm, với dư nợ cuối quý I/2026 đạt 238.723,6 tỷ đồng, nhích tăng 0,7% so với đầu năm. Thu nhập lãi thuần SeABank giảm nhẹ 1,5% xuống 2.413,5 tỷ đồng; trong khi tổng thu nhập hoạt động lao dốc 49,9%.

Theo lý giải của lãnh đạo SeABank, chi phí trả lãi tăng do lãi suất huy động tăng, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Bên cạnh đó, Trong quý I/2025, SeABank ghi nhận việc chuyển nhượng Công ty Tài chính TNHH MTV Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service nên lợi nhuận cao hơn quý I/2026. Đồng thời, chi phí dự phòng tăng 36% lên 592,4 tỷ đồng, khiến lợi nhuận bị “bào mòn” mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80