Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Vietcombank giữ ngôi, VietinBank và VPBank bứt tốc mạnh

Tính đến ngày 5/5, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, ngoại trừ ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ. Bức tranh lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều gam màu tương phản rõ nét, với 19/27 ngân hàng vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó có nơi tăng bằng lần. Trong khi đó, có 8 ngân hàng đi ngược xu hướng, giảm sâu tới 70%, kéo theo biến động đáng kể về thứ hạng.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ “ngôi vương” với 11.802,7 tỷ đồng, tăng 8,7% và không thay đổi thứ hạng. Điểm nhấn đáng chú ý trong nhóm “big 4” là VietinBank bứt tốc mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ 2 với 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% và nhảy 3 bậc trên bảng xếp hạng. Đây cũng là hai ngân hàng hiếm hoi trong nhóm khảo sát đạt lợi nhuận trước thuế trên 11.000 tỷ đồng. Ngược lại, BIDV dù vẫn tăng trưởng 15,6%, đạt 8.571,6 tỷ đồng, lại lùi 2 bậc xuống vị trí thứ 5.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8%, xếp hạng ba, chỉ đứng sau hai ngân hàng quốc doanh là Vietcombank và VietinBank. Trong khi đó, Techcombank ghi nhận 8.870,0 tỷ đồng, tăng 22,6% và giữ vị trí thứ 4.

Nhóm bám đuổi phía sau gồm VPBank với 7.920,8 tỷ đồng, tăng mạnh 57,9% và nhích lên hạng 6; ACB đạt 5.368,1 tỷ đồng, tăng 16,8% và giữ nguyên hạng 8.

Trong nhóm ngân hàng lãi cao toàn ngành, VietinBank và VPBank nổi bật khi ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 63,3% và 57,9% so với cùng kỳ, đây là tốc độ hiếm thấy ở các ngân hàng quy mô lớn, thậm chí vượt xa nhiều nhà băng “hạt tiêu”.

Ở nửa dưới bảng xếp hạng, bức tranh kém sáng hơn khi nhiều ngân hàng suy giảm lợi nhuận và tụt hạng. SeABank gây chú ý khi lợi nhuận chỉ còn 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% và “rơi tự do” 7 bậc, đây là mức giảm sâu nhất toàn bảng.

Sacombank đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% và lùi 1 bậc; VietBank giảm 32,9% và mất 3 bậc; BacABank giảm 12,2% và lùi 2 bậc; Saigonbank giảm 10,2% và cũng mất 2 bậc.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng quy mô nhỏ lại tạo bất ngờ khi tăng trưởng bứt phá. ABBank dẫn đầu về tốc độ với mức tăng 260,9%, tiếp đến là PGBank (tăng187,3%), BVBank (bật tăng 168,8%), KienlongBank (tăng 46,3%), VietABank (tăng 44,1%) và NCB (tăng 42,9%), qua đó, cải thiện đáng kể vị trí trên bảng xếp hạng.

Nhiều yếu tố chi phối “bánh lái” lợi nhuận

Trong báo cáo điểm qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025.

Các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng kinh doanh, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, điều này cũng khiến nhiều nơi tăng mạnh trích lập dự phòng.

Đằng sau bức tranh lợi nhuận quý I/2026 là sự chi phối của nhiều yếu tố đan xen, từ tăng trưởng tín dụng, diễn biến thu nhập lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đến tổng thu nhập hoạt động và việc chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng..., qua đó, chi phối “bánh lái” lợi nhuận của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, nơi thắng lớn, chỗ hụt hơi
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”. Ảnh minh họa.

Trong nhóm ngân hàng nổi bật, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 11.802,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ cho vay đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (tăng 19,7% so với cùng kỳ và 4,9% so với cuối năm 2025), qua đó, kéo thu nhập lãi thuần lên 17.651,1 tỷ đồng (tăng 29%) và tổng thu nhập hoạt động đạt 21.179,8 tỷ đồng (tăng 22,7%). Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt 231,4% lên 2.493,1 tỷ đồng, Vietcombank vẫn vững vàng ngôi đầu bảng lợi nhuận.

Trước câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về khoảng cách lợi nhuận của Vietcombank đang dần thu hẹp so với các ngân hàng khác, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng sẽ có những giải pháp cải thiện NIM (biên lãi ròng), nhưng quan trọng nhất là có danh mục khách hàng an toàn và hiệu quả.

“Khách hàng tốt thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tốt” - lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ngân hàng đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, hiện các đơn vị đang nghiên cứu và trong quý II/2026 sẽ thống nhất về định hướng chiến lược phát triển trong 5 năm tới của Vietcombank.

VietinBank là điểm sáng tăng trưởng, khi lợi nhuận đạt 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay VietinBank cuối quý I/2026 lần đầu vượt hơn 2 triệu tỷ đồng (tăng 12,7% cùng kỳ và nhích tăng 1,8% so với đầu năm), với thu nhập lãi thuần 19.385,2 tỷ đồng (tăng 25,3%). Tổng thu nhập hoạt động VietinBank đạt 25.101,6 tỷ đồng (tăng 22,7%). Đáng chú ý, chi phí dự phòng giảm 5,1% xuống 7.700,9 tỷ đồng, song vẫn ở mức cao, phần nào trở thành yếu tố then chốt giúp lợi nhuận bứt phá.

Ở nhóm quy mô nhỏ, dù chưa công bố báo cáo hợp nhất, ABBank vẫn gây chú ý khi lợi nhuận riêng lẻ quý I/2026 đạt 1.500,3 tỷ đồng, tăng mạnh 260,9%. Động lực chủ yếu đến từ nguồn thu ngoài lãi, đặc biệt là mảng dịch vụ đạt 413 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ. Điểm đột biến nằm ở thu nhập từ hoạt động khác lên tới 1.354,6 tỷ đồng, gấp gần 8 lần năm trước. Dù chi phí dự phòng tăng gấp 2,5 lần lên 855,2 tỷ đồng, lợi nhuận vẫn tăng gấp 3,7 lần.

Để chạm tới mục tiêu lợi nhuận 4.500 tỷ đồng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 9%, với quy mô dư nợ “hạt tiêu” dự kiến 139 nghìn tỷ đồng, lãnh đạo ABBank nhiều lần nhấn mạnh yếu tố then chốt không nằm ở quy mô, mà ở sự linh hoạt, sáng tạo và đột phá trong điều hành.

Theo Tổng giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng, bất kỳ một tổ chức nào đều có “lương khô” hay “nguồn dự trữ” khác biệt. Với ABBank, “lương khô” không chỉ đến từ xử lý nợ xấu, mà còn từ những nguồn thu chủ động, từ lãi cho vay liên ngân hàng quy mô khoảng 40.000 tỷ đồng, phí thẻ tín dụng, cùng các sản phẩm về giáo dục, bảo hiểm hưu trí... bền bỉ nuôi tăng trưởng.

PGBank cũng là trường hợp tăng trưởng đột biến với lợi nhuận đạt 275,7 tỷ đồng (tăng 187,3%). Dư nợ cho vay PGBank đạt 44.382,6 tỷ đồng, nhưng giảm 4,2% so với cuối năm 2025, khiến thu nhập lãi thuần gần như đi ngang. Dù vậy, tổng thu nhập hoạt động vẫn tăng 20,5% từ nguồn thu ngoài lãi, trong khi chi phí dự phòng giảm mạnh 53,4% xuống 68,3 tỷ đồng. Việc cắt giảm dự phòng là yếu tố chính giúp lợi nhuận PGBank tăng vọt./.

8 nhà băng “đi lùi” lợi nhuận

Trong bức tranh tăng trưởng tích cực toàn ngành, có tới 8/27 nhà băng đi lùi lợi nhuận quý I/2026. Điển hình là SeABank với lợi nhuận trước thuế đạt 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% cùng kỳ và là mức giảm sâu nhất nhóm. Nguyên nhân đến từ nhiều lực kéo cùng lúc khi tín dụng tăng chậm, với dư nợ cuối quý I/2026 đạt 238.723,6 tỷ đồng, nhích tăng 0,7% so với đầu năm. Thu nhập lãi thuần SeABank giảm nhẹ 1,5% xuống 2.413,5 tỷ đồng; trong khi tổng thu nhập hoạt động lao dốc 49,9%.

Theo lý giải của lãnh đạo SeABank, chi phí trả lãi tăng do lãi suất huy động tăng, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Bên cạnh đó, Trong quý I/2025, SeABank ghi nhận việc chuyển nhượng Công ty Tài chính TNHH MTV Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service nên lợi nhuận cao hơn quý I/2026. Đồng thời, chi phí dự phòng tăng 36% lên 592,4 tỷ đồng, khiến lợi nhuận bị “bào mòn” mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80