Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Vietcombank giữ ngôi, VietinBank và VPBank bứt tốc mạnh

Tính đến ngày 5/5, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, ngoại trừ ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ. Bức tranh lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều gam màu tương phản rõ nét, với 19/27 ngân hàng vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó có nơi tăng bằng lần. Trong khi đó, có 8 ngân hàng đi ngược xu hướng, giảm sâu tới 70%, kéo theo biến động đáng kể về thứ hạng.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ “ngôi vương” với 11.802,7 tỷ đồng, tăng 8,7% và không thay đổi thứ hạng. Điểm nhấn đáng chú ý trong nhóm “big 4” là VietinBank bứt tốc mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ 2 với 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% và nhảy 3 bậc trên bảng xếp hạng. Đây cũng là hai ngân hàng hiếm hoi trong nhóm khảo sát đạt lợi nhuận trước thuế trên 11.000 tỷ đồng. Ngược lại, BIDV dù vẫn tăng trưởng 15,6%, đạt 8.571,6 tỷ đồng, lại lùi 2 bậc xuống vị trí thứ 5.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8%, xếp hạng ba, chỉ đứng sau hai ngân hàng quốc doanh là Vietcombank và VietinBank. Trong khi đó, Techcombank ghi nhận 8.870,0 tỷ đồng, tăng 22,6% và giữ vị trí thứ 4.

Nhóm bám đuổi phía sau gồm VPBank với 7.920,8 tỷ đồng, tăng mạnh 57,9% và nhích lên hạng 6; ACB đạt 5.368,1 tỷ đồng, tăng 16,8% và giữ nguyên hạng 8.

Trong nhóm ngân hàng lãi cao toàn ngành, VietinBank và VPBank nổi bật khi ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 63,3% và 57,9% so với cùng kỳ, đây là tốc độ hiếm thấy ở các ngân hàng quy mô lớn, thậm chí vượt xa nhiều nhà băng “hạt tiêu”.

Ở nửa dưới bảng xếp hạng, bức tranh kém sáng hơn khi nhiều ngân hàng suy giảm lợi nhuận và tụt hạng. SeABank gây chú ý khi lợi nhuận chỉ còn 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% và “rơi tự do” 7 bậc, đây là mức giảm sâu nhất toàn bảng.

Sacombank đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% và lùi 1 bậc; VietBank giảm 32,9% và mất 3 bậc; BacABank giảm 12,2% và lùi 2 bậc; Saigonbank giảm 10,2% và cũng mất 2 bậc.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng quy mô nhỏ lại tạo bất ngờ khi tăng trưởng bứt phá. ABBank dẫn đầu về tốc độ với mức tăng 260,9%, tiếp đến là PGBank (tăng187,3%), BVBank (bật tăng 168,8%), KienlongBank (tăng 46,3%), VietABank (tăng 44,1%) và NCB (tăng 42,9%), qua đó, cải thiện đáng kể vị trí trên bảng xếp hạng.

Nhiều yếu tố chi phối “bánh lái” lợi nhuận

Trong báo cáo điểm qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025.

Các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng kinh doanh, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, điều này cũng khiến nhiều nơi tăng mạnh trích lập dự phòng.

Đằng sau bức tranh lợi nhuận quý I/2026 là sự chi phối của nhiều yếu tố đan xen, từ tăng trưởng tín dụng, diễn biến thu nhập lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đến tổng thu nhập hoạt động và việc chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng..., qua đó, chi phối “bánh lái” lợi nhuận của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, nơi thắng lớn, chỗ hụt hơi
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”. Ảnh minh họa.

Trong nhóm ngân hàng nổi bật, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 11.802,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ cho vay đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (tăng 19,7% so với cùng kỳ và 4,9% so với cuối năm 2025), qua đó, kéo thu nhập lãi thuần lên 17.651,1 tỷ đồng (tăng 29%) và tổng thu nhập hoạt động đạt 21.179,8 tỷ đồng (tăng 22,7%). Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt 231,4% lên 2.493,1 tỷ đồng, Vietcombank vẫn vững vàng ngôi đầu bảng lợi nhuận.

Trước câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về khoảng cách lợi nhuận của Vietcombank đang dần thu hẹp so với các ngân hàng khác, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng sẽ có những giải pháp cải thiện NIM (biên lãi ròng), nhưng quan trọng nhất là có danh mục khách hàng an toàn và hiệu quả.

“Khách hàng tốt thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tốt” - lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ngân hàng đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, hiện các đơn vị đang nghiên cứu và trong quý II/2026 sẽ thống nhất về định hướng chiến lược phát triển trong 5 năm tới của Vietcombank.

VietinBank là điểm sáng tăng trưởng, khi lợi nhuận đạt 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay VietinBank cuối quý I/2026 lần đầu vượt hơn 2 triệu tỷ đồng (tăng 12,7% cùng kỳ và nhích tăng 1,8% so với đầu năm), với thu nhập lãi thuần 19.385,2 tỷ đồng (tăng 25,3%). Tổng thu nhập hoạt động VietinBank đạt 25.101,6 tỷ đồng (tăng 22,7%). Đáng chú ý, chi phí dự phòng giảm 5,1% xuống 7.700,9 tỷ đồng, song vẫn ở mức cao, phần nào trở thành yếu tố then chốt giúp lợi nhuận bứt phá.

Ở nhóm quy mô nhỏ, dù chưa công bố báo cáo hợp nhất, ABBank vẫn gây chú ý khi lợi nhuận riêng lẻ quý I/2026 đạt 1.500,3 tỷ đồng, tăng mạnh 260,9%. Động lực chủ yếu đến từ nguồn thu ngoài lãi, đặc biệt là mảng dịch vụ đạt 413 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ. Điểm đột biến nằm ở thu nhập từ hoạt động khác lên tới 1.354,6 tỷ đồng, gấp gần 8 lần năm trước. Dù chi phí dự phòng tăng gấp 2,5 lần lên 855,2 tỷ đồng, lợi nhuận vẫn tăng gấp 3,7 lần.

Để chạm tới mục tiêu lợi nhuận 4.500 tỷ đồng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 9%, với quy mô dư nợ “hạt tiêu” dự kiến 139 nghìn tỷ đồng, lãnh đạo ABBank nhiều lần nhấn mạnh yếu tố then chốt không nằm ở quy mô, mà ở sự linh hoạt, sáng tạo và đột phá trong điều hành.

Theo Tổng giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng, bất kỳ một tổ chức nào đều có “lương khô” hay “nguồn dự trữ” khác biệt. Với ABBank, “lương khô” không chỉ đến từ xử lý nợ xấu, mà còn từ những nguồn thu chủ động, từ lãi cho vay liên ngân hàng quy mô khoảng 40.000 tỷ đồng, phí thẻ tín dụng, cùng các sản phẩm về giáo dục, bảo hiểm hưu trí... bền bỉ nuôi tăng trưởng.

PGBank cũng là trường hợp tăng trưởng đột biến với lợi nhuận đạt 275,7 tỷ đồng (tăng 187,3%). Dư nợ cho vay PGBank đạt 44.382,6 tỷ đồng, nhưng giảm 4,2% so với cuối năm 2025, khiến thu nhập lãi thuần gần như đi ngang. Dù vậy, tổng thu nhập hoạt động vẫn tăng 20,5% từ nguồn thu ngoài lãi, trong khi chi phí dự phòng giảm mạnh 53,4% xuống 68,3 tỷ đồng. Việc cắt giảm dự phòng là yếu tố chính giúp lợi nhuận PGBank tăng vọt./.

8 nhà băng “đi lùi” lợi nhuận

Trong bức tranh tăng trưởng tích cực toàn ngành, có tới 8/27 nhà băng đi lùi lợi nhuận quý I/2026. Điển hình là SeABank với lợi nhuận trước thuế đạt 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% cùng kỳ và là mức giảm sâu nhất nhóm. Nguyên nhân đến từ nhiều lực kéo cùng lúc khi tín dụng tăng chậm, với dư nợ cuối quý I/2026 đạt 238.723,6 tỷ đồng, nhích tăng 0,7% so với đầu năm. Thu nhập lãi thuần SeABank giảm nhẹ 1,5% xuống 2.413,5 tỷ đồng; trong khi tổng thu nhập hoạt động lao dốc 49,9%.

Theo lý giải của lãnh đạo SeABank, chi phí trả lãi tăng do lãi suất huy động tăng, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Bên cạnh đó, Trong quý I/2025, SeABank ghi nhận việc chuyển nhượng Công ty Tài chính TNHH MTV Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service nên lợi nhuận cao hơn quý I/2026. Đồng thời, chi phí dự phòng tăng 36% lên 592,4 tỷ đồng, khiến lợi nhuận bị “bào mòn” mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80