Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Vietcombank giữ ngôi, VietinBank và VPBank bứt tốc mạnh

Tính đến ngày 5/5, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, ngoại trừ ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ. Bức tranh lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều gam màu tương phản rõ nét, với 19/27 ngân hàng vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó có nơi tăng bằng lần. Trong khi đó, có 8 ngân hàng đi ngược xu hướng, giảm sâu tới 70%, kéo theo biến động đáng kể về thứ hạng.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ “ngôi vương” với 11.802,7 tỷ đồng, tăng 8,7% và không thay đổi thứ hạng. Điểm nhấn đáng chú ý trong nhóm “big 4” là VietinBank bứt tốc mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ 2 với 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% và nhảy 3 bậc trên bảng xếp hạng. Đây cũng là hai ngân hàng hiếm hoi trong nhóm khảo sát đạt lợi nhuận trước thuế trên 11.000 tỷ đồng. Ngược lại, BIDV dù vẫn tăng trưởng 15,6%, đạt 8.571,6 tỷ đồng, lại lùi 2 bậc xuống vị trí thứ 5.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8%, xếp hạng ba, chỉ đứng sau hai ngân hàng quốc doanh là Vietcombank và VietinBank. Trong khi đó, Techcombank ghi nhận 8.870,0 tỷ đồng, tăng 22,6% và giữ vị trí thứ 4.

Nhóm bám đuổi phía sau gồm VPBank với 7.920,8 tỷ đồng, tăng mạnh 57,9% và nhích lên hạng 6; ACB đạt 5.368,1 tỷ đồng, tăng 16,8% và giữ nguyên hạng 8.

Trong nhóm ngân hàng lãi cao toàn ngành, VietinBank và VPBank nổi bật khi ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 63,3% và 57,9% so với cùng kỳ, đây là tốc độ hiếm thấy ở các ngân hàng quy mô lớn, thậm chí vượt xa nhiều nhà băng “hạt tiêu”.

Ở nửa dưới bảng xếp hạng, bức tranh kém sáng hơn khi nhiều ngân hàng suy giảm lợi nhuận và tụt hạng. SeABank gây chú ý khi lợi nhuận chỉ còn 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% và “rơi tự do” 7 bậc, đây là mức giảm sâu nhất toàn bảng.

Sacombank đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% và lùi 1 bậc; VietBank giảm 32,9% và mất 3 bậc; BacABank giảm 12,2% và lùi 2 bậc; Saigonbank giảm 10,2% và cũng mất 2 bậc.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng quy mô nhỏ lại tạo bất ngờ khi tăng trưởng bứt phá. ABBank dẫn đầu về tốc độ với mức tăng 260,9%, tiếp đến là PGBank (tăng187,3%), BVBank (bật tăng 168,8%), KienlongBank (tăng 46,3%), VietABank (tăng 44,1%) và NCB (tăng 42,9%), qua đó, cải thiện đáng kể vị trí trên bảng xếp hạng.

Nhiều yếu tố chi phối “bánh lái” lợi nhuận

Trong báo cáo điểm qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025.

Các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng kinh doanh, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, điều này cũng khiến nhiều nơi tăng mạnh trích lập dự phòng.

Đằng sau bức tranh lợi nhuận quý I/2026 là sự chi phối của nhiều yếu tố đan xen, từ tăng trưởng tín dụng, diễn biến thu nhập lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đến tổng thu nhập hoạt động và việc chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng..., qua đó, chi phối “bánh lái” lợi nhuận của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, nơi thắng lớn, chỗ hụt hơi
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”. Ảnh minh họa.

Trong nhóm ngân hàng nổi bật, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 11.802,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ cho vay đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (tăng 19,7% so với cùng kỳ và 4,9% so với cuối năm 2025), qua đó, kéo thu nhập lãi thuần lên 17.651,1 tỷ đồng (tăng 29%) và tổng thu nhập hoạt động đạt 21.179,8 tỷ đồng (tăng 22,7%). Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt 231,4% lên 2.493,1 tỷ đồng, Vietcombank vẫn vững vàng ngôi đầu bảng lợi nhuận.

Trước câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về khoảng cách lợi nhuận của Vietcombank đang dần thu hẹp so với các ngân hàng khác, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng sẽ có những giải pháp cải thiện NIM (biên lãi ròng), nhưng quan trọng nhất là có danh mục khách hàng an toàn và hiệu quả.

“Khách hàng tốt thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tốt” - lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ngân hàng đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, hiện các đơn vị đang nghiên cứu và trong quý II/2026 sẽ thống nhất về định hướng chiến lược phát triển trong 5 năm tới của Vietcombank.

VietinBank là điểm sáng tăng trưởng, khi lợi nhuận đạt 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay VietinBank cuối quý I/2026 lần đầu vượt hơn 2 triệu tỷ đồng (tăng 12,7% cùng kỳ và nhích tăng 1,8% so với đầu năm), với thu nhập lãi thuần 19.385,2 tỷ đồng (tăng 25,3%). Tổng thu nhập hoạt động VietinBank đạt 25.101,6 tỷ đồng (tăng 22,7%). Đáng chú ý, chi phí dự phòng giảm 5,1% xuống 7.700,9 tỷ đồng, song vẫn ở mức cao, phần nào trở thành yếu tố then chốt giúp lợi nhuận bứt phá.

Ở nhóm quy mô nhỏ, dù chưa công bố báo cáo hợp nhất, ABBank vẫn gây chú ý khi lợi nhuận riêng lẻ quý I/2026 đạt 1.500,3 tỷ đồng, tăng mạnh 260,9%. Động lực chủ yếu đến từ nguồn thu ngoài lãi, đặc biệt là mảng dịch vụ đạt 413 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ. Điểm đột biến nằm ở thu nhập từ hoạt động khác lên tới 1.354,6 tỷ đồng, gấp gần 8 lần năm trước. Dù chi phí dự phòng tăng gấp 2,5 lần lên 855,2 tỷ đồng, lợi nhuận vẫn tăng gấp 3,7 lần.

Để chạm tới mục tiêu lợi nhuận 4.500 tỷ đồng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 9%, với quy mô dư nợ “hạt tiêu” dự kiến 139 nghìn tỷ đồng, lãnh đạo ABBank nhiều lần nhấn mạnh yếu tố then chốt không nằm ở quy mô, mà ở sự linh hoạt, sáng tạo và đột phá trong điều hành.

Theo Tổng giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng, bất kỳ một tổ chức nào đều có “lương khô” hay “nguồn dự trữ” khác biệt. Với ABBank, “lương khô” không chỉ đến từ xử lý nợ xấu, mà còn từ những nguồn thu chủ động, từ lãi cho vay liên ngân hàng quy mô khoảng 40.000 tỷ đồng, phí thẻ tín dụng, cùng các sản phẩm về giáo dục, bảo hiểm hưu trí... bền bỉ nuôi tăng trưởng.

PGBank cũng là trường hợp tăng trưởng đột biến với lợi nhuận đạt 275,7 tỷ đồng (tăng 187,3%). Dư nợ cho vay PGBank đạt 44.382,6 tỷ đồng, nhưng giảm 4,2% so với cuối năm 2025, khiến thu nhập lãi thuần gần như đi ngang. Dù vậy, tổng thu nhập hoạt động vẫn tăng 20,5% từ nguồn thu ngoài lãi, trong khi chi phí dự phòng giảm mạnh 53,4% xuống 68,3 tỷ đồng. Việc cắt giảm dự phòng là yếu tố chính giúp lợi nhuận PGBank tăng vọt./.

8 nhà băng “đi lùi” lợi nhuận

Trong bức tranh tăng trưởng tích cực toàn ngành, có tới 8/27 nhà băng đi lùi lợi nhuận quý I/2026. Điển hình là SeABank với lợi nhuận trước thuế đạt 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% cùng kỳ và là mức giảm sâu nhất nhóm. Nguyên nhân đến từ nhiều lực kéo cùng lúc khi tín dụng tăng chậm, với dư nợ cuối quý I/2026 đạt 238.723,6 tỷ đồng, nhích tăng 0,7% so với đầu năm. Thu nhập lãi thuần SeABank giảm nhẹ 1,5% xuống 2.413,5 tỷ đồng; trong khi tổng thu nhập hoạt động lao dốc 49,9%.

Theo lý giải của lãnh đạo SeABank, chi phí trả lãi tăng do lãi suất huy động tăng, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Bên cạnh đó, Trong quý I/2025, SeABank ghi nhận việc chuyển nhượng Công ty Tài chính TNHH MTV Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service nên lợi nhuận cao hơn quý I/2026. Đồng thời, chi phí dự phòng tăng 36% lên 592,4 tỷ đồng, khiến lợi nhuận bị “bào mòn” mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

(TBTCO) - Cập nhật từ các Đại hội đồng cổ đông, S&I Ratings cho biết, các ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% năm 2026, thấp hơn mức 16% của năm trước, trong bối cảnh bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới. Đáng chú ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với huy động vốn, tốc độ huy động không theo kịp trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼130K 16,500 ▼130K
Nguyên Liệu 99.99 15,090 ▼130K 15,290 ▼130K
Nguyên Liệu 99.9 15,040 ▼130K 15,240 ▼130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,890 ▼210K 16,290 ▼210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,840 ▼210K 16,240 ▼210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,770 ▼210K 16,220 ▼210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Hà Nội - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Đà Nẵng - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Miền Tây - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Tây Nguyên - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,700 ▼1800K 164,700 ▼1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼80K 16,500 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 14,800 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼150K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 05/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18302 18577 19161
CAD 18794 19072 19690
CHF 32938 33323 33968
CNY 0 3813 3905
EUR 30126 30399 31427
GBP 34838 35231 36166
HKD 0 3228 3430
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15161 15749
SGD 20069 20352 20880
THB 719 782 836
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26143 26366
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,366
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 30,325 30,349 31,616
JPY 163.31 163.6 172.46
GBP 35,076 35,171 36,177
AUD 18,513 18,580 19,176
CAD 19,019 19,080 19,670
CHF 33,239 33,342 34,128
SGD 20,236 20,299 20,982
CNY - 3,791 3,913
HKD 3,301 3,311 3,430
KRW 16.48 17.19 18.61
THB 767.66 777.14 826.99
NZD 15,159 15,300 15,667
SEK - 2,791 2,873
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,799 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.79 - 6,985.69
TWD 753.74 - 907.84
SAR - 6,916.18 7,242.95
KWD - 83,834 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,146 26,366
EUR 30,208 30,329 31,510
GBP 34,986 35,127 36,137
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,985 33,117 34,055
JPY 163.57 164.23 171.69
AUD 18,499 18,573 19,168
SGD 20,264 20,345 20,927
THB 784 787 821
CAD 18,976 19,052 19,631
NZD 15,190 15,722
KRW 17.09 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26366
AUD 18451 18551 19477
CAD 18973 19073 20084
CHF 33152 33182 34765
CNY 3794 3819 3954.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30298 30328 32055
GBP 35089 35139 36902
HKD 0 3355 0
JPY 163.87 164.37 174.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20220 20350 21083
THB 0 747.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,366
USD20 26,160 26,210 26,366
USD1 26,160 26,210 26,366
AUD 18,550 18,650 19,758
EUR 30,469 30,469 31,880
CAD 18,925 19,025 20,336
SGD 20,317 20,467 21,031
JPY 164.43 165.93 170.51
GBP 35,009 35,359 36,226
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80