Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
aa

Tín dụng tăng nhưng kèm “âu lo”

Dòng tiền được cung ứng ra nền kinh tế với tốc độ hiếm thấy, tạo nên bức tranh tăng trưởng tín dụng ấn tượng. Tuy nhiên, sau giai đoạn tăng nhanh và đạt đỉnh vào năm 2025, tăng trưởng tín dụng năm 2026 đã được “hãm phanh”, ngành ngân hàng chuyển sang chiến lược mở rộng có chọn lọc hơn. Dù vậy, đằng sau các con số tích cực vẫn là những áp lực đang dần tích tụ trong hệ thống ngân hàng.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt trên 19%, đây là mức tăng trưởng tín dụng rất cao trong vòng khoảng 15 năm trở lại đây. Kết quả là tỷ lệ tín dụng/GDP lên mức 146% GDP, thuộc nhóm cao trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp tương đương Việt Nam.

Tín dụng
Nguồn: FiinGroup

Điều này đem lại tác động hai chiều. Một mặt, tăng trưởng tín dụng nhanh giúp cung ứng nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Mặt khác, có thể ảnh hưởng tới an toàn hệ thống tài chính - tiền tệ, nếu không kiểm soát tốt chất lượng tín dụng.

Theo TS. Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Ngân hàng Nhà nước, hiện kênh tín dụng vẫn là trục chính đóng vai trò truyền dẫn chính sách tiền tệ.

Cần lộ trình giảm tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn

Cần có lộ trình giảm dần tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại từ 47% hiện nay về mức 40% trong 5 năm tới để giảm áp lực căn bệnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

TS. Phạm Xuân Hòe

Điểm khác biệt lớn nhất so với nhiều nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN hay các nền kinh tế thị trường khác, đó là chính sách tiền tệ của Việt Nam kết hợp giữa thị trường và những công cụ có tính chất hành chính. Theo đó, hiện vẫn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, cùng các loại lãi suất trần như: trần lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng và trần lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên.

Trong một báo cáo về ngành ngân hàng, Công ty cổ phần FiinGroup dự báo, nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 16%/năm để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 8 - 10%/năm, thì sẽ làm gia tăng tỷ lệ tín dụng/GDP.

Mức độ đòn bẩy này sẽ vượt ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Hệ số an toàn vốn (CAR) của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam khá “mỏng” và sát ngưỡng tối thiểu đang trở thành rào cản cho tăng trưởng tín dụng, nếu các ngân hàng không kịp thời bổ sung vốn tự có.

“Cột trụ” ngân hàng chịu nhiều áp lực

Bước sang pha tăng trưởng mới với mục tiêu GDP trên 10% giai đoạn tới, Việt Nam cần một nền tảng vốn có quy mô lớn hơn và chất lượng cao hơn hẳn giai đoạn trước.

Theo FiinGroup, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tiệm cận 40% GDP giai đoạn 2026 - 2030. Đối chiếu với các nguồn vốn hiện hữu, sự thiếu hụt nguồn vốn trung dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20 - 30 tỷ USD/năm. Sự thiếu hụt này không chỉ nằm ở con số tuyệt đối, mà còn nằm ở sự lệch pha về cấu trúc.

Tại hệ thống ngân hàng, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức 42 - 47%, ngân hàng vẫn là nhà cung cấp vốn dài hạn cho nền kinh tế; trong khi hơn 90% tiền gửi trong hệ thống ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn. Dòng vốn ngắn hạn đang phải “gánh” vai trò dài hạn khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn toàn hệ thống đạt 28,32%, theo đánh giá của FiinGroup. Con số này tiệm cận trần 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, khiến dư địa mở rộng tín dụng dài hạn ngày càng bị bó hẹp.

Khi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh đòn bẩy doanh nghiệp cao, hệ thống ngân hàng đang dần “căng dây”, khiến những rủi ro về thanh khoản, lệch pha kỳ hạn và ổn định hệ thống âm thầm tích tụ.

Cơ cấu tín dụng theo ngành hiện có sự lệch đáng kể so với cơ cấu đóng góp vào GDP. Theo thống kê của FiinGroup, tín dụng tập trung cao vào lĩnh vực bất động sản, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, trong khi lĩnh vực này chỉ đóng góp khoảng 3% GDP. Ngược lại, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo đóng góp khoảng 24% GDP, nhưng chỉ chiếm khoảng 12% dư nợ tín dụng.

Thực tế này cho thấy, không chỉ quy mô tín dụng, mà cả cấu trúc phân bổ tín dụng theo ngành và theo các động lực tăng trưởng cũng cần được theo dõi chặt chẽ.

Khi kênh tín dụng là trục chính của nền kinh tế thì kênh giá tài sản được xem là “bộ khuếch đại”, như cách TS. Phạm Xuân Hòe ví von. Khi biến động giá tài sản, đặc biệt là giá bất động sản có thể thúc đẩy tín dụng tăng mạnh, qua đó, kéo theo tăng trưởng GDP và tiêu dùng. “Tuy nhiên, cũng làm cho bong bóng bất động sản phình to, làm méo mó phân bổ tín dụng, gia tăng rủi ro hệ thống ngân hàng và nền kinh tế” - ông Hòe bày tỏ lo ngại.

Cuộc đua chất lượng, thay vì mở rộng tín dụng đơn thuần

Đối với các ngân hàng, giai đoạn này không còn là cuộc đua tăng trưởng tín dụng đơn thuần, mà là cuộc đua về chất lượng bảng cân đối. Các ngân hàng cần ưu tiên củng cố nguồn vốn ổn định, đặc biệt là vốn trung - dài hạn, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ LDR và giảm phụ thuộc vào vốn ngắn hạn. Đồng thời, cần tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng giảm tập trung vào các lĩnh vực rủi ro cao, tăng tỷ trọng các khoản vay có dòng tiền rõ ràng và khả năng trả nợ tốt. Nếu không làm tốt điều này, khi chu kỳ tín dụng đảo chiều, rủi ro thanh khoản và nợ xấu có thể xuất hiện đồng thời.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Đáng nói, tín dụng 3 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng trên 3%, nhưng huy động vốn chưa đầy 1%. Tình trạng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài gần 4 năm vừa qua, sự lệch pha này cho thấy áp lực thanh khoản đang hiện hữu. Lãnh đạo một ngân hàng tư nhân lớn hàng đầu hệ thống từng nhận định, thị trường đang hụt tiền, thiếu tiền nên đẩy lãi suất lên cao.

Theo nhận định của PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc là điều đáng lo. Hệ thống có thể chưa thiếu tiền để “qua đêm”, nhưng lại chịu sức ép ngày càng lớn trong việc duy trì một cấu trúc nguồn vốn đủ an toàn để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân lưu ý, với các ngân hàng có LDR (tỷ lệ dư tín dụng trên tổng huy động) tiệm cận ngưỡng 85% và tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn khoảng 30%, mức đệm an toàn thanh khoản của các ngân hàng rõ ràng mỏng đi đáng kể.

“Khi đó, chỉ cần tín dụng tăng nhanh thêm, tiền gửi dịch chuyển giữa các ngân hàng, hoặc tỷ giá và lãi suất quốc tế biến động mạnh hơn, áp lực huy động sẽ bật lên rất nhanh” - ông Huân nhận định.

Điều này cho thấy một giới hạn rõ ràng, đó là trụ cột tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực đáng kể. Trong bối cảnh kênh tín dụng ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn về tốc độ tăng trưởng, việc tái cấu trúc các kênh huy động vốn theo hướng lấy thị trường vốn làm cột trụ, đóng vai trò then chốt trong việc khơi thông nguồn vốn trung dài hạn cho khu vực tư nhân. Sự phát triển đồng bộ của các kênh cung ứng vốn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17621 17894 18473
CAD 17955 18230 18848
CHF 31769 32150 32798
CNY 0 3830 3923
EUR 29257 29478 30558
GBP 33875 34264 35202
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14544 15134
SGD 19751 20032 20608
THB 704 767 821
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80