Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
aa

Tín dụng tăng nhưng kèm “âu lo”

Dòng tiền được cung ứng ra nền kinh tế với tốc độ hiếm thấy, tạo nên bức tranh tăng trưởng tín dụng ấn tượng. Tuy nhiên, sau giai đoạn tăng nhanh và đạt đỉnh vào năm 2025, tăng trưởng tín dụng năm 2026 đã được “hãm phanh”, ngành ngân hàng chuyển sang chiến lược mở rộng có chọn lọc hơn. Dù vậy, đằng sau các con số tích cực vẫn là những áp lực đang dần tích tụ trong hệ thống ngân hàng.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt trên 19%, đây là mức tăng trưởng tín dụng rất cao trong vòng khoảng 15 năm trở lại đây. Kết quả là tỷ lệ tín dụng/GDP lên mức 146% GDP, thuộc nhóm cao trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp tương đương Việt Nam.

Tín dụng
Nguồn: FiinGroup

Điều này đem lại tác động hai chiều. Một mặt, tăng trưởng tín dụng nhanh giúp cung ứng nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Mặt khác, có thể ảnh hưởng tới an toàn hệ thống tài chính - tiền tệ, nếu không kiểm soát tốt chất lượng tín dụng.

Theo TS. Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Ngân hàng Nhà nước, hiện kênh tín dụng vẫn là trục chính đóng vai trò truyền dẫn chính sách tiền tệ.

Cần lộ trình giảm tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn

Cần có lộ trình giảm dần tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại từ 47% hiện nay về mức 40% trong 5 năm tới để giảm áp lực căn bệnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

TS. Phạm Xuân Hòe

Điểm khác biệt lớn nhất so với nhiều nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN hay các nền kinh tế thị trường khác, đó là chính sách tiền tệ của Việt Nam kết hợp giữa thị trường và những công cụ có tính chất hành chính. Theo đó, hiện vẫn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, cùng các loại lãi suất trần như: trần lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng và trần lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên.

Trong một báo cáo về ngành ngân hàng, Công ty cổ phần FiinGroup dự báo, nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 16%/năm để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 8 - 10%/năm, thì sẽ làm gia tăng tỷ lệ tín dụng/GDP.

Mức độ đòn bẩy này sẽ vượt ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Hệ số an toàn vốn (CAR) của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam khá “mỏng” và sát ngưỡng tối thiểu đang trở thành rào cản cho tăng trưởng tín dụng, nếu các ngân hàng không kịp thời bổ sung vốn tự có.

“Cột trụ” ngân hàng chịu nhiều áp lực

Bước sang pha tăng trưởng mới với mục tiêu GDP trên 10% giai đoạn tới, Việt Nam cần một nền tảng vốn có quy mô lớn hơn và chất lượng cao hơn hẳn giai đoạn trước.

Theo FiinGroup, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tiệm cận 40% GDP giai đoạn 2026 - 2030. Đối chiếu với các nguồn vốn hiện hữu, sự thiếu hụt nguồn vốn trung dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20 - 30 tỷ USD/năm. Sự thiếu hụt này không chỉ nằm ở con số tuyệt đối, mà còn nằm ở sự lệch pha về cấu trúc.

Tại hệ thống ngân hàng, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức 42 - 47%, ngân hàng vẫn là nhà cung cấp vốn dài hạn cho nền kinh tế; trong khi hơn 90% tiền gửi trong hệ thống ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn. Dòng vốn ngắn hạn đang phải “gánh” vai trò dài hạn khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn toàn hệ thống đạt 28,32%, theo đánh giá của FiinGroup. Con số này tiệm cận trần 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, khiến dư địa mở rộng tín dụng dài hạn ngày càng bị bó hẹp.

Khi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh đòn bẩy doanh nghiệp cao, hệ thống ngân hàng đang dần “căng dây”, khiến những rủi ro về thanh khoản, lệch pha kỳ hạn và ổn định hệ thống âm thầm tích tụ.

Cơ cấu tín dụng theo ngành hiện có sự lệch đáng kể so với cơ cấu đóng góp vào GDP. Theo thống kê của FiinGroup, tín dụng tập trung cao vào lĩnh vực bất động sản, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, trong khi lĩnh vực này chỉ đóng góp khoảng 3% GDP. Ngược lại, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo đóng góp khoảng 24% GDP, nhưng chỉ chiếm khoảng 12% dư nợ tín dụng.

Thực tế này cho thấy, không chỉ quy mô tín dụng, mà cả cấu trúc phân bổ tín dụng theo ngành và theo các động lực tăng trưởng cũng cần được theo dõi chặt chẽ.

Khi kênh tín dụng là trục chính của nền kinh tế thì kênh giá tài sản được xem là “bộ khuếch đại”, như cách TS. Phạm Xuân Hòe ví von. Khi biến động giá tài sản, đặc biệt là giá bất động sản có thể thúc đẩy tín dụng tăng mạnh, qua đó, kéo theo tăng trưởng GDP và tiêu dùng. “Tuy nhiên, cũng làm cho bong bóng bất động sản phình to, làm méo mó phân bổ tín dụng, gia tăng rủi ro hệ thống ngân hàng và nền kinh tế” - ông Hòe bày tỏ lo ngại.

Cuộc đua chất lượng, thay vì mở rộng tín dụng đơn thuần

Đối với các ngân hàng, giai đoạn này không còn là cuộc đua tăng trưởng tín dụng đơn thuần, mà là cuộc đua về chất lượng bảng cân đối. Các ngân hàng cần ưu tiên củng cố nguồn vốn ổn định, đặc biệt là vốn trung - dài hạn, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ LDR và giảm phụ thuộc vào vốn ngắn hạn. Đồng thời, cần tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng giảm tập trung vào các lĩnh vực rủi ro cao, tăng tỷ trọng các khoản vay có dòng tiền rõ ràng và khả năng trả nợ tốt. Nếu không làm tốt điều này, khi chu kỳ tín dụng đảo chiều, rủi ro thanh khoản và nợ xấu có thể xuất hiện đồng thời.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Đáng nói, tín dụng 3 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng trên 3%, nhưng huy động vốn chưa đầy 1%. Tình trạng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài gần 4 năm vừa qua, sự lệch pha này cho thấy áp lực thanh khoản đang hiện hữu. Lãnh đạo một ngân hàng tư nhân lớn hàng đầu hệ thống từng nhận định, thị trường đang hụt tiền, thiếu tiền nên đẩy lãi suất lên cao.

Theo nhận định của PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc là điều đáng lo. Hệ thống có thể chưa thiếu tiền để “qua đêm”, nhưng lại chịu sức ép ngày càng lớn trong việc duy trì một cấu trúc nguồn vốn đủ an toàn để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân lưu ý, với các ngân hàng có LDR (tỷ lệ dư tín dụng trên tổng huy động) tiệm cận ngưỡng 85% và tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn khoảng 30%, mức đệm an toàn thanh khoản của các ngân hàng rõ ràng mỏng đi đáng kể.

“Khi đó, chỉ cần tín dụng tăng nhanh thêm, tiền gửi dịch chuyển giữa các ngân hàng, hoặc tỷ giá và lãi suất quốc tế biến động mạnh hơn, áp lực huy động sẽ bật lên rất nhanh” - ông Huân nhận định.

Điều này cho thấy một giới hạn rõ ràng, đó là trụ cột tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực đáng kể. Trong bối cảnh kênh tín dụng ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn về tốc độ tăng trưởng, việc tái cấu trúc các kênh huy động vốn theo hướng lấy thị trường vốn làm cột trụ, đóng vai trò then chốt trong việc khơi thông nguồn vốn trung dài hạn cho khu vực tư nhân. Sự phát triển đồng bộ của các kênh cung ứng vốn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

(TBTCO) - Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (trước đây gọi là đại lý thu) phải bảo đảm nguồn lực tài chính, không chậm đóng, trốn đóng tại thời điểm xem xét lựa chọn; có trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp để xảy ra thất thoát, nộp không đúng hạn hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Sau gần một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP. Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được đẩy mạnh.
Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, vì sao giá vàng rơi dốc?

Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, vì sao giá vàng rơi dốc?

(TBTCO) - Giá vàng đã giảm hơn 50 triệu đồng/lượng so với mức đỉnh thiết lập hồi đầu năm. Diễn biến này được các chuyên gia lý giải bởi nhiều yếu tố đan xen của thị trường tài chính quốc tế và những thay đổi trên thị trường vàng trong nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,850 14,050
Nguyên Liệu 99.9 13,800 14,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,250 14,650
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,200 14,600
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,130 14,580
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 13,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 14/06/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17994 18268 18858
CAD 18273 18549 19165
CHF 32343 32726 33384
CNY 0 3848 3942
EUR 29799 30021 31102
GBP 34464 34856 35794
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15621
SGD 19935 20217 20801
THB 718 781 836
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,412
USD20 26,120 26,170 26,412
USD1 23,898 26,170 26,412
AUD 18,179 18,329 19,463
EUR 30,052 30,152 31,603
CAD 18,350 18,503 19,835
SGD 20,185 20,335 20,924
JPY 160.83 162.73 167.52
GBP 34,629 35,029 35,940
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/06/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80