Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Anh Tuyết
(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
aa

“Làn sóng” tân binh sau 4 năm “im ắng”

Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nhiều năm qua gần như do khối ngoại chi phối. Theo số liệu tháng 1/2026 của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), doanh nghiệp có vốn nước ngoài nắm khoảng 80% thị phần khai thác mới, nhờ lợi thế về vốn, kinh nghiệm và công nghệ, dẫn đầu là Generali (17,07%), Dai-ichi (12,05%), AIA (11,59%), Prudential (6,76%)... Nhóm doanh nghiệp liên doanh giữa ngân hàng trong nước và đối tác nước ngoài, gồm MB Life và BIDV MetLife, chiếm 8,13% thị phần.

Bảo Việt Nhân thọ là doanh nghiệp nội địa hiếm hoi, song giữ vị trí dẫn đầu toàn ngành, với thị phần 19,29%.

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm
Các nhà băng chủ động “mài cung”, rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi. Ảnh: An Thư

Đáng chú ý, sau 4 năm không có doanh nghiệp mới gia nhập, năm 2025, Techcom Life được cấp phép, với Techcombank đóng vai trò “nhà cái” đứng sau nắm 80% vốn, cùng các cổ đông trong hệ sinh thái Vingroup. Sự xuất hiện này được xem là “cú hích” quan trọng, đánh dấu sự trở lại của doanh nghiệp nội trên thị trường lâu nay do khối ngoại chi phối. Ngay trong tháng 1/2026, Techcom Life vươn lên top 5 toàn ngành, chiếm 7,08% thị phần, qua đó, tạo kỳ vọng về một thế cân bằng hơn thời gian tới.

VPBank cũng đã trình kế hoạch thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ với vốn dự kiến 2.000 tỷ đồng, cho thấy “làn sóng” gia nhập của các nhà băng có thể tạo ra những chuyển động mới cho toàn thị trường.

Ở mảng phi nhân thọ, cũng sau 4 năm không có thêm doanh nghiệp mới, năm 2024, thị trường ghi nhận sự xuất hiện của Bảo hiểm Phi nhân thọ Techcom (TCGIns), Techcombank dự kiến mua thêm 57% cổ phần, nâng tỷ lệ sở hữu lên 68% để giữ vai trò “nhà cái” chi phối TCGIns. TCGIns là một trong gần 10 doanh nghiệp phi nhân thọ được hậu thuẫn bởi ngân hàng như: BIDV, VietinBank, Agribank, VPBank, Techcombank…, cho thấy xu hướng nhà băng gia nhập sâu hơn “sân chơi” phi nhân thọ.

Xu hướng này được nối dài khi tại Đại hội đồng cổ đông năm 2026, ACB đã thông qua kế hoạch thành lập ACB Insurance với vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng, từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính khép kín và mở rộng dư địa phát triển thị trường.

Ngân hàng “mài cung” sớm, nhiều toan tính chiến lược

Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ vừa qua “đáy” sau hai năm suy giảm và mới nhích phục hồi, quy mô vẫn thấp hơn khoảng 15% so với đỉnh 2022, nhiều ngân hàng chọn “nhập cuộc" sớm, thay vì đứng ngoài chờ sóng rõ ràng hơn, xuất phát từ nhiều toan tính chiến lược.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, ông Từ Tiến Phát - Tổng giám đốc ACB thừa nhận, hai năm qua, thị trường bảo hiểm khá khó khăn và suy giảm, khiến mảng bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng) của ACB giảm liên tục, riêng năm 2025 giảm hơn 20% doanh thu.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo ACB, điều đáng mừng là quý I/2026 ghi nhận sự hồi phục mạnh mẽ của mảng bancassurance, cả thị trường chung và ACB. Theo đó, doanh thu bancassurance của ACB quý I/2026 tăng 33% cùng kỳ và dự kiến đóng góp hơn 1.000 tỷ đồng năm nay, sau khi thành lập ACB Insurance.

"Vừa qua, nhu cầu về bảo hiểm tuy chững lại, nhưng rõ ràng, nhu cầu rất lớn, mức độ thâm nhập về bảo hiểm của người dân Việt Nam chỉ khoảng 2 - 3%, còn rất nhiều tiềm năng” - Tổng giám đốc ACB đánh giá. Do đó, lãnh đạo ACB nhận định, đây là một hướng đầu tư có thể mang lại hiệu quả tổng thể cho cả tập đoàn.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng bán lẻ, Techcombank cũng tin tưởng, giai đoạn khó khăn của ngành bảo hiểm chỉ là một phần của chu kỳ phát triển và sẽ sớm phục hồi như các thị trường khác.

“Ngay cả những nước phát triển như: Hồng Kông, Singapore…, hay các nước cũng trong khu vực như: Thái Lan hay Malaysia…, quá trình phát triển đều có điều chỉnh. Điều chỉnh để chúng ta tinh chỉnh lại thị trường, giúp các hoạt động ngày càng minh bạch hơn và giúp các sản phẩm, dịch vụ thực sự mang lại giá trị cho khách hàng” - ông Tuấn bày tỏ.

Trao đổi với phóng viên về “làn sóng” tân binh gia nhập giai đoạn này, theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Đào tạo bảo hiểm và quản trị rủi ro tài chính, đây là lựa chọn “đi trước một bước” có tính toán.

Ngân hàng “đi trước một bước”

“Việc mở doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cần thời gian chuẩn bị khoảng 18 tháng, đến khi hoàn tất thì tình hình thị trường thường đã ổn định hơn. Giống như lúc đang “mùa rỗi”, phải mài tên, đến mùa săn mới có thể đi săn được.

Ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Đào tạo bảo hiểm và quản trị rủi ro tài chính

Ông Đán phân tích, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cần thời gian chuẩn bị dài 12 - 18 tháng, từ xin giấy phép sản phẩm, xây dựng bộ máy, tuyển dụng nhân sự..., đến hoàn thiện hệ thống. Vì vậy, giai đoạn thị trường khó khăn lại là thời điểm “lấy đà” để đón cơ hội phục hồi.

Việc vận hành một công ty bảo hiểm nhân thọ cũng có một số đặc thù khác so với ngân hàng. Thứ nhất, lĩnh vực bảo hiểm đòi hỏi chuyên môn cao và phức tạp, gần như tách biệt với hoạt động ngân hàng.

Thứ hai, đặc thù của bảo hiểm nhân thọ là thời gian lỗ kéo dài, thường 7 - 12 năm. “Do đó, một ngân hàng chưa có nguồn tiền dồi dào và chưa có hệ sinh thái đủ lớn sẽ không bao giờ đủ can đảm làm công ty bảo hiểm nhân thọ” - vị chuyên gia này nhìn nhận.

“Rời vai” trung gian, tái định vị cuộc chơi

Cũng cần nhắc lại rằng, trước đây, ngân hàng chủ yếu dừng lại ở vai trò “kênh phân phối”, tức ngân hàng đưa sản phẩm của các hãng bảo hiểm đến tay khách hàng. Tuy nhiên gần đây, các ngân hàng chuyển mình, không chỉ “bán hộ” mà “làm chủ”, tham gia sâu vào quá trình phát triển sản phẩm.

Đây chính là bước đi giúp ngân hàng khai thác “mỏ vàng” dữ liệu và tệp khách hàng sẵn có một cách hiệu quả, tăng khả năng “bán chéo” và giá trị trên mỗi khách hàng, thay vì chỉ dừng ở giao dịch đơn lẻ.

Dòng phí ổn định và bền vững, tạo cơ hội “bán chéo”

Với các hợp đồng bảo hiểm có thời gian 10 năm, 15 năm, 20 năm, mỗi năm chúng tôi đều có cơ hội để phục vụ khách hàng, từ đó, tạo điều kiện để bán thêm, bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác. Vì vậy, đây luôn là một trong những cơ cấu phí quan trọng bậc nhất.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng giám đốc Techcombank

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng giám đốc Techcombank nhấn mạnh, phí bảo hiểm là một trong những nguồn phí rất quan trọng, đặc biệt là ngân hàng bán lẻ, bởi còn giúp gắn kết, giữ chân khách hàng lâu dài.

Cũng theo TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế cao cấp, các ngân hàng có nền tảng bán lẻ mạnh, sở hữu tệp khách hàng trung lưu và khách hàng có thu nhập ổn định có khả năng bán chéo sản phẩm bảo hiểm tốt hơn.

“Bancassurance hiện không chỉ là hoạt động bán sản phẩm bổ trợ, mà trở thành một phần của chiến lược quản lý tài sản và bảo vệ tài chính trọn gói cho khách hàng, đặc biệt ở phân khúc khách hàng cá nhân, khách hàng ưu tiên” - ông Nhân nêu rõ.

Nhấn mạnh việc thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ, cần được nhìn trong tổng thể hệ sinh thái tài chính, chuyên gia Trần Nguyên Đán phân tích thêm, hiệu quả của công ty bảo hiểm nhân thọ không nằm ở kết quả kinh doanh ngắn hạn, mà ở quy mô quỹ đầu tư hình thành từ dòng phí bảo hiểm và giải bài toán vốn dài hạn, cũng như xây dựng hệ sinh thái tài chính tích hợp cho ngân hàng.

Vị chuyên gia này phân tích, ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn, trong khi nhu cầu vốn trung dài hạn ngày càng lớn. Bảo hiểm nhân thọ mang lại nguồn vốn dài hạn ổn định, với các hợp đồng kéo dài hàng chục năm, thậm chí tới 99 tuổi. Qua đó, giúp bổ khuyết cho ngân hàng trong việc huy động nguồn vốn dài hạn.

“Đây là lợi thế lớn so với việc chỉ phân phối sản phẩm cho các hãng bảo hiểm bên ngoài như trước đây” - ông Đán chỉ rõ.

Anh Tuyết

Đọc thêm

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

(TBTCO) - Trong quý đầu tiên của năm 2026, nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng với tốc độ nhanh nhất so với cùng kỳ, do giá vàng giảm mạnh đã khuyến khích làn sóng mua vào, bù đắp hoàn toàn cho lượng bán ra của một số ít tổ chức.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 30/4 không ghi nhận biến động mới, khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ giá, giao dịch trong vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 03/05/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/05/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80