Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
aa
Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới chỉ rõ “ẩn số” chi phối giá vàng Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

Nhu cầu vàng toàn cầu tăng nhẹ 2%

Ngày 29/4, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) công bố báo cáo “Xu hướng nhu cầu vàng quý I/2026”.

Báo cáo từ WGC cho thấy, tổng nhu cầu vàng toàn cầu trong quý (bao gồm cả giao dịch trên thị trường phi tập trung - OTC) đạt 1.231 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù khối lượng giao dịch chỉ tăng nhẹ, nhưng giá trị nhu cầu đã tăng vọt lên mức kỷ lục 193 tỷ USD, tương ứng mức tăng 74% so với cùng kỳ năm trước.

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường
Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu giai đoạn 2000 - 2026. Nguồn: WGC.

Ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC cho rằng, biến động địa chính trị được dự báo ​​sẽ tiếp tục là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu vàng trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

“Điều này hỗ trợ xu hướng mua ròng liên tục của các ngân hàng trung ương, dòng vốn chảy mạnh vào các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng toàn cầu cũng như nhu cầu tích trữ vàng miếng và vàng xu. Giá vàng cao có thể tiếp tục ảnh hưởng đến nhu cầu vàng trang sức, mặc dù sức mua của phân khúc này được kỳ vọng sẽ duy trì ổn định” - ông Shaokai Fan nhận định.

Nhu cầu Việt Nam giảm sâu, sức ép từ giá cao và khan nguồn cung

“Việt Nam là thị trường ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong khu vực, giảm 24% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 9 tấn, dù vẫn tăng 31% so với quý IV/2025. Tổng nhu cầu vàng ở mức tương đối thấp phản ánh tác động của giá vàng cao kỷ lục. Bên cạnh đó, những hạn chế về nguồn cung trong nước đã đẩy chênh lệch giá vàng nội địa lên mức cao, qua đó thúc đẩy nhu cầu đầu tư vào vàng thông qua sản phẩm nhẫn vàng trơn” - WGC nhận định.

Trên toàn cầu, các nhà đầu tư cá nhân bị thu hút bởi đà tăng giá và sức hấp dẫn của vàng như tài sản trú ẩn an toàn, qua đó, đẩy nhu cầu vàng miếng và vàng xu tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt 474 tấn.

Tại Trung Quốc, nhu cầu tăng mạnh 67% so với cùng kỳ, đạt 207 tấn, đây là mức cao nhất từ trước đến nay, cao hơn nhiều so với mức kỷ lục 155 tấn được ghi nhận vào quý II/2013.

Các thị trường châu Á khác như: Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng ghi nhận sự gia tăng hoạt động mua vàng miếng và vàng xu, góp phần làm thay đổi cấu trúc nhu cầu vàng đang diễn ra. Nhu cầu vàng miếng và vàng xu cũng được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ ở Mỹ (tăng 14%) và Châu Âu (tăng 50%).

Quý I/2026 là giai đoạn nổi bật đối với hoạt động đầu tư vàng miếng và vàng xu tại khu vực ASEAN. Nhu cầu tại Indonesia trong quý I/2026 đã tăng gấp đôi so với quý trước đạt 23,6 tấn, trong khi Thái Lan đạt 10 tấn, mức cao nhất trong quý I/2026 kể từ năm 2019.

Cầu vàng trang sức giảm 23%, nhiều quỹ ETF và ngân hàng trung ương bán mạnh

Còn nhu cầu vàng trang sức trong quý I/2026 giảm mạnh 23% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 300 tấn. Đây được xem là phản ứng trực tiếp của thị trường trước tình trạng giá vàng liên tục neo ở mức cao trong suốt quý.

Đà suy giảm diễn ra trên hầu hết các thị trường chủ chốt, trong đó đáng chú ý nhất là Trung Quốc (giảm 32%), Ấn Độ (giảm 19%) và khu vực Trung Đông (giảm 23%).

Ngoài ra, theo chuyên gia WGC, tại các quốc gia ASEAN, giá vàng cao đã thúc đẩy xu hướng chuyển sang các sản phẩm trang sức có hàm lượng vàng thấp hơn và mang tính đầu tư. Theo đó, khối lượng tiêu thụ tại 4 thị trường đều ở mức trầm lắng.

“Việt Nam là thị trường đáng chú ý, với giá trị nhu cầu vàng trang sức đạt mức kỷ lục 472 triệu USD, tăng 28% so với quý trước. Diễn biến này một phần có thể do những hạn chế trong nguồn cung vàng miếng, khiến nhu cầu chuyển sang vàng nhẫn trơn như một kênh đầu tư thay thế” - chuyên gia WGC nhận định.

Phân tích thị trường cho thấy một phần nhu cầu vàng trang sức đã chuyển sang vàng miếng và vàng xu, đặc biệt tại các thị trường như Trung Quốc và Ấn Độ, nơi vàng trang sức có thể được xem như một hình thức đầu tư thay thế.

Đáng chú ý, theo thống kê của WGC, trong quý I/2026, các ngân hàng trung ương tiếp tục hỗ trợ tổng cầu, với lượng mua ròng đạt 244 tấn. Con số này vượt cả quý IV/2025 và mức trung bình của 5 năm gần đây, dù có một số tổ chức thuộc khu vực tăng cường bán ra, bao gồm: Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ, Ngân hàng Trung ương Nga và Quỹ Dầu mỏ Nhà nước Azerbaijan.

Cũng theo WGC, trong quý I/2026, nhu cầu đối với các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng tiếp tục duy trì tích cực, với lượng vàng nắm giữ tăng thêm 62 tấn, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng mạnh từ các quỹ niêm yết tại châu Á khi các tổ chức này mua ròng 84 tấn trong quý I/2026.

Tuy nhiên, dòng vốn rút ra đáng kể trong tháng 3/2026, chủ yếu từ các quỹ niêm yết tại Mỹ, đã phần nào kìm hãm đà tăng rất mạnh của thị trường trong giai đoạn đầu năm.

Bà Louise Street - chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại WGC nhận định, giá vàng biến động mạnh trong năm 2026, sau khi thiết lập mức đỉnh trên 5.400 USD/ounce vào tháng 1/2026, thị trường đã ghi nhận một đợt điều chỉnh mạnh, nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.

Sự kết hợp giữa đà tăng giá và rủi ro địa chính trị leo thang đã thúc đẩy nhu cầu đầu tư, đặc biệt tại thị trường châu Á, khi các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn thông qua vàng vật chất. Đồng thời, việc các ngân hàng trung ương duy trì hoạt động mua vào đã góp phần cân bằng áp lực từ các đợt bán ra mang tính chiến lược trên thị trường.

“Trong thời gian tới, phần bù rủi ro địa chính trị được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu đầu tư vàng. Tuy nhiên, môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra những rào cản, đặc biệt tại các thị trường phương Tây. Nhu cầu vàng trang sức dự kiến vẫn duy trì ổn định, ngay cả khi giá vàng cao khiến khối lượng tiêu thụ giảm. Về nguồn cung, sản lượng khai thác được kỳ vọng tăng nhẹ, song rủi ro thiếu hụt năng lượng có thể hạn chế triển vọng này" - bà Louise Street dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

(TBTCO) - Theo Thông tư số 53/2026/TT-NHNN về quản lý rủi ro khi ứng dụng AI ngành ngân hàng, hệ thống AI tự động thanh toán trên 10 triệu đồng/giao dịch với khách hàng cá nhân, trên 50 triệu đồng với tổ chức, hoặc tự động quyết định cấp tín dụng từ 50 triệu đồng trở lên được xếp vào nhóm rủi ro cao. Các đơn vị phải thiết lập công cụ giám sát liên tục.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,680 ▲130K 14,280 ▲130K
Trang sức 99.99 13,690 ▲130K 14,290 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17517 17790 18374
CAD 17657 17931 18550
CHF 30503 30879 31521
CNY 0 3823 3919
EUR 28417 28634 29717
GBP 33459 33846 34784
HKD 0 3166 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14204 14794
SGD 19670 19951 20522
THB 687 750 803
USD (1,2) 25608 0 0
USD (5,10,20) 25646 0 0
USD (50,100) 25674 25688 26058
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,405 28,548 29,772
GBP 33,565 33,734 34,763
HKD 3,222 3,238 3,355
CHF 30,566 30,720 31,667
JPY 159.10 160.22 168.18
AUD 17,683 17,772 18,368
SGD 19,824 19,924 20,518
THB 750 754 791
CAD 17,834 17,924 18,520
NZD 14,270 14,825
KRW 18.59 20.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30