"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ánh Tuyết
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
aa
Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3% Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Áp chuẩn Basel III, trao quyền Thanh tra áp hệ số rủi ro cao hơn

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến rộng rãi dự thảo Thông tư quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nhằm thay thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019.

Thông tư này quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động mà các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì, bao gồm: hạn chế, giới hạn cấp tín dụng; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng; tỷ lệ mua, nắm giữ, đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn; tỷ lệ đòn bẩy.

Theo ban soạn thảo, phạm vi điều chỉnh Thông tư này bổ sung quy định bổ sung 02 tỷ lệ thanh khoản theo Basel III. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động) bằng tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn quy định tại Điều 13 dự thảo), để đảm bảo phản ánh đúng bản chất và nâng cao hiệu quả quản lý của tỷ lệ này. Bên cạnh đó, bổ sung tỷ lệ LEV (leverage ratio - tỷ lệ đòn bẩy quy định tại Điều 8) theo hướng dẫn của Basel III.

Ngoài ra, dự thảo Thông tư cũng không quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Để tăng tính linh hoạt trong công tác quản lý, phản ánh kịp thời mức độ rủi ro được phát hiện trong công tác thanh tra và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn, dự thảo Thông tư quy định theo hướng trao quyền chủ động cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước trong việc áp dụng hệ số rủi ro cao hơn đối với từng khoản phải đòi hoặc nhóm khoản phải đòi tiềm ẩn rủi ro cao.

Đồng thời, quy định việc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu thời hạn tối đa để ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đảm bảo tuân thủ quy định tại Thông tư này trong trường hợp việc thực hiện yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước dẫn đến vi phạm các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn.

Ngoài ra, dự thảo Thông tư quy định việc Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 37 Thông tư phải tiếp tục áp dụng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn theo quy định tại Mục 4 Thông tư này.

Thay LDR bằng CDR, tiền gửi Kho bạc bị loại 80% khi tính huy động vốn

Điểm thay đổi đáng chú ý trong dự thảo là việc chuyển từ chỉ tiêu “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi” (LDR) sang “tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn” (CDR) tại Điều 13 dự thảo Thông tư.

“Dự thảo Thông tư thay tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi bởi tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn và được tính trên thị trường 1. Theo đó, tỷ lệ này phản ánh quy mô tổng dư nợ cấp tín dụng trên thị trường 1 so với huy động vốn trên thị trường 1” - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Theo đó, tỷ lệ CDR (%) = C/D × 100%. Trong đó, C là tổng dư nợ cấp tín dụng; D là huy động vốn.

So với quy định cũ, C - tổng dư nợ cấp tín dụng được mở rộng khi bao gồm cả dư nợ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; đồng thời, loại trừ một số khoản quy định tại Khoản 3 Điều 13 dự thảo.

Đại tu Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng
Điều 13 dự thảo Thông tư quy định cách tính tỷ lệ CDR thay cho LDR, đồng thời góp phần tháo gỡ áp lực thanh khoản khi cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động. Ảnh tư liệu.

Với D - huy động vốn bao gồm tiền gửi của tổ chức trong nước và nước ngoài, trừ một số khoản, trong đó có 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước; tiền gửi của cá nhân, trừ tiền ký quỹ và tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng; tiền huy động từ phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu; nguồn vốn ủy thác cho vay của Chính phủ, cá nhân và tổ chức khác mà ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã nhận và chịu rủi ro khi thực hiện cho vay theo ủy thác.

Khoản 5 Điều 13 dự thảo Thông tư cũng quy định ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ CDR tối đa 85%.

Theo quy định hiện hành tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 26/2022/TT-NHNN), tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc được tính vào nguồn vốn huy động đã giảm dần qua các năm và tiến tới loại bỏ hoàn toàn từ năm 2026. Trong khi đó, dự thảo mới xác định lại cách tính theo hướng tiền gửi không kỳ hạn tiếp tục không được tính vào huy động và loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.

Bổ sung nhiều chỉ tiêu an toàn mới theo chuẩn Basel III

Ngoài các thay đổi về cách xác định các tỷ lệ an toàn, dự thảo còn bổ sung một nhóm chỉ tiêu mới theo chuẩn Basel III, bao gồm tỷ lệ đòn bẩy (LEV - leverage ratio) tại Điều 8 dự thảo, tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), đây là những chỉ tiêu chưa được quy định trong pháp luật hiện hành.

Các chỉ tiêu an toàn mới được bổ sung vào dự thảo Thông tư gồm: LEV, LCR và NSFR.

Với LEV, Ngân hàng Nhà nước cho biết Ủy ban Basel đã xây dựng tỷ lệ đòn bẩy LEV, mà các chỉ tiêu của tỷ lệ này không dựa trên rủi ro và được áp dụng song song với khuôn khổ tỷ lệ an toàn vốn dựa trên rủi ro theo Basel III, nhằm hạn chế sự tích tụ vay nợ quá mức trong hệ thống ngân hàng.

“Đây là một công cụ bổ sung cho các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro, đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Trường hợp các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro bị sai lệch hoặc không đủ, tỷ lệ đòn bẩy đóng vai trò là lớp bảo vệ thứ hai cho các ngân hàng” - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Hiện một số quốc gia trên thế giới đang áp dụng tỷ lệ LEV tại Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Malaysia, Singapore, Hongkong, Đài Loan, Mỹ.

Liên quan đến hai tỷ lệ LCR và NSFR, Điều 14 của dự thảo quy định cụ thể lộ trình áp dụng. Theo đó, từ ngày 01/01/2028, các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện đầy đủ các quy định về hai tỷ lệ này. Giai đoạn trước đó, các tổ chức tín dụng tiếp tục tuân thủ các quy định hiện hành theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN, bao gồm các yêu cầu về khả năng chi trả và giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn.

Bên cạnh lộ trình bắt buộc, dự thảo cũng quy định cơ chế áp dụng sớm, kèm theo xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập và ý kiến của cơ quan quản trị nội bộ về việc đã tuân thủ đầy đủ các yêu cầu, không có ý kiến ngoại trừ tại thời điểm gần nhất./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức giảm phổ biến 1,5 - 1,9 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 4.500 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 28% so với năm 2025, tăng trưởng tín dụng 9%, nợ xấu kiểm soát dưới 1,5% cùng kế hoạch tăng vốn lên 20.000 tỷ đồng và chuẩn bị chuyển sàn sang HOSE. Lãnh đạo ABBank nhấn mạnh động lực tăng trưởng từ nguồn “lương khô” xử lý nợ xấu và phát triển các nguồn thu mới.
ĐHĐCĐ Eximbank 2026: Thông qua định hướng củng cố nền tảng và triển khai chiến lược 5 năm

ĐHĐCĐ Eximbank 2026: Thông qua định hướng củng cố nền tảng và triển khai chiến lược 5 năm

(TBTCO) - Ngày 28/4/2026 - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank; mã Ck: EIB) đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, hoàn tất toàn bộ nội dung chương trình theo quy định và nhận được sự đồng thuận của cổ đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▼200K 16,550 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,150 ▼250K 15,350 ▼250K
Nguyên Liệu 99.9 15,100 ▼250K 15,300 ▼250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼250K 16,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼250K 16,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼250K 16,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Hà Nội - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đà Nẵng - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Miền Tây - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Tây Nguyên - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
NL 99.90 15,050 ▼280K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼280K
Trang sức 99.9 15,740 ▼150K 16,440 ▼150K
Trang sức 99.99 15,750 ▼150K 16,450 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▼1482K 16,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▼1482K 16,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1461K 1,655 ▲1488K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1461K 1,656 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1443K 164 ▼1491K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▼1485K 162,376 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▼1125K 123,162 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▼1020K 111,681 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▼91302K 1,002 ▼100113K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▼874K 95,772 ▼874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲53618K 68,545 ▲61628K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cập nhật: 29/04/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18343 18619 19194
CAD 18731 19009 19625
CHF 32745 33130 33770
CNY 0 3817 3909
EUR 30205 30479 31504
GBP 34776 35169 36103
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15146 15734
SGD 20090 20372 20898
THB 723 786 839
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26368
AUD 18517 18617 19542
CAD 18900 19000 20011
CHF 32989 33019 34601
CNY 3793.6 3818.6 3954.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35097 35147 36911
HKD 0 3355 0
JPY 161.55 162.05 172.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15239 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20249 20379 21108
THB 0 753.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,171 26,221 26,368
USD20 26,171 26,221 26,368
USD1 26,171 26,221 26,368
AUD 18,565 18,665 19,772
EUR 30,543 30,543 31,951
CAD 18,845 18,945 20,255
SGD 20,329 20,479 21,280
JPY 162 163.5 168.07
GBP 34,995 35,345 36,212
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/04/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80