Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Ánh Tuyết
Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
aa
Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Lãi suất hạ chậm, áp lực thanh khoản vẫn lớn

Trong báo cáo triển vọng kinh tế quý II/2026 với tựa đề "Chờ thiên thời” mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) nhận định, sau cuộc họp ngày 09/04, mặt bằng lãi suất trong quý II/2026 nhiều khả năng sẽ ghi nhận mức giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết đồng thuận giảm 0,5 - 1%/năm lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại.

Cùng với việc Chính phủ phát đi tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO), hoán đổi ngoại tệ và cho vay tái cấp vốn, lãi suất được kỳ vọng đã tạo đỉnh vào đầu quý II/2026 và sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn trong nửa sau 2026.

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR
Nguồn: Chứng khoán KBSV.

Dù vậy, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026.

Bên cạnh đó, xu hướng tăng trưởng tín dụng cao vượt trội so với tăng trưởng huy động sẽ chưa đảo chiều trong ngắn/trung hạn và tiếp tục gây áp lực lên thanh khoản trong quý II/2026.

Số liệu cho thấy đến hết quý I/2026, tăng trưởng tín dụng và huy động lần lượt đạt 2,15% và 0,44%. Xét về giá trị tuyệt đối, tính tới hết tháng 9/2025, mức chênh lệch đã chạm mốc 1.5 triệu tỷ đồng.

Cùng với đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) thuần của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức cao và tỷ lệ cho vay trên huy động theo quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN đã tiến sát ngưỡng trần 85%.

Ngoài ra, diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông tạo áp lực kép lên lạm phát và tỷ giá khiến Ngân hàng Nhà nước chưa có nhiều dư địa trong việc hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.

Ba phương án gỡ áp lực LDR

Tại cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại ngày 9/4 do Thống đốc chủ trì, một số phương án đã được đưa ra nhằm giảm áp lực thanh khoản và tăng tính linh hoạt cho quy định hiện hành.

Chứng khoán KBSV chỉ rõ, phương án thứ nhất, xem xét điều chỉnh lộ trình của Thông tư 26/2022/TT-NHNN, theo hướng cho phép tiếp tục tính một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn, thay vì loại bỏ hoàn toàn. Một số ý kiến đề xuất duy trì tỷ lệ khoảng 20% như năm 2025 trong một khoảng thời gian nhất định.

Phương án thứ hai, điều chỉnh kỹ thuật trong cách tính LDR. Theo đó, các ngân hàng kiến nghị mở rộng các thành phần được tính vào nguồn huy động, bao gồm vốn dài hạn từ các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các công cụ như chứng chỉ tiền gửi, nhằm giảm phụ thuộc vào tiền gửi dân cư.

Phương án thứ ba, cân nhắc nới trần LDR từ mức 85% hiện nay lên khoảng 87 - 90% đối với những ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) ở mức tốt, qua đó tạo thêm dư địa cho hoạt động tín dụng.

Dữ liệu từ KBSV cho thấy nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước hiện tập trung chủ yếu tại nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước. Vietcombank, BIDV và VietinBank nắm giữ khoảng 134.000 - 136.000 tỷ đồng/ngân hàng; còn Agribank khoảng 86.500 tỷ đồng.

Trước đây, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước vẫn được tính vào nguồn vốn với tỷ lệ giảm dần qua các năm: 50% năm 2023, 60% năm 2024, 80% năm 2025 và chính thức về 0% từ năm 2026.

Khi yếu tố này bị loại bỏ hoàn toàn, tỷ lệ LDR của nhiều ngân hàng tăng lên nhanh chóng và tiến sát ngưỡng quy định 85%, dù quy mô tín dụng không biến động đáng kể.

Để đảm bảo các tỷ lệ an toàn, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh huy động vốn từ thị trường 1, qua đó, làm gia tăng áp lực cạnh tranh lãi suất. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích lên trong thời gian gần đây.

Trong trường hợp một phần tiền gửi của Kho bạc Nhà nước được đưa trở lại công thức tính, tỷ lệ LDR của các ngân hàng quốc doanh sẽ được cải thiện rõ rệt. Với quy mô nguồn vốn lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, chỉ cần điều chỉnh một phần cũng đủ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng mà không cần phải đẩy mạnh lãi suất huy động.

Tác động không chỉ dừng ở từng ngân hàng riêng lẻ. Khi áp lực từ tỷ lệ cho vay trên huy động giảm bớt, nhu cầu tăng lãi suất cũng hạ nhiệt, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất chung. Đồng thời, tín dụng có thêm điều kiện mở rộng vào các lĩnh vực ưu tiên như đầu tư công, sản xuất và xuất khẩu, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng tư nhân chủ yếu hưởng lợi gián tiếp thông qua môi trường lãi suất ổn định hơn, song mức độ tác động không lớn do không nắm giữ nhiều tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.

Nếu các điều chỉnh được thực hiện theo hướng linh hoạt, nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ có thêm dư địa tăng trưởng trong ngắn hạn, đồng thời giảm áp lực cạnh tranh lãi suất trên thị trường. Đây có thể trở thành yếu tố tạo ra sự khác biệt về tăng trưởng tín dụng giữa các nhóm ngân hàng trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80