Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
aa

"Big 4" dẫn dắt xu hướng, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất 24 tháng

Theo ghi nhận, nhóm “Big 4” hiện chiếm khoảng 50% tổng quy mô tiền gửi của toàn hệ thống. Việc các ngân hàng này đồng loạt giảm lãi suất ở kỳ hạn dài 24 tháng được xem là tín hiệu quan trọng, có thể đóng vai trò dẫn dắt xu hướng điều chỉnh của mặt bằng lãi suất chung.

Chia sẻ gần đây, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại các cuộc họp ngày 9/4, BIDV ngay lập tức giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động; đồng thời, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay với các khoản vay trung, dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân giảm chi phí vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế.

Lãi suất dịu nhiệt nhưng không nhiều dư địa
Đồ họa: Ánh Tuyết

Xác định là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực của nền kinh tế, đại diện Agribank, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình cũng nhấn mạnh chủ trương ổn định lãi suất huy động và cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là trong giai đoạn 2026 - 2030 cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Cũng theo bà Bình, trong 3 tháng đầu năm, Agribank đã lường trước khó khăn trong huy động vốn, nhưng thực tế diễn biến nhanh và khó khăn hơn dự kiến. Tính hết quý I/2026, nguồn vốn huy động Agribank chỉ tăng 0,3%, trong đó, huy động từ dân cư tăng gần 1,5%; trong khi huy động từ tổ chức giảm 1,2%.

Vì vậy, sau thời gian dài “neo” lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ở mức 4,8%/năm, Agribank đã có hai lần điều chỉnh tăng liên tiếp trong tháng 12/2025 và tháng 3/2026, với tổng mức tăng lên tới 1,7 điểm phần trăm, đưa mặt bằng lãi suất lên vùng cao hơn.

Gần đây, thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, Agribank mạnh tay điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng, xuống còn 6%/năm.

"Lãi suất huy động 24 tháng là lãi suất tham chiếu để chúng tôi quyết định lãi suất cho vay trung dài hạn" - lãnh đạo Agribank cho biết. Lãi suất cho vay trung dài hạn của Agribank thường được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, dựa trên lãi suất tham chiếu kỳ hạn 24 tháng cộng với biên độ quy định.

Trước ý kiến cho rằng việc giảm lãi suất kỳ hạn dài có thể không tác động nhiều do người dân chủ yếu gửi tiền kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, bà Bình cho rằng, thực tế người dân vẫn có xu hướng gửi dài hạn để hưởng lãi suất cao hơn, nên việc giảm 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng vẫn có tác động đáng kể. Bên cạnh đó, các kỳ hạn ngắn hiện đã chịu mức trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, vì vậy, dư địa điều hành chủ yếu nằm ở các kỳ hạn dài.

Hồi tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại trong việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Thời điểm đó, mặt bằng lãi suất đang đi ngang và ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất hiện khó có thể giảm sâu và duy trì ở mức thấp như giai đoạn trước.

Bối cảnh thay đổi, điều hành lãi suất không còn “dễ thở”

Chia sẻ với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trước đây, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp có điều kiện thuận lợi hơn khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất, tạo dư địa cho chính sách tiền tệ trong nước. Còn hiện nay, tình hình đã đảo chiều khi xét trên bình diện quốc tế, lạm phát tại Mỹ tăng trở lại, giá năng lượng chịu áp lực lớn từ xung đột địa chính trị, cùng rủi ro khi Mỹ có thể phong tỏa eo biển Hormuz..., khiến các biến số ngày càng trở nên khó dự báo.

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đang chịu nhiều sức ép cùng lúc như: chính sách tiền tệ từ các nền kinh tế lớn, áp lực lạm phát trong nước, áp lực tỷ giá, cũng như nhu cầu tín dụng gia tăng..., chưa kể áp lực nợ xấu tiếp tục gia tăng. Tất cả các biến số này khiến bài toán điều hành trở thành một bài toán đa biến.

Giảm lãi suất chịu nhiều áp lực, thách thức

Về lãi suất, cơ quan điều hành tiếp tục nỗ lực yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Đây là vấn đề rất khó khăn và thách thức rất lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao, nhưng chúng ta lại giảm lãi suất. Đấy cũng bài toán rất lớn ngành ngân hàng đặt ra cho cả bộ máy điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ

Do đó, không thể lấy bối cảnh của năm trước áp cho năm nay và dư địa để giảm lãi suất sẽ khó, chắc chắn sẽ khó, theo nhận định của TS. Châu Đình Linh.

"Diễn biến lãi suất thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào CPI, nhưng chắc chắn một điều khó giảm được, bây giờ sức ép lớn" - ông Linh nhấn mạnh. Còn Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành theo hướng linh hoạt, nhịp nhàng, thích ứng từng bối cảnh cụ thể, theo tư duy “Agile”.

Để điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ. Theo đó, điều hành tín dụng với mục tiêu tăng trưởng tương đối phù hợp, khoảng 15% trong năm nay. Bên cạnh đó, công cụ tỷ giá cũng sẽ được điều hành theo hướng ổn định.

"Một điểm rất quan trọng tạo ra nền tảng hỗ trợ vững chắc cho điều hành tín dụng, lãi suất và tỷ giá, đó là rất âm thầm, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang điều hành thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh. Mục tiêu giữ vững ổn định và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là duy trì thanh khoản vững chắc, là yêu cầu then chốt.

Đa phần hạ lãi suất kỳ hạn dài, kỳ hạn ngắn còn dè dặt

Khảo sát lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại gần 50 ngân hàng cuối tuần qua cho thấy, mặt bằng lãi suất đã có xu hướng điều chỉnh giảm sau cuộc họp ngày 9/4 giữa tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và 46 lãnh đạo ngân hàng.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng, làn sóng điều chỉnh diễn ra khá dè dặt. VIB giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,55%/năm; PublicBank giảm 0,05 điểm phần trăm, xuống 4,7%/năm… Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn mới chỉ hạ nhiệt nhẹ, ở một số ít ngân hàng. Đáng chú ý, so với cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn “neo” cao tại 41 ngân hàng. Trong đó, Sacombank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1,95 điểm phần trăm; tiếp đến là PVcomBank tăng 1,75 điểm phần trăm… và các ngân hàng này hiện cũng chưa điều chỉnh giảm kỳ hạn ngắn.

Đáng chú ý, chỉ tới kỳ hạn 24 tháng mới ghi nhận các "big 4" mới hạ mặt bằng lãi suất, đây cũng là kỳ hạn đông đảo nhà băng tham gia hạ lãi suất và đồng loạt nhất. Dù vậy, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 24 tháng vẫn duy trì ở mức cao nếu so với cuối quý III/2025 từ 0,2 - 1,8 điểm phần trăm.

Cũng cần nhấn mạnh, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu mang tính ngắn hạn, với khoảng 80% tiền gửi tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng.

Sau cuộc họp 9/4, dù mặt bằng chung giảm lãi suất, một số ngân hàng vẫn tăng để hút vốn, như MSB và WooriBank điều chỉnh tăng đồng loạt nhiều kỳ hạn, cao nhất lên tới 1,6 điểm phần trăm kỳ hạn 24 tháng tại WooriBank, lên 6,3%/năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 14,800 ▼200K 15,000 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 14,750 ▼200K 14,950 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼200K 16,000 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼200K 15,950 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼200K 15,930 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,340 ▼200K 16,040 ▼200K
Trang sức 99.99 15,350 ▼200K 16,050 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼2K 16,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼2K 16,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1445K 161 ▼1472K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1445K 1,611 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1427K 1,595 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼2277K 157,921 ▼2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼1725K 119,787 ▼1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼1564K 108,621 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▼1403K 97,455 ▼1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼1341K 93,148 ▼1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼959K 66,668 ▼959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1454K 162 ▼1476K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cập nhật: 20/05/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18227 18503 19078
CAD 18609 18886 19502
CHF 32709 33094 33742
CNY 0 3835 3927
EUR 29931 30204 31228
GBP 34483 34875 35815
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15085 15672
SGD 20047 20330 20852
THB 722 785 839
USD (1,2) 26107 0 0
USD (5,10,20) 26149 0 0
USD (50,100) 26177 26197 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,140 30,164 31,420
JPY 161.76 162.05 170.82
GBP 34,750 34,844 35,838
AUD 18,433 18,500 19,088
CAD 18,851 18,912 19,493
CHF 33,042 33,145 33,926
SGD 20,196 20,259 20,935
CNY - 3,807 3,929
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.18 16.87 18.25
THB 770.65 780.17 829.95
NZD 15,083 15,223 15,585
SEK - 2,761 2,842
DKK - 4,033 4,151
NOK - 2,794 2,876
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,217.14 - 6,976.36
TWD 754.5 - 908.74
SAR - 6,925.1 7,251.82
KWD - 83,846 88,695
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26391
AUD 18406 18506 19434
CAD 18791 18891 19905
CHF 32949 32979 34570
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30110 30140 31865
GBP 34788 34838 36607
HKD 0 3355 0
JPY 162.29 162.79 173.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20201 20331 21062
THB 0 751.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,192 26,242 26,391
USD20 26,192 26,242 26,391
USD1 26,192 26,242 26,391
AUD 18,435 18,535 19,643
EUR 30,272 30,272 31,681
CAD 18,747 18,847 20,154
SGD 20,274 20,424 21,243
JPY 162.82 164.32 168.87
GBP 34,707 35,057 36,171
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80