Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
aa

"Big 4" dẫn dắt xu hướng, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất 24 tháng

Theo ghi nhận, nhóm “Big 4” hiện chiếm khoảng 50% tổng quy mô tiền gửi của toàn hệ thống. Việc các ngân hàng này đồng loạt giảm lãi suất ở kỳ hạn dài 24 tháng được xem là tín hiệu quan trọng, có thể đóng vai trò dẫn dắt xu hướng điều chỉnh của mặt bằng lãi suất chung.

Chia sẻ gần đây, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại các cuộc họp ngày 9/4, BIDV ngay lập tức giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động; đồng thời, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay với các khoản vay trung, dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân giảm chi phí vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế.

Lãi suất dịu nhiệt nhưng không nhiều dư địa
Đồ họa: Ánh Tuyết

Xác định là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực của nền kinh tế, đại diện Agribank, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình cũng nhấn mạnh chủ trương ổn định lãi suất huy động và cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là trong giai đoạn 2026 - 2030 cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Cũng theo bà Bình, trong 3 tháng đầu năm, Agribank đã lường trước khó khăn trong huy động vốn, nhưng thực tế diễn biến nhanh và khó khăn hơn dự kiến. Tính hết quý I/2026, nguồn vốn huy động Agribank chỉ tăng 0,3%, trong đó, huy động từ dân cư tăng gần 1,5%; trong khi huy động từ tổ chức giảm 1,2%.

Vì vậy, sau thời gian dài “neo” lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ở mức 4,8%/năm, Agribank đã có hai lần điều chỉnh tăng liên tiếp trong tháng 12/2025 và tháng 3/2026, với tổng mức tăng lên tới 1,7 điểm phần trăm, đưa mặt bằng lãi suất lên vùng cao hơn.

Gần đây, thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, Agribank mạnh tay điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng, xuống còn 6%/năm.

"Lãi suất huy động 24 tháng là lãi suất tham chiếu để chúng tôi quyết định lãi suất cho vay trung dài hạn" - lãnh đạo Agribank cho biết. Lãi suất cho vay trung dài hạn của Agribank thường được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, dựa trên lãi suất tham chiếu kỳ hạn 24 tháng cộng với biên độ quy định.

Trước ý kiến cho rằng việc giảm lãi suất kỳ hạn dài có thể không tác động nhiều do người dân chủ yếu gửi tiền kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, bà Bình cho rằng, thực tế người dân vẫn có xu hướng gửi dài hạn để hưởng lãi suất cao hơn, nên việc giảm 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng vẫn có tác động đáng kể. Bên cạnh đó, các kỳ hạn ngắn hiện đã chịu mức trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, vì vậy, dư địa điều hành chủ yếu nằm ở các kỳ hạn dài.

Hồi tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại trong việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Thời điểm đó, mặt bằng lãi suất đang đi ngang và ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất hiện khó có thể giảm sâu và duy trì ở mức thấp như giai đoạn trước.

Bối cảnh thay đổi, điều hành lãi suất không còn “dễ thở”

Chia sẻ với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trước đây, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp có điều kiện thuận lợi hơn khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất, tạo dư địa cho chính sách tiền tệ trong nước. Còn hiện nay, tình hình đã đảo chiều khi xét trên bình diện quốc tế, lạm phát tại Mỹ tăng trở lại, giá năng lượng chịu áp lực lớn từ xung đột địa chính trị, cùng rủi ro khi Mỹ có thể phong tỏa eo biển Hormuz..., khiến các biến số ngày càng trở nên khó dự báo.

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đang chịu nhiều sức ép cùng lúc như: chính sách tiền tệ từ các nền kinh tế lớn, áp lực lạm phát trong nước, áp lực tỷ giá, cũng như nhu cầu tín dụng gia tăng..., chưa kể áp lực nợ xấu tiếp tục gia tăng. Tất cả các biến số này khiến bài toán điều hành trở thành một bài toán đa biến.

Giảm lãi suất chịu nhiều áp lực, thách thức

Về lãi suất, cơ quan điều hành tiếp tục nỗ lực yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Đây là vấn đề rất khó khăn và thách thức rất lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao, nhưng chúng ta lại giảm lãi suất. Đấy cũng bài toán rất lớn ngành ngân hàng đặt ra cho cả bộ máy điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ

Do đó, không thể lấy bối cảnh của năm trước áp cho năm nay và dư địa để giảm lãi suất sẽ khó, chắc chắn sẽ khó, theo nhận định của TS. Châu Đình Linh.

"Diễn biến lãi suất thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào CPI, nhưng chắc chắn một điều khó giảm được, bây giờ sức ép lớn" - ông Linh nhấn mạnh. Còn Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành theo hướng linh hoạt, nhịp nhàng, thích ứng từng bối cảnh cụ thể, theo tư duy “Agile”.

Để điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ. Theo đó, điều hành tín dụng với mục tiêu tăng trưởng tương đối phù hợp, khoảng 15% trong năm nay. Bên cạnh đó, công cụ tỷ giá cũng sẽ được điều hành theo hướng ổn định.

"Một điểm rất quan trọng tạo ra nền tảng hỗ trợ vững chắc cho điều hành tín dụng, lãi suất và tỷ giá, đó là rất âm thầm, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang điều hành thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh. Mục tiêu giữ vững ổn định và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là duy trì thanh khoản vững chắc, là yêu cầu then chốt.

Đa phần hạ lãi suất kỳ hạn dài, kỳ hạn ngắn còn dè dặt

Khảo sát lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại gần 50 ngân hàng cuối tuần qua cho thấy, mặt bằng lãi suất đã có xu hướng điều chỉnh giảm sau cuộc họp ngày 9/4 giữa tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và 46 lãnh đạo ngân hàng.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng, làn sóng điều chỉnh diễn ra khá dè dặt. VIB giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,55%/năm; PublicBank giảm 0,05 điểm phần trăm, xuống 4,7%/năm… Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn mới chỉ hạ nhiệt nhẹ, ở một số ít ngân hàng. Đáng chú ý, so với cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn “neo” cao tại 41 ngân hàng. Trong đó, Sacombank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1,95 điểm phần trăm; tiếp đến là PVcomBank tăng 1,75 điểm phần trăm… và các ngân hàng này hiện cũng chưa điều chỉnh giảm kỳ hạn ngắn.

Đáng chú ý, chỉ tới kỳ hạn 24 tháng mới ghi nhận các "big 4" mới hạ mặt bằng lãi suất, đây cũng là kỳ hạn đông đảo nhà băng tham gia hạ lãi suất và đồng loạt nhất. Dù vậy, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 24 tháng vẫn duy trì ở mức cao nếu so với cuối quý III/2025 từ 0,2 - 1,8 điểm phần trăm.

Cũng cần nhấn mạnh, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu mang tính ngắn hạn, với khoảng 80% tiền gửi tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng.

Sau cuộc họp 9/4, dù mặt bằng chung giảm lãi suất, một số ngân hàng vẫn tăng để hút vốn, như MSB và WooriBank điều chỉnh tăng đồng loạt nhiều kỳ hạn, cao nhất lên tới 1,6 điểm phần trăm kỳ hạn 24 tháng tại WooriBank, lên 6,3%/năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30