Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
aa

"Big 4" dẫn dắt xu hướng, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất 24 tháng

Theo ghi nhận, nhóm “Big 4” hiện chiếm khoảng 50% tổng quy mô tiền gửi của toàn hệ thống. Việc các ngân hàng này đồng loạt giảm lãi suất ở kỳ hạn dài 24 tháng được xem là tín hiệu quan trọng, có thể đóng vai trò dẫn dắt xu hướng điều chỉnh của mặt bằng lãi suất chung.

Chia sẻ gần đây, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại các cuộc họp ngày 9/4, BIDV ngay lập tức giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động; đồng thời, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay với các khoản vay trung, dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân giảm chi phí vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế.

Lãi suất dịu nhiệt nhưng không nhiều dư địa
Đồ họa: Ánh Tuyết

Xác định là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực của nền kinh tế, đại diện Agribank, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình cũng nhấn mạnh chủ trương ổn định lãi suất huy động và cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là trong giai đoạn 2026 - 2030 cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Cũng theo bà Bình, trong 3 tháng đầu năm, Agribank đã lường trước khó khăn trong huy động vốn, nhưng thực tế diễn biến nhanh và khó khăn hơn dự kiến. Tính hết quý I/2026, nguồn vốn huy động Agribank chỉ tăng 0,3%, trong đó, huy động từ dân cư tăng gần 1,5%; trong khi huy động từ tổ chức giảm 1,2%.

Vì vậy, sau thời gian dài “neo” lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ở mức 4,8%/năm, Agribank đã có hai lần điều chỉnh tăng liên tiếp trong tháng 12/2025 và tháng 3/2026, với tổng mức tăng lên tới 1,7 điểm phần trăm, đưa mặt bằng lãi suất lên vùng cao hơn.

Gần đây, thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, Agribank mạnh tay điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng, xuống còn 6%/năm.

"Lãi suất huy động 24 tháng là lãi suất tham chiếu để chúng tôi quyết định lãi suất cho vay trung dài hạn" - lãnh đạo Agribank cho biết. Lãi suất cho vay trung dài hạn của Agribank thường được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, dựa trên lãi suất tham chiếu kỳ hạn 24 tháng cộng với biên độ quy định.

Trước ý kiến cho rằng việc giảm lãi suất kỳ hạn dài có thể không tác động nhiều do người dân chủ yếu gửi tiền kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, bà Bình cho rằng, thực tế người dân vẫn có xu hướng gửi dài hạn để hưởng lãi suất cao hơn, nên việc giảm 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng vẫn có tác động đáng kể. Bên cạnh đó, các kỳ hạn ngắn hiện đã chịu mức trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, vì vậy, dư địa điều hành chủ yếu nằm ở các kỳ hạn dài.

Hồi tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại trong việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Thời điểm đó, mặt bằng lãi suất đang đi ngang và ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất hiện khó có thể giảm sâu và duy trì ở mức thấp như giai đoạn trước.

Bối cảnh thay đổi, điều hành lãi suất không còn “dễ thở”

Chia sẻ với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trước đây, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp có điều kiện thuận lợi hơn khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất, tạo dư địa cho chính sách tiền tệ trong nước. Còn hiện nay, tình hình đã đảo chiều khi xét trên bình diện quốc tế, lạm phát tại Mỹ tăng trở lại, giá năng lượng chịu áp lực lớn từ xung đột địa chính trị, cùng rủi ro khi Mỹ có thể phong tỏa eo biển Hormuz..., khiến các biến số ngày càng trở nên khó dự báo.

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đang chịu nhiều sức ép cùng lúc như: chính sách tiền tệ từ các nền kinh tế lớn, áp lực lạm phát trong nước, áp lực tỷ giá, cũng như nhu cầu tín dụng gia tăng..., chưa kể áp lực nợ xấu tiếp tục gia tăng. Tất cả các biến số này khiến bài toán điều hành trở thành một bài toán đa biến.

Giảm lãi suất chịu nhiều áp lực, thách thức

Về lãi suất, cơ quan điều hành tiếp tục nỗ lực yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Đây là vấn đề rất khó khăn và thách thức rất lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao, nhưng chúng ta lại giảm lãi suất. Đấy cũng bài toán rất lớn ngành ngân hàng đặt ra cho cả bộ máy điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ

Do đó, không thể lấy bối cảnh của năm trước áp cho năm nay và dư địa để giảm lãi suất sẽ khó, chắc chắn sẽ khó, theo nhận định của TS. Châu Đình Linh.

"Diễn biến lãi suất thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào CPI, nhưng chắc chắn một điều khó giảm được, bây giờ sức ép lớn" - ông Linh nhấn mạnh. Còn Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành theo hướng linh hoạt, nhịp nhàng, thích ứng từng bối cảnh cụ thể, theo tư duy “Agile”.

Để điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ. Theo đó, điều hành tín dụng với mục tiêu tăng trưởng tương đối phù hợp, khoảng 15% trong năm nay. Bên cạnh đó, công cụ tỷ giá cũng sẽ được điều hành theo hướng ổn định.

"Một điểm rất quan trọng tạo ra nền tảng hỗ trợ vững chắc cho điều hành tín dụng, lãi suất và tỷ giá, đó là rất âm thầm, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang điều hành thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh. Mục tiêu giữ vững ổn định và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là duy trì thanh khoản vững chắc, là yêu cầu then chốt.

Đa phần hạ lãi suất kỳ hạn dài, kỳ hạn ngắn còn dè dặt

Khảo sát lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại gần 50 ngân hàng cuối tuần qua cho thấy, mặt bằng lãi suất đã có xu hướng điều chỉnh giảm sau cuộc họp ngày 9/4 giữa tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và 46 lãnh đạo ngân hàng.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng, làn sóng điều chỉnh diễn ra khá dè dặt. VIB giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,55%/năm; PublicBank giảm 0,05 điểm phần trăm, xuống 4,7%/năm… Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn mới chỉ hạ nhiệt nhẹ, ở một số ít ngân hàng. Đáng chú ý, so với cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn “neo” cao tại 41 ngân hàng. Trong đó, Sacombank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1,95 điểm phần trăm; tiếp đến là PVcomBank tăng 1,75 điểm phần trăm… và các ngân hàng này hiện cũng chưa điều chỉnh giảm kỳ hạn ngắn.

Đáng chú ý, chỉ tới kỳ hạn 24 tháng mới ghi nhận các "big 4" mới hạ mặt bằng lãi suất, đây cũng là kỳ hạn đông đảo nhà băng tham gia hạ lãi suất và đồng loạt nhất. Dù vậy, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 24 tháng vẫn duy trì ở mức cao nếu so với cuối quý III/2025 từ 0,2 - 1,8 điểm phần trăm.

Cũng cần nhấn mạnh, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu mang tính ngắn hạn, với khoảng 80% tiền gửi tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng.

Sau cuộc họp 9/4, dù mặt bằng chung giảm lãi suất, một số ngân hàng vẫn tăng để hút vốn, như MSB và WooriBank điều chỉnh tăng đồng loạt nhiều kỳ hạn, cao nhất lên tới 1,6 điểm phần trăm kỳ hạn 24 tháng tại WooriBank, lên 6,3%/năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/4 đảo chiều giảm từ 200.000 đồng - 700.000 đồng, đưa giá giao dịch về ngưỡng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng.
Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

(TBTCO) - Từ kết quả thống kê của cơ quan thuế cho thấy, đa phần hộ kinh doanh đã và đang dần thích nghi với quy định mới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý đó là ở một số lĩnh vực, người bán có xu hướng ưu tiên nhận tiền mặt, thậm chí từ chối hoặc hạn chế nhận thanh toán bằng chuyển khoản. Vậy “tiền mặt có quay trở lại”, theo chuyên gia, câu trả lời là cần nhìn sâu vào dữ liệu và cấu trúc của dòng tiền trong nền kinh tế.
SHB hợp tác chiến lược với Huawei

SHB hợp tác chiến lược với Huawei

(TBTCO) - Ngày 19/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Tập đoàn Công nghệ Huawei chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hành trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện của SHB, đồng thời khẳng định vai trò chủ động, tiên phong của Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Trước “giờ G” của những thay đổi về chính sách, nhiều hộ kinh doanh không khỏi lo lắng: làm sao kịp thời tuân thủ quy định, trong khi vẫn duy trì và mở rộng kinh doanh. Thấu hiểu những trăn trở này từ quá trình đồng hành lâu dài cùng hộ kinh doanh, ACB đã triển khai gói ưu đãi đặc biệt trị giá 30 triệu đồng - không chỉ giúp hộ kinh doanh vận hành đúng, đủ theo quy định, mà còn mở ra thêm cơ hội tăng trưởng và mở rộng thị trường trong giai đoạn mới.
Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 15 - 20% lên khoảng 40.000 tỷ đồng, gia cố vị thế “big 5” lợi nhuận; duy trì tăng trưởng tín dụng khoảng 35%. Lãnh đạo MB nhấn mạnh, ngân hàng tận dụng cơ hội nhận chuyển giao MBV để bứt tốc trong 3 năm tới, đồng thời dự kiến tăng vốn điều lệ lên 102.687 tỷ đồng.
Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

(TBTCO) - Khi nhu cầu vốn gia tăng, bài toán không còn nằm ở quy mô huy động mà chuyển sang hiệu quả sử dụng và phân bổ, đòi hỏi tái cấu trúc các kênh dẫn vốn cho tăng trưởng bền vững.
Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 18/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.102 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi tỷ giá USD tự do đứng yên quanh 26.600 - 26.630 VND/USD sau khi giảm mạnh 200 đồng tuần qua. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY chốt tuần ở 98,21 điểm, tăng nhẹ phiên cuối, nhưng giảm 0,45% cả tuần, phản ánh USD dao động trong biên độ hẹp khi dòng tiền toàn cầu liên tục đảo chiều trước biến động địa chính trị và kỳ vọng chính sách.
Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng Sáng ngày 18/4, giá vàng trong nước đảo chiều tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 800.000 - 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 172 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,830 ▼20K 17,130 ▼70K
Kim TT/AVPL 16,830 ▼20K 17,130 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,830 ▼20K 17,130 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▼100K 15,850 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▼100K 15,800 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,500 ▼50K 16,900 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,450 ▼50K 16,850 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,380 ▼50K 16,830 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,290 ▼50K 16,990 ▼50K
Trang sức 99.99 16,300 ▼50K 17,000 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,683 ▼2K 17,132 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,683 ▼2K 17,133 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▲1510K 1,708 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▲1510K 1,709 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▲1492K 1,693 ▲1523K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼693K 167,624 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼525K 127,138 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼476K 115,286 ▼476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▲85037K 103,433 ▲93047K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▲80925K 98,862 ▲88935K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼292K 70,755 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Cập nhật: 20/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18306 18581 19156
CAD 18700 18978 19592
CHF 33048 33434 34074
CNY 0 3800 3870
EUR 30343 30617 31644
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3232 3434
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15174 15759
SGD 20165 20448 20974
THB 736 799 852
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26156 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,526 30,550 31,810
JPY 161.63 161.92 170.66
GBP 34,996 35,091 36,092
AUD 18,528 18,595 19,185
CAD 18,919 18,980 19,559
CHF 33,328 33,432 34,203
SGD 20,330 20,393 21,061
CNY - 3,798 3,919
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.49 17.2 18.6
THB 784.57 794.26 844.63
NZD 15,157 15,298 15,659
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,085 4,203
NOK - 2,765 2,849
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.13 - 6,997.35
TWD 756.89 - 911.29
SAR - 6,921.35 7,245.21
KWD - 83,906 88,726
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,380 30,502 31,685
GBP 34,902 35,042 36,051
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,048 33,181 34,122
JPY 161.72 162.37 169.69
AUD 18,475 18,549 19,143
SGD 20,333 20,415 20,999
THB 802 805 841
CAD 18,870 18,946 19,520
NZD 15,227 15,760
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26218 26218 26358
AUD 18495 18595 19520
CAD 18884 18984 19998
CHF 33293 33323 34902
CNY 3802.2 3827.2 3962.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30528 30558 32284
GBP 35081 35131 36889
HKD 0 3355 0
JPY 162.2 162.7 173.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15283 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20324 20454 21187
THB 0 765.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16830000 16830000 17130000
SBJ 15000000 15000000 17130000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,211 26,358
USD20 26,161 26,211 26,358
USD1 26,161 26,211 26,358
AUD 18,535 18,635 19,741
EUR 30,660 30,660 32,071
CAD 18,825 18,925 20,230
SGD 20,394 20,544 21,108
JPY 162.76 164.26 169.5
GBP 34,955 35,305 36,169
XAU 16,828,000 0 17,132,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 801 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/04/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80