Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, vì sao giá vàng rơi dốc?

(TBTCO) - Giá vàng đã giảm hơn 50 triệu đồng/lượng so với mức đỉnh thiết lập hồi đầu năm. Diễn biến này được các chuyên gia lý giải bởi nhiều yếu tố đan xen của thị trường tài chính quốc tế và những thay đổi trên thị trường vàng trong nước.
aa
Giá vàng hôm nay ngày 11/6: Giá vàng tiếp tục lao dốc hàng triệu đồng

Áp lực gia tăng sau giai đoạn tăng “nóng”

Từng tạo nên cơn sốt trên thị trường khi vượt mốc 190 triệu đồng/lượng vào khoảng giữa tháng 2 đến đầu tháng 3/2026, giá vàng trong nước hiện đã giảm hơn 50 triệu đồng/lượng so với mức đỉnh ghi nhận trước đó chưa đầy 5 tháng.

Theo khảo sát của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, đến ngày 10/6, giá vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp lớn chỉ còn quanh 138 triệu đồng/lượng. Ghi nhận lúc 8h30 ngày 11/6, giá vàng miếng SJC tiếp tục giảm về vùng 131 - 136 triệu đồng/lượng. Diễn biến này đánh dấu một trong những nhịp điều chỉnh đáng chú ý nhất của thị trường vàng trong nhiều năm trở lại đây.

Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, giá vàng đang bước vào nhịp điều chỉnh mạnh
Diễn biến giá vàng trong nước từ đầu năm đến thời điểm kết phiên ngày 10/6. Đồ hoạ: Thu Hương.

Lý giải nguyên nhân giá vàng liên tục giảm sâu trong thời gian gần đây, ông Phan Dũng Khánh - chuyên gia tài chính cho rằng, thị trường đang chịu tác động từ nhiều yếu tố đan xen. Điều đáng chú ý là nhiều yếu tố từng hỗ trợ giá vàng tăng mạnh trước đây như căng thẳng địa chính trị, áp lực lạm phát hay những bất ổn của kinh tế toàn cầu vẫn hiện hữu. Tuy nhiên, sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, giá vàng đang bước vào một nhịp điều chỉnh mới.

Trong bối cảnh lạm phát chưa hoàn toàn được kiểm soát, nhiều tổ chức dự báo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao lâu hơn so với kỳ vọng trước đây. Điều này tiếp tục tạo áp lực đối với các tài sản không sinh lợi suất như vàng.

Ông Phan Dũng Khánh -
chuyên gia tài chính

Theo ông Khánh, một trong những nguyên nhân quan trọng là giá vàng đã trải qua chu kỳ tăng mạnh trong khoảng 2 - 3 năm gần đây. Trong giai đoạn đó, kim loại quý liên tục thiết lập các mức giá cao mới và mang lại mức sinh lời đáng kể cho nhà đầu tư. Khi mặt bằng giá đã được đẩy lên mức cao, dư địa tăng tiếp theo dần thu hẹp, trong khi lượng vốn cần thiết để đưa giá vàng lên các ngưỡng mới ngày càng lớn hơn. Điều này khiến sức hấp dẫn của vàng đối với dòng tiền đầu tư không còn mạnh như giai đoạn trước.

Bên cạnh đó, diễn biến của thị trường tài chính toàn cầu cũng đang tạo áp lực lên giá vàng. Theo ông Khánh, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ vẫn duy trì ở mức cao trong thời gian qua. Trong khi vàng là tài sản không tạo ra dòng tiền hay lợi suất định kỳ, trái phiếu lại mang đến mức sinh lời tương đối ổn định cho nhà đầu tư. Do đó, khi lợi suất trái phiếu duy trì ở mức hấp dẫn, một phần dòng vốn có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản mang lại thu nhập tốt hơn, qua đó ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của vàng.

Một yếu tố khác là nhu cầu mua vàng từ các tổ chức lớn và ngân hàng trung ương vẫn được duy trì nhưng đã có dấu hiệu chậm lại so với giai đoạn trước. Dẫn số liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), ông Khánh cho biết, lực mua từ nhóm nhà đầu tư tổ chức vẫn đóng vai trò hỗ trợ thị trường, song cường độ không còn mạnh như trước đây. Điều này được cho là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến giá vàng trên thị trường quốc tế.

Cùng với đó, sự phục hồi của USD tiếp tục gây sức ép lên vàng. Đồng bạc xanh tăng giá khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ những đồng tiền khác, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu đối với kim loại quý. Ngoài ra, triển vọng chính sách tiền tệ của Mỹ vẫn là yếu tố được thị trường theo dõi sát sao.

Tác động phân hóa giữa các nhà đầu tư

Trong bối cảnh giá vàng liên tục điều chỉnh, mức độ ảnh hưởng của đợt giảm giá hiện nay đối với từng nhóm nhà đầu tư cũng nhận được nhiều sự quan tâm. Theo TS. Châu Đình Linh, để đánh giá đúng tác động của thị trường, cần phân biệt rõ mục đích nắm giữ vàng của từng nhà đầu tư.

Theo đó, có nhóm xem vàng là tài sản tích lũy, tài sản phòng vệ trong danh mục đầu tư và có nhóm tham gia thị trường với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá. Đối với nhóm đầu tư tích lũy, vàng thường chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 10 - 20% trong danh mục. Đây là nhóm sử dụng vàng như công cụ bảo toàn tài sản trong dài hạn và không đặt nặng mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn. Với chiến lược mua tích lũy theo thời gian, những biến động giảm giá hiện nay thường không tạo ra áp lực quá lớn, bởi mục tiêu chính của họ là duy trì và bảo vệ giá trị tài sản.

Trong khi đó, tác động sẽ lớn hơn đối với những nhà đầu tư có tỷ trọng vàng cao hoặc tham gia thị trường với mục tiêu đầu tư ngắn hạn dựa trên biến động giá. Theo TS. Châu Đình Linh, nhóm này đang phải đối mặt với nhiều yếu tố bất lợi cùng lúc. Những rủi ro đó không chỉ đến từ xu hướng điều chỉnh của giá vàng thế giới, mà còn từ những biến chuyển trên thị trường vàng trong nước.

Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, giá vàng đang vào nhịp điều chỉnh mạnh
Không chỉ có vàng miếng, giá vàng nhẫn cũng giảm rất mạnh từ đỉnh. Ảnh: Đức Thanh

Thời gian qua, thị trường vàng trong nước ghi nhận nhiều thay đổi đáng chú ý trong công tác quản lý. Các giải pháp tăng cường minh bạch giao dịch, đẩy mạnh thanh tra, giám sát và hoàn thiện cơ chế quản lý đang góp phần chấn chỉnh hoạt động kinh doanh vàng theo hướng minh bạch hơn. Bên cạnh đó, các định hướng liên quan đến nguồn cung vàng cũng đang được thị trường theo dõi sát sao.

Những thay đổi này không chỉ tác động đến hoạt động kinh doanh vàng, mà còn ảnh hưởng tới diễn biến giá trên thị trường. Theo vị chuyên gia, các yếu tố trên đang góp phần giúp giá vàng trong nước vận động sát hơn với xu hướng của thị trường thế giới. Nếu trước đây chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới có thời điểm lên tới 40 - 50 triệu đồng/lượng, thì hiện nay khoảng cách này đã thu hẹp đáng kể, còn khoảng 7 triệu đồng/lượng.

Nhìn chung, các chuyên gia cho rằng, đợt điều chỉnh hiện nay của giá vàng là kết quả của nhiều yếu tố tác động đồng thời, từ diễn biến của thị trường tài chính quốc tế đến những thay đổi trong môi trường thị trường trong nước. Trong bối cảnh đó, mức độ ảnh hưởng sẽ phụ thuộc vào mục tiêu nắm giữ và tỷ trọng vàng trong danh mục của từng nhà đầu tư. Với những người coi vàng là tài sản tích lũy dài hạn, biến động ngắn hạn thường không phải yếu tố quyết định. Trong khi đó, nhóm nhà đầu tư có tỷ trọng vàng lớn hoặc tham gia thị trường với mục tiêu ngắn hạn sẽ chịu tác động rõ nét hơn từ những biến động hiện nay của giá vàng.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 16:00
Ngân hàng