Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
aa

Thị trường trong nước

Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.283 đồng, tiếp đà tăng mạnh 11 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng điều chỉnh tương ứng.

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong vùng 24.018,85,4 - 26.547,15 VND/USD.

Trong khi đó, trên thị trường tự do, tỷ giá USD phổ biến khoảng 26.330 - 26.360 VND/USD, diễn biến ngược chiều thị trường chính thức khi giảm 20 đồng cả hai chiều.

Khảo sát tại các ngân hàng thương mại phiên sáng ngày 24/7 cho thấy, tỷ giá USD tiếp tục duy trì xu hướng tăng và đồng thuận tại một số ngân hàng.

Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.100 - 26.510 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng tăng 10 đồng ở cả hai chiều so với trước đó. Trong khi đó, BIDV niêm yết ở mức 26.130 - 26.510 VND/USD, cũng tăng 10 đồng ở cả giá mua vào và bán ra.

Diễn biến tỷ giá USD, EUR, GBP, JPY, CNY giao dịch tại Vietcombank, BIDV phiên sáng 24/7 như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (24/7):
Biến động tỷ giá ngoại tệ so với phiên trước đó. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Với tỷ giá GBP, tại Vietcombank, bảng Anh được niêm yết ở mức 34.150,81 - 35.600,46 VND/GBP, giảm 143,39 đồng ở giá mua vào và 149,51 đồng ở giá bán ra. Tại BIDV, tỷ giá GBP ở mức 34.433 - 35.717 VND/GBP, trong đó giá mua vào giảm 141 đồng và giá bán ra giảm 144 đồng. Đây là đồng tiền ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm ngoại tệ chủ chốt, cho thấy xu hướng suy yếu rõ nét tại cả hai ngân hàng.

Thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,29% lên 101,44 điểm và sát đỉnh 1 năm.

Theo Bloomberg, Mỹ sẽ áp dụng mức thuế nhập khẩu mới từ 10% đến 12,5% đối với hàng hóa từ hầu hết các đối tác thương mại lớn. Đây được xem là bước đi nhằm tái cấu trúc hệ thống thuế quan do Tổng thống Donald Trump xây dựng, sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ một phần cơ sở pháp lý của các biện pháp thuế trước đó.

Các mức thuế mới sẽ áp dụng đối với nhiều đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ, gồm Vương quốc Anh, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Canada, Nhật Bản và Ấn Độ... Chính sách này có hiệu lực từ thứ sáu, ngay sau khi mức thuế tạm thời 10% áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ đầu năm chính thức hết hiệu lực.

Theo Công báo Liên bang, hàng hóa từ khoảng 10 đối tác thương mại bị cho là có các hạn chế liên quan đến lao động cưỡng bức sẽ chịu thuế nhập khẩu 10%, trong đó có Mexico, Vương quốc Anh, Canada và Ấn Độ.

Đối với các đối tác khác, hàng hóa từ EU và Đài Loan (Trung Quốc) sẽ chịu mức thuế tối thiểu 10%. Trong khi đó, Nhật Bản, Thụy Sĩ và Hàn Quốc sẽ chịu mức thuế tối thiểu 12,5%, phù hợp với các thỏa thuận thương mại đã đạt được với Mỹ.

Ngoài ra, hàng hóa từ hàng chục quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, cũng sẽ bị áp mức thuế 12,5%.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ngày thứ năm quyết định giữ nguyên các mức lãi suất chủ chốt sau cuộc họp chính sách tháng 7, đúng như kỳ vọng của thị trường.

Phát biểu sau cuộc họp, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết, dù giá năng lượng vẫn biến động mạnh, nhưng hiện đã quay về gần với kịch bản cơ sở trong dự báo và vẫn cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước khi xung đột tại Trung Đông bùng phát.

Tuy nhiên, Chủ tịch ECB nhấn mạnh mức độ bất định vẫn rất lớn và tác động đầy đủ của cú sốc giá năng lượng đối với lạm phát vẫn chưa phản ánh hết.

Với quyết định giữ nguyên lãi suất lần này, ECB đang ở vị thế thuận lợi để ứng phó với những bất ổn do xung đột địa chính trị gây ra. ECB cũng tái khẳng định sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo cách tiếp cận phụ thuộc vào dữ liệu và đánh giá ở từng cuộc họp, thay vì cam kết trước về lộ trình lãi suất./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 130 USD/ounce, vượt mốc 4.000 USD, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi lên.
Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 166/2026/TT-BTC bãi bỏ một số thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tài chính liên tịch ban hành liên quan đến lĩnh vực tài chính. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/12/2026.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
Trang sức 99.9 13,580 ▲220K 14,180 ▲220K
Trang sức 99.99 13,590 ▲220K 14,190 ▲220K
Vàng 99.9 12,850 ▲200K
Vàng 99.99 13,000 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 ▼1254K 14,302 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 ▼1254K 14,303 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,383 ▲18K 1,423 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,383 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,363 ▲18K 1,413 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,901 ▲1782K 139,901 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,336 ▲1351K 106,136 ▲1351K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,444 ▲1225K 96,244 ▲1225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,552 ▲1098K 86,352 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,736 ▲1049K 82,536 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,278 ▲751K 59,078 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1254K 143 ▼1281K
Cập nhật: 05/11/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17757 18332
CAD 17877 18151 18767
CHF 30892 31269 31910
CNY 0 3806 3901
EUR 28288 28505 29582
GBP 33836 34226 35169
HKD 0 3141 3343
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14188 14775
SGD 19580 19861 20427
THB 684 747 800
USD (1,2) 25408 0 0
USD (5,10,20) 25445 0 0
USD (50,100) 25473 25486 25851
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,493 25,493 25,873
USD(1-2-5) 24,474 - -
USD(10-20) 24,474 - -
EUR 28,341 28,364 29,716
JPY 158.13 158.42 168.05
GBP 34,017 34,109 35,306
AUD 17,687 17,751 18,427
CAD 18,062 18,120 18,793
CHF 31,147 31,244 32,174
SGD 19,694 19,755 20,536
CNY - 3,776 3,921
HKD 3,207 3,217 3,353
KRW 17.61 18.37 19.99
THB 731.74 740.78 792.83
NZD 14,205 14,337 14,770
SEK - 2,602 2,695
DKK - 3,802 3,937
NOK - 2,715 2,816
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,931.13 - 6,695.84
TWD 704.04 - 853.09
SAR - 6,724.01 7,084.69
KWD - 81,173 86,390
AED - 6,739 7,263
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,480 25,510 25,890
EUR 28,309 28,451 29,679
GBP 34,006 34,177 35,214
HKD 3,202 3,221 3,339
CHF 30,948 31,104 32,052
JPY 157.75 159.34 167.32
AUD 17,649 17,773 18,369
SGD 19,663 19,842 20,439
THB 736 751 788
CAD 18,019 18,146 18,744
NZD 14,227 14,780
KRW 18.54 20.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25500 25500 25860
AUD 17665 17765 18690
CAD 18048 18148 19162
CHF 31132 31162 32736
CNY 3789.6 3814.6 3950
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28448 28478 30203
GBP 34127 34177 35935
HKD 0 3300 0
JPY 159.09 159.59 170.11
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14296 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19730 19860 20583
THB 0 712.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,390 25,510 25,850
USD20 25,360 25,510 25,850
USD1 25,340 25,510 25,850
AUD 17,602 17,752 18,917
EUR 28,276 28,376 30,032
CAD 18,009 18,109 19,415
SGD 19,824 19,974 20,528
JPY 159.66 161.16 166.69
GBP 34,050 34,200 35,530
XAU 14,088,000 0 14,392,000
CNY 0 3,770 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30