Lãi suất đầu vào tăng cao:

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
aa

Đẩy mạnh huy động ngoài tiền gửi

Trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn thị trường 1 (từ dân cư và tổ chức kinh tế) ngày càng cạnh tranh, nhiều ngân hàng triển khai các chương trình lãi suất ưu đãi dưới nhiều hình thức, song tốc độ tăng huy động vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng tín dụng. Để bổ sung nguồn vốn, bảo đảm thanh khoản và đáp ứng nhu cầu cho vay, nhiều nhà băng đẩy mạnh huy động qua nhiều kênh như: vay trên thị trường liên ngân hàng, vay vốn quốc tế, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu...

Báo cáo tài chính do VPBank mới công bố cho thấy, tiền gửi khách hàng tiếp tục là nguồn vốn chủ lực, đạt 732.887 tỷ đồng, tăng mạnh 16,7% so với cuối năm 2025. Động lực tăng trưởng đến từ tiền gửi tiết kiệm và có kỳ hạn, tăng 19% lên 639.422 tỷ đồng, trong khi tiền gửi không kỳ hạn giảm nhẹ.

Áp lực đè nặng, ngân hàng
Đồ họa tư liệu

Đáng chú ý, VPBank đẩy mạnh huy động qua phát hành giấy tờ có giá với quy mô 168.944 tỷ đồng, tăng 57,7% so với đầu năm; trong đó, chứng chỉ tiền gửi tăng gấp đôi lên 127.773 tỷ đồng. Dù dư nợ kỳ phiếu và trái phiếu giảm nhẹ còn 41.171 tỷ đồng, VPBank vẫn lên kế hoạch phát hành riêng lẻ tối đa 30.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm nay, qua đó nâng dư nợ trái phiếu lên khoảng 73.658 tỷ đồng - mức cao nhất trong nhiều năm.

Ngoài ra, số tiền vay các tổ chức tín dụng khác tăng 28,6% lên 198.560 tỷ đồng. Bên cạnh nguồn vốn trong nước, cuối tháng 6, ngân hàng VPBank mở rộng kênh huy động vốn quốc tế khi cùng 15 định chế tài chính nước ngoài ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD (khoảng 37.900 tỷ đồng).

Lãnh đạo VPBank từng chia sẻ, ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng huy động tới 40% năm nay, tương đương bổ sung hơn 300.000 tỷ đồng nguồn vốn mỗi năm - quy mô tương đương tổng huy động của một ngân hàng cỡ trung bình. Đây là mục tiêu rất thách thức đối với bất kỳ ngân hàng nào.

Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, VPBank đang triển khai chiến lược đa dạng hóa nguồn vốn, không chỉ dựa vào tiền gửi khách hàng mà còn mở rộng các kênh huy động khác. Với mục tiêu tăng trưởng cao, ngân hàng chấp nhận duy trì chi phí vốn ở mức cao hơn để đảm bảo đủ nguồn lực tài chính phục vụ hoạt động kinh doanh và mở rộng tín dụng.

Ở mảng huy động vốn, tiền gửi khách hàng của Techcombank đạt 697,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm. Cơ cấu huy động có sự dịch chuyển khi khách hàng cá nhân gia tăng tiền gửi có kỳ hạn, trong khi tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của khách hàng doanh nghiệp tăng tích cực.

Thông tin từ LPBank cho thấy, cùng với việc mở rộng quy mô hoạt động, ngân hàng duy trì đà huy động vốn tích cực. Trong khi tiền gửi khách hàng đạt 353.513 tỷ đồng, tăng 4,7% so với đầu năm, thì phát hành giấy tờ có giá đạt 78.968 tỷ đồng, tăng 23,2%, góp phần đa dạng hóa nguồn vốn, củng cố thanh khoản và tạo dư địa mở rộng tín dụng.

Dự địa hạ lãi suất hạn chế?

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, áp lực thanh khoản là một trong những vấn đề lớn, khi nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tín dụng ở mức cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi không theo kịp, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa huy động và cho vay.

“Khoảng chênh lệch này buộc các ngân hàng phải gia tăng phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đồng thời khiến chi phí vốn tăng lên, qua đó, tạo sức ép thu hẹp biên lãi ròng (NIM)” - TS. Châu Đình Linh đánh giá.

Đa dạng hóa nguồn vốn khi huy động không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay

TS. Cấn Văn Lực cho rằng, ước tính hết tháng 6, tín dụng tăng 7,7% nhưng huy động vốn tăng 5%, hiện nay lệch nhau 1,7 triệu tỷ đồng. Hệ thống ngân hàng làm sao giảm lãi suất được trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế và nhu cầu huy động vốn đều rất lớn. Ngân hàng không đủ tiền để cho vay khi huy động vốn chỉ ở mức như vậy, vì thế, chúng ta phải đa dạng hóa các nguồn vốn khác nhau.

Để chủ động nguồn vốn, các ngân hàng tăng cường huy động từ khu vực dân cư, thông qua việc nâng lãi suất tiền gửi hoặc đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi.

Một tín hiệu đáng chú ý khác là tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tại nhiều ngân hàng đang suy giảm, phản ánh dòng tiền có xu hướng dịch chuyển sang các kênh có lợi suất cao hơn. Ngay cả chi phí huy động CASA cũng không hề rẻ, do các ngân hàng chạy đua nhiều chương trình sinh lời tự động, để “giữ chân” dòng tiền của khách hàng.

Dự báo diễn biến lãi suất những tháng cuối năm, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia - nhiều lần nhấn mạnh từ khóa 'ổn định' và cho rằng mặt bằng lãi suất huy động và cho vay nhiều khả năng sẽ được duy trì, bởi dư địa để tiếp tục giảm lãi suất trong bối cảnh hiện nay rất hạn chế.

TS. Cấn Văn Lực chỉ rõ, thứ nhất, lạm phát và kỳ vọng lạm phát đều có xu hướng tăng, khiến áp lực lên lãi suất lớn hơn. Thứ hai, các kênh đầu tư khác vẫn có sức hấp dẫn, nếu các ngân hàng hạ lãi suất huy động, dòng tiền có thể dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác. Thứ ba, nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

(TBTCO) - Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, Luật Bảo bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 (Luật BHTG năm 2025) có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, điều chỉnh thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, rút ngắn thời hạn chi trả và quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục. Những thay đổi này tạo cơ sở để người gửi tiền được tiếp cận khoản tiền bảo hiểm sớm hơn. Dưới đây là những nội dung người gửi tiền cần lưu ý.
Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm Agribank (ABIC) lãi trước thuế 333,2 tỷ đồng, tăng 33%, hoàn thành 95,2% kế hoạch năm. Động lực đến từ kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài chính, với danh mục đầu tư ngắn hạn hơn 3.800 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng. ABIC đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

(TBTCO) - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đối tác công nghệ Fermion Merimen tổ chức Lễ ký kết triển khai Hệ thống chiết khấu không khiếu nại (NCD), với sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Sự kiện đánh dấu bước tiến trong hợp tác xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá rủi ro, định phí và phục vụ khách hàng.
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Các quy định mới về phòng, chống rửa tiền đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp bảo hiểm trong việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi, nhận biết khách hàng, kiểm soát giao dịch... Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro, bảo vệ quyền lợi khách hàng, mà còn góp phần củng cố niềm tin vào thị trường bảo hiểm.
Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam lần thứ 9 – Vietnam Digital Awards 2026, hạng mục Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp Lumi – AI Customer Experience Platform (Lumi). Giải thưởng ghi nhận hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm mang lại trải nghiệm chăm sóc khách hàng vượt trội, nhanh chóng và thuận tiện.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Trang sức 99.9 13,430 ▲50K 14,030 ▲50K
Trang sức 99.99 13,440 ▲50K 14,040 ▲50K
Vàng 99.9 12,980 ▲80K
Vàng 99.99 13,150 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▲1258K 14,272 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▲1258K 14,273 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 136 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 136 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▲1K 139 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲990K 137,624 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▲75K 10,441 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲680K 94,679 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲610K 84,948 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲583K 81,195 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲417K 58,119 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cập nhật: 28/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17642 17915 18495
CAD 17842 18116 18733
CHF 30495 30871 31518
CNY 0 3833 3928
EUR 28122 28338 29412
GBP 33569 33958 34900
HKD 0 3163 3365
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14184 14775
SGD 19622 19903 20468
THB 679 743 795
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,171 28,194 29,535
JPY 159.11 159.4 169.05
GBP 33,750 33,841 35,009
AUD 17,834 17,898 18,576
CAD 18,031 18,089 18,756
CHF 30,742 30,838 31,761
SGD 19,737 19,798 20,577
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.8 18.56 20.2
THB 727.98 736.97 789.16
NZD 14,176 14,308 14,737
SEK - 2,550 2,643
DKK - 3,779 3,913
NOK - 2,722 2,818
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.71 - 6,672.12
TWD 719.51 - 871.78
SAR - 6,766.5 7,128.82
KWD - 81,593 86,830
AED - 6,781 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,610 25,640 26,020
EUR 28,137 28,278 29,505
GBP 33,705 33,874 34,906
HKD 3,219 3,238 3,356
CHF 30,584 30,738 31,682
JPY 158.73 160.33 168.31
AUD 17,787 17,912 18,510
SGD 19,702 19,881 20,477
THB 733 748 785
CAD 17,987 18,114 18,712
NZD 14,231 14,785
KRW 18.70 20.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26020
AUD 17842 17942 18873
CAD 18032 18132 19146
CHF 30748 30778 32359
CNY 3814.8 3839.8 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28288 28318 30040
GBP 33864 33914 35682
HKD 0 3300 0
JPY 160.14 160.64 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14463 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19781 19911 20632
THB 0 709.1 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,549 25,669 25,970
USD20 25,519 25,669 25,970
USD1 25,499 25,669 25,970
AUD 17,757 17,907 19,086
EUR 28,088 28,188 29,630
CAD 17,975 18,075 19,384
SGD 19,857 20,007 20,564
JPY 160.56 162.06 167.63
GBP 33,763 33,913 34,991
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30