Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
aa

Nhận định về chặng đường vừa qua, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, kết quả đạt được phản ánh rõ nét đà tăng trưởng bền vững của các hoạt động cốt lõi, định hướng đa dạng hóa nguồn thu nhập, cùng cách tiếp cận kỷ luật trong triển khai chiến lược và quản lý chi phí.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, được hỗ trợ bởi sức mạnh vượt trội trong lĩnh vực ngân hàng giao dịch và thẻ, sự mở rộng nhanh chóng của hoạt động bảo hiểm, cũng như việc phát triển các sản phẩm phí mới. Đồng thời, Techcombank tiếp tục tập trung khai thác sức mạnh của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu như những năng lực chiến lược cốt lõi, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành và năng suất lao động khi mở rộng ứng dụng trên toàn hệ thống.

“Chúng tôi đã xây dựng được một nền tảng hoạt động vững chắc có thể đáp ứng tốt khi quy mô kinh doanh mở rộng, giúp Techcombank trở thành trung tâm của hệ sinh thái tài chính toàn diện được hỗ trợ bởi cơ sở dữ liệu. Việc được FinanceAsia vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” năm thứ tư liên tiếp là sự ghi nhận khách quan cho những thành tựu mà chúng tôi đã đạt được. Bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, Techcombank đang ở một vị thế thuận lợi để tiếp tục đóng vai trò tiên phong...” - Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Bức tranh tài chính bứt phá và động lực tăng trưởng đa chiều

Sáu tháng đầu năm 2026 chứng kiến sự khởi sắc toàn diện trên các phương diện kinh doanh của Techcombank, với tổng thu nhập hoạt động lên mức 28,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ.

Đóng vai trò nền tảng vững chắc, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt 20,3 ngàn tỷ đồng, tương đương mức tăng 16,3%. Biên lãi thuần theo quý tiếp tục xu hướng cải thiện tích cực, tăng lên 3,4% trong quý II. Động lực của sự gia tăng này đến từ việc điều chỉnh lãi suất cũng như tối ưu hóa danh mục tín dụng vào các tài sản có tỷ suất sinh lời cao.

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều
Khách hàng giao dịch tại quầy của Techcombank

Điểm sáng nhất trong nửa đầu năm thuộc về thu nhập từ hoạt động dịch vụ khi chạm mốc 7,6 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 37,6%. Đáng chú ý, chỉ riêng trong quý II, mảng dịch vụ đã lập kỷ lục mới với 4,2 nghìn tỷ đồng. Sự bứt phá này hội tụ từ nhiều trụ cột kinh doanh quan trọng. Trong đó, nguồn thu từ thư tín dụng, tiền mặt và thanh toán dẫn đầu đà tăng với tốc độ bứt phá ngoạn mục 152,4%, mang về 3,3 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026.

Lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm cũng ghi nhận thành tích ấn tượng với mức tăng 122%, đạt 1 nghìn tỷ đồng nhờ việc triển khai toàn diện hoạt động của Công ty bảo hiểm nhân thọ Techcom Life, qua đó khẳng định vững chắc “ngôi vương” của ngân hàng trên thị trường phân phối bảo hiểm qua kênh ngân hàng (bancassurance).

Đồng thời, các mảng dịch vụ thẻ và ngoại hối tiếp tục duy trì nguồn thu ổn định với mức tăng trưởng trên 21%. Mảng dịch vụ ngân hàng đầu tư (IB) dù có giảm so với mức nền rất cao của năm trước, nhưng đã cho thấy tín hiệu phục hồi mạnh trong quý II với mức tăng gần 83% so với quý liền trước nhờ sự sôi động của hoạt động phân phối và tư vấn phát hành trái phiếu.

Song song với việc mở rộng kinh doanh, Techcombank tiếp tục thể hiện sự kỷ luật và tính hiệu quả trong quản trị vận hành. Chi phí hoạt động trong nửa đầu năm ở mức 8,49 nghìn tỷ đồng, thể hiện cam kết đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Dù liên tục rót vốn cho các động lực tăng trưởng dài hạn, Techcombank vẫn duy trì tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) ở mức lý tưởng 30,9% trong quý II. Cùng với đó, chi phí dự phòng rủi ro giảm 24,6% xuống còn 1,59 nghìn tỷ đồng, minh chứng khả năng cân bằng hiệu quả giữa mục tiêu mở rộng kinh doanh và quản trị rủi ro.

Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II đóng vai trò tâm điểm bứt phá khi thiết lập đỉnh lợi nhuận mới với 9,67 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so cùng kỳ.

Chất lượng tài sản dẫn đầu

Tính đến ngày 30/6/2026, quy mô tổng tài sản của Techcombank tiếp tục mở rộng, đạt mức 1,27 triệu tỷ đồng. Ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng trên cơ sở riêng lẻ (bao gồm các khoản cho vay dự án hạ tầng và nhà ở xã hội được loại trừ khỏi hạn mức tín dụng) tăng 14,3% so với đầu năm. Loại trừ các khoản cho vay ngoài hạn mức, tăng trưởng tín dụng ngân hàng riêng lẻ vẫn duy trì ở mức 11,6%, phản ánh nhu cầu tín dụng mạnh mẽ từ khách hàng.

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều
Tòa nhà văn phòng Techcombank

Dòng vốn được định hướng phân bổ một cách đa dạng và cân bằng giữa các phân khúc. Dư nợ tín dụng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 407 nghìn tỷ đồng, bứt phá mạnh mẽ ở mảng cho vay tín chấp, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Trong khi đó, tín dụng doanh nghiệp đạt 542,4 nghìn tỷ đồng, tập trung nguồn lực tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm, cùng các lĩnh vực thiết yếu như hàng tiêu dùng nhanh, bán lẻ, logistics, tiện ích, giải trí và du lịch.

Ở mảng huy động vốn, tổng tiền gửi của khách hàng ghi nhận mức tăng 4,8% so với đầu năm, đạt 697,4 nghìn tỷ đồng. Lợi thế cạnh tranh của Techcombank là dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tiếp tục được duy trì vững vàng, chiếm tỷ trọng 38,3% tổng tiền gửi với số dư lên tới 267 nghìn tỷ đồng. Mặc dù có sự dịch chuyển nhẹ ở nhóm khách hàng cá nhân sang tiền gửi có kỳ hạn, dòng vốn CASA từ khách hàng doanh nghiệp lại tăng trưởng tích cực 23% so với đầu năm, phản ánh sự thành công trong việc triển khai các nền tảng giao dịch số hóa tiện ích cho doanh nghiệp.

Sự vững mạnh của bảng cân đối kế toán còn được củng cố bởi các chỉ số an toàn và thanh khoản nằm trong vùng tối ưu. Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) được kiểm soát chặt chẽ ở mức 80,1%, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức 27,8%, tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Mặc dù vừa hoàn tất chi trả gần 5 nghìn tỷ đồng cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông, Techcombank vẫn sở hữu tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn Basel II lên tới 15%, nằm trong nhóm cao nhất thị trường. Nền tảng quản trị rủi ro tiếp tục được khẳng định qua việc duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp 1,15%, cùng bộ đệm dự phòng vững chắc với tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên đến 125,5%.

Chiến lược chuyển đổi số thành công và sự ghi nhận từ cộng đồng quốc tế

Động lực từ công nghệ và dữ liệu đã mang lại cho Techcombank khả năng tiếp cận và gắn kết khách hàng vượt trội. Kết thúc 6 tháng đầu năm, quy mô tệp khách hàng của Techcombank đạt khoảng 18,2 triệu. Hiệu quả của chiến lược chuyển đổi số được minh chứng khi có tới 66,3% lượng khách hàng mới gia nhập hệ thống thông qua kênh số.

Không dừng lại ở việc mở rộng quy mô, mức độ tương tác số cũng ghi nhận sự bùng nổ với 2,8 tỷ giao dịch qua các kênh ngân hàng điện tử bán lẻ, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Thành tích này giúp Techcombank duy trì vững chắc vị thế dẫn đầu thị trường về thị phần giao dịch đến và đi, với tỷ trọng lần lượt là 16,9% và 15,8%.

Khả năng sinh lời bền vững kết hợp cùng nền tảng tài chính vững mạnh đã tạo điều kiện để Techcombank thực hiện cam kết tối đa hóa giá trị cho nhà đầu tư. Vào ngày 10/6/2026, Techcombank đã hoàn thành việc chi trả gần 5 nghìn tỷ đồng cổ tức tiền mặt cho cổ đông với tỷ lệ 7%. Đây là năm thứ 3 liên tiếp chính sách chia cổ tức bằng tiền mặt được triển khai, khẳng định tiềm lực tài chính dồi dào và cam kế của ban lãnh đạo đối với lợi ích của cổ đông.

Sự giao thoa giữa tăng trưởng lợi nhuận, chất lượng tài sản và năng lực số hóa đã mang về cho Techcombank hàng loạt giải thưởng danh giá. Nổi bật nhất trong quý II/2026 là giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí FinanceAsia trao tặng trong năm thứ 4 liên tiếp, ghi nhận năng lực ứng dụng dữ liệu, AI và những trải nghiệm xuất sắc hướng đến khách hàng.

Bên cạnh đó, danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” từ Euromoney một lần nữa khẳng định tầm vóc của Techcombank trong mảng quản lý gia sản cao cấp. Mới đây, Euromoney đã tiếp tục vinh danh Techcombank với giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2026”. Cùng với hàng loạt giải thưởng uy tín khác về ngân hàng bán lẻ, nâng cao năng lực nhân viên và sáng kiến AI cấp khu vực, Techcombank đang cho thấy vị thế dẫn dắt không thể phủ nhận trong việc định hình một hệ sinh thái tài chính hiện đại, toàn diện và bền vững tại Việt Nam.

Techcombank là một trong những doanh nghiệp quốc gia có quy mô lớn nhất Việt Nam với tầm nhìn “Chuyển đổi ngành tài chính, nâng tầm giá trị sống” và cũng thuộc nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực châu Á.

Theo đuổi chiến lược khách hàng là trọng tâm, Techcombank đang cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân hàng đa dạng cho khoảng 18,2 triệu khách hàng, bao gồm khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp thông qua mạng lưới điểm giao dịch trải dài khắp Việt Nam cũng như dịch vụ ngân hàng số dẫn đầu thị trường. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, hợp tác đối tác trong nhiều lĩnh vực kinh tế chủ chốt giúp tạo nên sự khác biệt cho Techcombank tại một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.

Techcombank hiện được xếp hạng Ba3 bởi Moody’s, BB bởi S&P và BB- bởi Fitch, nằm trong nhóm những ngân hàng thương mại cổ phần được xếp hạng tín nhiệm cao nhất tại Việt Nam. 

Thúy Ngân

Đọc thêm

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼137000K -142,000 ▼142000K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲13650K 14,150 ▲14150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲13580K 14,130 ▲14130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.99 13,000 ▲120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲70K
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1291K 14,642 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1291K 14,643 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▲4K 1,454 ▲1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▲4K 1,455 ▲4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▲4K 1,434 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼121086K 14,198 ▼127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▲300K 107,711 ▲300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▲86996K 97,672 ▲96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲244K 87,633 ▲244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▲234K 83,761 ▲234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▲167K 59,954 ▲167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cập nhật: 21/07/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17943 18217 18793
CAD 18189 18465 19084
CHF 31845 32226 32875
CNY 0 3850 3943
EUR 29431 29651 30735
GBP 34513 34905 35846
HKD 0 3226 3429
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15101 15686
SGD 19866 20148 20718
THB 697 761 814
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26507
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,558 29,582 30,990
JPY 157.49 157.77 167.27
GBP 34,753 34,847 36,049
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,367 18,426 19,105
CHF 32,119 32,219 33,166
SGD 19,983 20,045 20,836
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.45 17.16 18.66
THB 746.45 755.67 808.97
NZD 15,085 15,225 15,677
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,682 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.91 - 6,791.83
TWD 735.79 - 891.27
SAR - 6,890.37 7,257.18
KWD - 83,228 88,546
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18138 18238 19161
CAD 18377 18477 19489
CHF 32100 32130 33708
CNY 3830.8 3855.8 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29621 29651 31374
GBP 34844 34894 36649
HKD 0 3355 0
JPY 158.31 158.81 169.33
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15226 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20025 20155 20883
THB 0 727.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,510
USD20 26,146 26,196 26,510
USD1 26,146 26,196 26,510
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,406 29,506 31,164
CAD 18,308 18,408 19,714
SGD 20,095 20,245 20,810
JPY 158.75 160.25 165.78
GBP 34,745 34,895 35,957
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80