Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
aa

Nhận định về chặng đường vừa qua, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, kết quả đạt được phản ánh rõ nét đà tăng trưởng bền vững của các hoạt động cốt lõi, định hướng đa dạng hóa nguồn thu nhập, cùng cách tiếp cận kỷ luật trong triển khai chiến lược và quản lý chi phí.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, được hỗ trợ bởi sức mạnh vượt trội trong lĩnh vực ngân hàng giao dịch và thẻ, sự mở rộng nhanh chóng của hoạt động bảo hiểm, cũng như việc phát triển các sản phẩm phí mới. Đồng thời, Techcombank tiếp tục tập trung khai thác sức mạnh của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu như những năng lực chiến lược cốt lõi, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành và năng suất lao động khi mở rộng ứng dụng trên toàn hệ thống.

“Chúng tôi đã xây dựng được một nền tảng hoạt động vững chắc có thể đáp ứng tốt khi quy mô kinh doanh mở rộng, giúp Techcombank trở thành trung tâm của hệ sinh thái tài chính toàn diện được hỗ trợ bởi cơ sở dữ liệu. Việc được FinanceAsia vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” năm thứ tư liên tiếp là sự ghi nhận khách quan cho những thành tựu mà chúng tôi đã đạt được. Bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, Techcombank đang ở một vị thế thuận lợi để tiếp tục đóng vai trò tiên phong...” - Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Bức tranh tài chính bứt phá và động lực tăng trưởng đa chiều

Sáu tháng đầu năm 2026 chứng kiến sự khởi sắc toàn diện trên các phương diện kinh doanh của Techcombank, với tổng thu nhập hoạt động lên mức 28,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ.

Đóng vai trò nền tảng vững chắc, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt 20,3 ngàn tỷ đồng, tương đương mức tăng 16,3%. Biên lãi thuần theo quý tiếp tục xu hướng cải thiện tích cực, tăng lên 3,4% trong quý II. Động lực của sự gia tăng này đến từ việc điều chỉnh lãi suất cũng như tối ưu hóa danh mục tín dụng vào các tài sản có tỷ suất sinh lời cao.

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều
Khách hàng giao dịch tại quầy của Techcombank

Điểm sáng nhất trong nửa đầu năm thuộc về thu nhập từ hoạt động dịch vụ khi chạm mốc 7,6 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 37,6%. Đáng chú ý, chỉ riêng trong quý II, mảng dịch vụ đã lập kỷ lục mới với 4,2 nghìn tỷ đồng. Sự bứt phá này hội tụ từ nhiều trụ cột kinh doanh quan trọng. Trong đó, nguồn thu từ thư tín dụng, tiền mặt và thanh toán dẫn đầu đà tăng với tốc độ bứt phá ngoạn mục 152,4%, mang về 3,3 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026.

Lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm cũng ghi nhận thành tích ấn tượng với mức tăng 122%, đạt 1 nghìn tỷ đồng nhờ việc triển khai toàn diện hoạt động của Công ty bảo hiểm nhân thọ Techcom Life, qua đó khẳng định vững chắc “ngôi vương” của ngân hàng trên thị trường phân phối bảo hiểm qua kênh ngân hàng (bancassurance).

Đồng thời, các mảng dịch vụ thẻ và ngoại hối tiếp tục duy trì nguồn thu ổn định với mức tăng trưởng trên 21%. Mảng dịch vụ ngân hàng đầu tư (IB) dù có giảm so với mức nền rất cao của năm trước, nhưng đã cho thấy tín hiệu phục hồi mạnh trong quý II với mức tăng gần 83% so với quý liền trước nhờ sự sôi động của hoạt động phân phối và tư vấn phát hành trái phiếu.

Song song với việc mở rộng kinh doanh, Techcombank tiếp tục thể hiện sự kỷ luật và tính hiệu quả trong quản trị vận hành. Chi phí hoạt động trong nửa đầu năm ở mức 8,49 nghìn tỷ đồng, thể hiện cam kết đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Dù liên tục rót vốn cho các động lực tăng trưởng dài hạn, Techcombank vẫn duy trì tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) ở mức lý tưởng 30,9% trong quý II. Cùng với đó, chi phí dự phòng rủi ro giảm 24,6% xuống còn 1,59 nghìn tỷ đồng, minh chứng khả năng cân bằng hiệu quả giữa mục tiêu mở rộng kinh doanh và quản trị rủi ro.

Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II đóng vai trò tâm điểm bứt phá khi thiết lập đỉnh lợi nhuận mới với 9,67 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so cùng kỳ.

Chất lượng tài sản dẫn đầu

Tính đến ngày 30/6/2026, quy mô tổng tài sản của Techcombank tiếp tục mở rộng, đạt mức 1,27 triệu tỷ đồng. Ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng trên cơ sở riêng lẻ (bao gồm các khoản cho vay dự án hạ tầng và nhà ở xã hội được loại trừ khỏi hạn mức tín dụng) tăng 14,3% so với đầu năm. Loại trừ các khoản cho vay ngoài hạn mức, tăng trưởng tín dụng ngân hàng riêng lẻ vẫn duy trì ở mức 11,6%, phản ánh nhu cầu tín dụng mạnh mẽ từ khách hàng.

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều
Tòa nhà văn phòng Techcombank

Dòng vốn được định hướng phân bổ một cách đa dạng và cân bằng giữa các phân khúc. Dư nợ tín dụng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 407 nghìn tỷ đồng, bứt phá mạnh mẽ ở mảng cho vay tín chấp, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Trong khi đó, tín dụng doanh nghiệp đạt 542,4 nghìn tỷ đồng, tập trung nguồn lực tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm, cùng các lĩnh vực thiết yếu như hàng tiêu dùng nhanh, bán lẻ, logistics, tiện ích, giải trí và du lịch.

Ở mảng huy động vốn, tổng tiền gửi của khách hàng ghi nhận mức tăng 4,8% so với đầu năm, đạt 697,4 nghìn tỷ đồng. Lợi thế cạnh tranh của Techcombank là dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tiếp tục được duy trì vững vàng, chiếm tỷ trọng 38,3% tổng tiền gửi với số dư lên tới 267 nghìn tỷ đồng. Mặc dù có sự dịch chuyển nhẹ ở nhóm khách hàng cá nhân sang tiền gửi có kỳ hạn, dòng vốn CASA từ khách hàng doanh nghiệp lại tăng trưởng tích cực 23% so với đầu năm, phản ánh sự thành công trong việc triển khai các nền tảng giao dịch số hóa tiện ích cho doanh nghiệp.

Sự vững mạnh của bảng cân đối kế toán còn được củng cố bởi các chỉ số an toàn và thanh khoản nằm trong vùng tối ưu. Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) được kiểm soát chặt chẽ ở mức 80,1%, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức 27,8%, tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Mặc dù vừa hoàn tất chi trả gần 5 nghìn tỷ đồng cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông, Techcombank vẫn sở hữu tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn Basel II lên tới 15%, nằm trong nhóm cao nhất thị trường. Nền tảng quản trị rủi ro tiếp tục được khẳng định qua việc duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp 1,15%, cùng bộ đệm dự phòng vững chắc với tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên đến 125,5%.

Chiến lược chuyển đổi số thành công và sự ghi nhận từ cộng đồng quốc tế

Động lực từ công nghệ và dữ liệu đã mang lại cho Techcombank khả năng tiếp cận và gắn kết khách hàng vượt trội. Kết thúc 6 tháng đầu năm, quy mô tệp khách hàng của Techcombank đạt khoảng 18,2 triệu. Hiệu quả của chiến lược chuyển đổi số được minh chứng khi có tới 66,3% lượng khách hàng mới gia nhập hệ thống thông qua kênh số.

Không dừng lại ở việc mở rộng quy mô, mức độ tương tác số cũng ghi nhận sự bùng nổ với 2,8 tỷ giao dịch qua các kênh ngân hàng điện tử bán lẻ, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Thành tích này giúp Techcombank duy trì vững chắc vị thế dẫn đầu thị trường về thị phần giao dịch đến và đi, với tỷ trọng lần lượt là 16,9% và 15,8%.

Khả năng sinh lời bền vững kết hợp cùng nền tảng tài chính vững mạnh đã tạo điều kiện để Techcombank thực hiện cam kết tối đa hóa giá trị cho nhà đầu tư. Vào ngày 10/6/2026, Techcombank đã hoàn thành việc chi trả gần 5 nghìn tỷ đồng cổ tức tiền mặt cho cổ đông với tỷ lệ 7%. Đây là năm thứ 3 liên tiếp chính sách chia cổ tức bằng tiền mặt được triển khai, khẳng định tiềm lực tài chính dồi dào và cam kế của ban lãnh đạo đối với lợi ích của cổ đông.

Sự giao thoa giữa tăng trưởng lợi nhuận, chất lượng tài sản và năng lực số hóa đã mang về cho Techcombank hàng loạt giải thưởng danh giá. Nổi bật nhất trong quý II/2026 là giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí FinanceAsia trao tặng trong năm thứ 4 liên tiếp, ghi nhận năng lực ứng dụng dữ liệu, AI và những trải nghiệm xuất sắc hướng đến khách hàng.

Bên cạnh đó, danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” từ Euromoney một lần nữa khẳng định tầm vóc của Techcombank trong mảng quản lý gia sản cao cấp. Mới đây, Euromoney đã tiếp tục vinh danh Techcombank với giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2026”. Cùng với hàng loạt giải thưởng uy tín khác về ngân hàng bán lẻ, nâng cao năng lực nhân viên và sáng kiến AI cấp khu vực, Techcombank đang cho thấy vị thế dẫn dắt không thể phủ nhận trong việc định hình một hệ sinh thái tài chính hiện đại, toàn diện và bền vững tại Việt Nam.

Techcombank là một trong những doanh nghiệp quốc gia có quy mô lớn nhất Việt Nam với tầm nhìn “Chuyển đổi ngành tài chính, nâng tầm giá trị sống” và cũng thuộc nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực châu Á.

Theo đuổi chiến lược khách hàng là trọng tâm, Techcombank đang cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân hàng đa dạng cho khoảng 18,2 triệu khách hàng, bao gồm khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp thông qua mạng lưới điểm giao dịch trải dài khắp Việt Nam cũng như dịch vụ ngân hàng số dẫn đầu thị trường. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, hợp tác đối tác trong nhiều lĩnh vực kinh tế chủ chốt giúp tạo nên sự khác biệt cho Techcombank tại một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.

Techcombank hiện được xếp hạng Ba3 bởi Moody’s, BB bởi S&P và BB- bởi Fitch, nằm trong nhóm những ngân hàng thương mại cổ phần được xếp hạng tín nhiệm cao nhất tại Việt Nam. 

Thúy Ngân

Đọc thêm

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18135 18410 18993
CAD 18375 18651 19272
CHF 31690 32070 32716
CNY 0 3830 3940
EUR 29741 29963 31050
GBP 34717 35110 36060
HKD 0 3209 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15205 15798
SGD 19991 20273 20849
THB 709 772 826
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 18325 18425 19347
CAD 18562 18662 19676
CHF 31962 31992 33582
CNY 3829.7 3854.7 3989.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29943 29973 31696
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3330 0
JPY 161.16 161.66 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20158 20288 21011
THB 0 738.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14120000 14120000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80