Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
aa

Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng theo hướng chọn lọc

Những thông tin ban đầu từ báo cáo sơ bộ và hội nghị sơ kết của nhiều ngân hàng cho thấy, bức tranh tín dụng nửa đầu năm 2026 tăng trưởng theo hướng chọn lọc. Dòng vốn của nhiều nhà băng được ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng các dự án hạ tầng trọng điểm..., trong khi các ngân hàng vẫn duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và tạo dư địa để tăng tốc cho vay trong những tháng cuối năm.

Thông tin tại hội nghị sơ kết hoạt động kinh doanh Vietcombank cho thấy, đến ngày 30/6, dư nợ tín dụng của Vietcombank đạt 1,74 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm. Ngân hàng tiếp tục cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay
Nguồn: BLOOMBERG, NHNN, VNDIRECT RESEARCH. Đồ họa tư liệu

Vietcombank cũng dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, tài chính xanh và nhiều dự án trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng giao thông, logistics như: LNG Quảng Trạch II, Lô B - Ô Môn, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc và các tuyến metro tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh...

Bên cạnh đó, Vietcombank cũng triển khai 10 chương trình tín dụng ưu đãi, với lãi suất thấp hơn tới 2 điểm phần trăm so với mặt bằng chung nhằm hỗ trợ khách hàng.

Trong khi đó, Agribank khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”. Đến cuối tháng 6/2026, tổng dư nợ cho vay Agribank đạt gần 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm, với tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,13%. Trong đó, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt hơn 1,32 triệu tỷ đồng, chiếm gần 65% tổng dư nợ.

Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, Agribank còn đẩy mạnh cấp vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, trong đó thu xếp hơn 25.000 tỷ đồng cho dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội và nhiều dự án cảng biển, góp phần nâng cao năng lực logistics và kết nối hạ tầng của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, bức tranh tín dụng của nhóm ngân hàng vừa và nhỏ khởi sắc, với tốc độ tăng trưởng vượt mặt bằng chung.

Tại ABBank, dư nợ tín dụng tăng hơn 8% so với đầu năm lên 138 nghìn tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 0,55%, thuộc nhóm thấp nhất thị trường. Thông tin từ ABBank cho thấy, ngân hàng cũng được cơ quan quản lý xem xét bổ sung room tín dụng, tạo thuận lợi đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, duy trì nhịp độ tăng trưởng và mở rộng quy mô.

Trong khi đó, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của TPBank tăng 9,62% so với đầu năm. Dòng vốn được ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh và khách hàng có năng lực tài chính tốt, đi cùng với việc duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%. Ngân hàng kỳ vọng nhu cầu vốn tăng cao trong nửa cuối năm sẽ tạo thêm động lực để tín dụng tăng tốc và hoàn thành các mục tiêu kinh doanh.

Cầu tín dụng lớn, phải hướng đúng mục tiêu

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến ngày 29/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, với khoảng 77% dư nợ nền kinh tế đến cuối tháng 5/2026 phục vụ sản xuất kinh doanh.

Nới dư địa tín dụng, không đồng nghĩa nới lỏng điều kiện cho vay

“Chúng tôi đã có sự cân chỉnh để đảm bảo hệ thống có dư địa tăng trưởng tín dụng, nhưng điều đó không có nghĩa các yêu cầu về quản lý chất lượng tín dụng thay đổi. Trong mọi điều kiện, việc thẩm định và quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại, của các tổ chức tín dụng do họ chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng, không đồng nghĩa với chuyện nới lỏng điều kiện tín dụng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng như Ngân hàng Nhà nước đã đề ra”.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, tín dụng đóng vai trò quan trọng với tăng trưởng kinh tế, cho nên khi nhu cầu tín dụng rất lớn, Ngân hàng Nhà nước cũng phải cân nhắc, tính toán để đưa tín dụng đi đúng vào các lĩnh vực mục tiêu.

Vì vậy, điểm mới của chính sách tín dụng năm nay là Ngân hàng Nhà nước chuyển sang điều hành linh hoạt hơn, không kiểm soát room tín dụng một số lĩnh vực ưu tiên như: nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất... như bất động sản thông thường; cũng không tính dư nợ của các dự án trọng điểm quốc gia vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng chủ động cấp vốn cho các công trình có sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế.

Nhà điều hành linh hoạt sử dụng các công cụ điều hành để ổn định thanh khoản và mở rộng dư địa tín dụng, qua đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Điển hình là nâng trần tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%; định hướng mở rộng quy mô tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Đồng thời, tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ để ổn định thanh khoản.

Theo đánh giá của chuyên gia phân tích Chứng khoán VNDIRECT, các giải pháp này góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản trị rủi ro kỳ hạn của các tổ chức tín dụng.

Cũng theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế đối với hệ thống ngân hàng vẫn còn lớn, tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức cao.

Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia rất lớn, tạo áp lực lên các tổ chức tín dụng trong việc cung ứng vốn, đồng thời làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, do nguồn vốn cho vay chủ yếu vẫn được huy động từ tiền gửi ngắn hạn.

Kiểm soát tín dụng tập trung, ngăn ngừa rủi ro nợ xấu

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh các quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Tuy nhiên, điều này cũng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn trong an toàn hoạt động ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng nâng cao công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỷ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng thường xuyên theo dõi, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng, đặc biệt đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như: bất động sản, chứng khoán…

Đồng thời, quan tâm rà soát, giám sát, đánh giá mức độ tập trung tín dụng, trong đó lưu ý các khoản cấp tín dụng lớn, xu hướng gia tăng mạnh đối với khách hàng lớn, các dự án có quy mô lớn, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, ngành, lĩnh vực... Cùng với đó, kết hợp đánh giá các chỉ báo liên quan như diễn biến giá bất động sản, thanh khoản thị trường, tồn kho dự án và tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Từ đó, kịp thời nhận diện các tồn tại, vi phạm có giải pháp phòng ngừa, xử lý, hạn chế rủi ro tập trung tín dụng.

Các tổ chức tín dụng cũng cần theo dõi sát chất lượng tín dụng, diễn biến các nhóm nợ, nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu nhằm kịp thời xử lý, thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn ngăn ngừa tối đa nợ xấu phát sinh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼137000K -142,000 ▼142000K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲13650K 14,150 ▲14150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲13580K 14,130 ▲14130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲160K 14,760 ▲160K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲160K 14,760 ▲160K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲160K 14,760 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▲110K 14,660 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▲110K 14,660 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▲110K 14,660 ▲110K
NL 99.99 13,000 ▲120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲70K
Trang sức 99.9 13,850 ▲110K 14,550 ▲110K
Trang sức 99.99 13,860 ▲110K 14,560 ▲110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1291K 14,642 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1291K 14,643 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▲4K 1,454 ▲1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▲4K 1,455 ▲4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▲4K 1,434 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼121086K 14,198 ▼127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▲300K 107,711 ▲300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▲86996K 97,672 ▲96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲244K 87,633 ▲244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▲234K 83,761 ▲234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▲167K 59,954 ▲167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cập nhật: 21/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18204 18778
CAD 18180 18456 19072
CHF 31847 32228 32861
CNY 0 3848 3940
EUR 29427 29647 30721
GBP 34563 34955 35882
HKD 0 3225 3427
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15106 15691
SGD 19861 20143 20713
THB 698 761 814
USD (1,2) 26050 0 0
USD (5,10,20) 26091 0 0
USD (50,100) 26120 26134 26493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,558 29,582 30,990
JPY 157.49 157.77 167.27
GBP 34,753 34,847 36,049
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,367 18,426 19,105
CHF 32,119 32,219 33,166
SGD 19,983 20,045 20,836
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.45 17.16 18.66
THB 746.45 755.67 808.97
NZD 15,085 15,225 15,677
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,682 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.91 - 6,791.83
TWD 735.79 - 891.27
SAR - 6,890.37 7,257.18
KWD - 83,228 88,546
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26500
AUD 18118 18218 19143
CAD 18360 18460 19474
CHF 32093 32123 33701
CNY 3830.2 3855.2 3990.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29609 29639 31362
GBP 34891 34941 36699
HKD 0 3355 0
JPY 158.4 158.9 169.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15228 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20029 20159 20880
THB 0 727.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,510
USD20 26,147 26,197 26,510
USD1 26,147 26,197 26,510
AUD 18,148 18,248 19,361
EUR 29,401 29,501 31,157
CAD 18,302 18,402 19,708
SGD 20,098 20,248 20,811
JPY 158.9 160.4 165.96
GBP 34,781 34,931 36,003
XAU 14,360,000 0 14,662,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80