Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
aa

Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng theo hướng chọn lọc

Những thông tin ban đầu từ báo cáo sơ bộ và hội nghị sơ kết của nhiều ngân hàng cho thấy, bức tranh tín dụng nửa đầu năm 2026 tăng trưởng theo hướng chọn lọc. Dòng vốn của nhiều nhà băng được ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng các dự án hạ tầng trọng điểm..., trong khi các ngân hàng vẫn duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và tạo dư địa để tăng tốc cho vay trong những tháng cuối năm.

Thông tin tại hội nghị sơ kết hoạt động kinh doanh Vietcombank cho thấy, đến ngày 30/6, dư nợ tín dụng của Vietcombank đạt 1,74 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm. Ngân hàng tiếp tục cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay
Nguồn: BLOOMBERG, NHNN, VNDIRECT RESEARCH. Đồ họa tư liệu

Vietcombank cũng dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, tài chính xanh và nhiều dự án trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng giao thông, logistics như: LNG Quảng Trạch II, Lô B - Ô Môn, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc và các tuyến metro tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh...

Bên cạnh đó, Vietcombank cũng triển khai 10 chương trình tín dụng ưu đãi, với lãi suất thấp hơn tới 2 điểm phần trăm so với mặt bằng chung nhằm hỗ trợ khách hàng.

Trong khi đó, Agribank khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”. Đến cuối tháng 6/2026, tổng dư nợ cho vay Agribank đạt gần 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm, với tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,13%. Trong đó, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt hơn 1,32 triệu tỷ đồng, chiếm gần 65% tổng dư nợ.

Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, Agribank còn đẩy mạnh cấp vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, trong đó thu xếp hơn 25.000 tỷ đồng cho dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội và nhiều dự án cảng biển, góp phần nâng cao năng lực logistics và kết nối hạ tầng của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, bức tranh tín dụng của nhóm ngân hàng vừa và nhỏ khởi sắc, với tốc độ tăng trưởng vượt mặt bằng chung.

Tại ABBank, dư nợ tín dụng tăng hơn 8% so với đầu năm lên 138 nghìn tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 0,55%, thuộc nhóm thấp nhất thị trường. Thông tin từ ABBank cho thấy, ngân hàng cũng được cơ quan quản lý xem xét bổ sung room tín dụng, tạo thuận lợi đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, duy trì nhịp độ tăng trưởng và mở rộng quy mô.

Trong khi đó, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của TPBank tăng 9,62% so với đầu năm. Dòng vốn được ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh và khách hàng có năng lực tài chính tốt, đi cùng với việc duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%. Ngân hàng kỳ vọng nhu cầu vốn tăng cao trong nửa cuối năm sẽ tạo thêm động lực để tín dụng tăng tốc và hoàn thành các mục tiêu kinh doanh.

Cầu tín dụng lớn, phải hướng đúng mục tiêu

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến ngày 29/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, với khoảng 77% dư nợ nền kinh tế đến cuối tháng 5/2026 phục vụ sản xuất kinh doanh.

Nới dư địa tín dụng, không đồng nghĩa nới lỏng điều kiện cho vay

“Chúng tôi đã có sự cân chỉnh để đảm bảo hệ thống có dư địa tăng trưởng tín dụng, nhưng điều đó không có nghĩa các yêu cầu về quản lý chất lượng tín dụng thay đổi. Trong mọi điều kiện, việc thẩm định và quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại, của các tổ chức tín dụng do họ chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng, không đồng nghĩa với chuyện nới lỏng điều kiện tín dụng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng như Ngân hàng Nhà nước đã đề ra”.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, tín dụng đóng vai trò quan trọng với tăng trưởng kinh tế, cho nên khi nhu cầu tín dụng rất lớn, Ngân hàng Nhà nước cũng phải cân nhắc, tính toán để đưa tín dụng đi đúng vào các lĩnh vực mục tiêu.

Vì vậy, điểm mới của chính sách tín dụng năm nay là Ngân hàng Nhà nước chuyển sang điều hành linh hoạt hơn, không kiểm soát room tín dụng một số lĩnh vực ưu tiên như: nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất... như bất động sản thông thường; cũng không tính dư nợ của các dự án trọng điểm quốc gia vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng chủ động cấp vốn cho các công trình có sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế.

Nhà điều hành linh hoạt sử dụng các công cụ điều hành để ổn định thanh khoản và mở rộng dư địa tín dụng, qua đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Điển hình là nâng trần tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%; định hướng mở rộng quy mô tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Đồng thời, tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ để ổn định thanh khoản.

Theo đánh giá của chuyên gia phân tích Chứng khoán VNDIRECT, các giải pháp này góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản trị rủi ro kỳ hạn của các tổ chức tín dụng.

Cũng theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế đối với hệ thống ngân hàng vẫn còn lớn, tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức cao.

Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia rất lớn, tạo áp lực lên các tổ chức tín dụng trong việc cung ứng vốn, đồng thời làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, do nguồn vốn cho vay chủ yếu vẫn được huy động từ tiền gửi ngắn hạn.

Kiểm soát tín dụng tập trung, ngăn ngừa rủi ro nợ xấu

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh các quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Tuy nhiên, điều này cũng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn trong an toàn hoạt động ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng nâng cao công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỷ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng thường xuyên theo dõi, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng, đặc biệt đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như: bất động sản, chứng khoán…

Đồng thời, quan tâm rà soát, giám sát, đánh giá mức độ tập trung tín dụng, trong đó lưu ý các khoản cấp tín dụng lớn, xu hướng gia tăng mạnh đối với khách hàng lớn, các dự án có quy mô lớn, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, ngành, lĩnh vực... Cùng với đó, kết hợp đánh giá các chỉ báo liên quan như diễn biến giá bất động sản, thanh khoản thị trường, tồn kho dự án và tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Từ đó, kịp thời nhận diện các tồn tại, vi phạm có giải pháp phòng ngừa, xử lý, hạn chế rủi ro tập trung tín dụng.

Các tổ chức tín dụng cũng cần theo dõi sát chất lượng tín dụng, diễn biến các nhóm nợ, nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu nhằm kịp thời xử lý, thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn ngăn ngừa tối đa nợ xấu phát sinh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Dự án lớn tại Hà Nội muốn vay vượt trần 52% vốn tự có ngân hàng, phải đáp ứng loạt điều kiện

Dự án lớn tại Hà Nội muốn vay vượt trần 52% vốn tự có ngân hàng, phải đáp ứng loạt điều kiện

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất điều kiện cấp tín dụng vượt giới hạn cho các dự án lớn, quan trọng tại Hà Nội. Theo đó, khách hàng phải không có nợ xấu 3 năm liền kề, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu không quá 3 lần; mức cấp tín dụng tối đa là 38% vốn tự có với một khách hàng và 52% với khách hàng cùng người có liên quan.
VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,100 148,500
Hà Nội - PNJ 145,100 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,100 148,500
Miền Tây - PNJ 145,100 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,100 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,100 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 14,860
Miếng SJC Nghệ An 14,560 14,860
Miếng SJC Thái Bình 14,560 14,860
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,560 14,910
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,220 14,820
Trang sức 99.99 14,230 14,830
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 14,862
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 14,863
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,451 1,481
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,451 1,482
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,426 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,644 145,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,686 110,486
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,388 100,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,009 8,989
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,118 85,918
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,697 61,497
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cập nhật: 05/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18226 18501 19078
CAD 18339 18615 19235
CHF 31549 31929 32585
CNY 0 3840 3936
EUR 29649 29870 30951
GBP 34447 34839 35790
HKD 0 3193 3395
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15004 15595
SGD 20023 20306 20876
THB 707 770 823
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Cập nhật: 05/09/2026 06:00
Ngân hàng