Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
aa

Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng theo hướng chọn lọc

Những thông tin ban đầu từ báo cáo sơ bộ và hội nghị sơ kết của nhiều ngân hàng cho thấy, bức tranh tín dụng nửa đầu năm 2026 tăng trưởng theo hướng chọn lọc. Dòng vốn của nhiều nhà băng được ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng các dự án hạ tầng trọng điểm..., trong khi các ngân hàng vẫn duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và tạo dư địa để tăng tốc cho vay trong những tháng cuối năm.

Thông tin tại hội nghị sơ kết hoạt động kinh doanh Vietcombank cho thấy, đến ngày 30/6, dư nợ tín dụng của Vietcombank đạt 1,74 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm. Ngân hàng tiếp tục cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay
Nguồn: BLOOMBERG, NHNN, VNDIRECT RESEARCH. Đồ họa tư liệu

Vietcombank cũng dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, tài chính xanh và nhiều dự án trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng giao thông, logistics như: LNG Quảng Trạch II, Lô B - Ô Môn, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc và các tuyến metro tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh...

Bên cạnh đó, Vietcombank cũng triển khai 10 chương trình tín dụng ưu đãi, với lãi suất thấp hơn tới 2 điểm phần trăm so với mặt bằng chung nhằm hỗ trợ khách hàng.

Trong khi đó, Agribank khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”. Đến cuối tháng 6/2026, tổng dư nợ cho vay Agribank đạt gần 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 4,8% so với đầu năm, với tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,13%. Trong đó, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt hơn 1,32 triệu tỷ đồng, chiếm gần 65% tổng dư nợ.

Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, Agribank còn đẩy mạnh cấp vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, trong đó thu xếp hơn 25.000 tỷ đồng cho dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội và nhiều dự án cảng biển, góp phần nâng cao năng lực logistics và kết nối hạ tầng của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, bức tranh tín dụng của nhóm ngân hàng vừa và nhỏ khởi sắc, với tốc độ tăng trưởng vượt mặt bằng chung.

Tại ABBank, dư nợ tín dụng tăng hơn 8% so với đầu năm lên 138 nghìn tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 0,55%, thuộc nhóm thấp nhất thị trường. Thông tin từ ABBank cho thấy, ngân hàng cũng được cơ quan quản lý xem xét bổ sung room tín dụng, tạo thuận lợi đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, duy trì nhịp độ tăng trưởng và mở rộng quy mô.

Trong khi đó, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của TPBank tăng 9,62% so với đầu năm. Dòng vốn được ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh và khách hàng có năng lực tài chính tốt, đi cùng với việc duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%. Ngân hàng kỳ vọng nhu cầu vốn tăng cao trong nửa cuối năm sẽ tạo thêm động lực để tín dụng tăng tốc và hoàn thành các mục tiêu kinh doanh.

Cầu tín dụng lớn, phải hướng đúng mục tiêu

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến ngày 29/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, với khoảng 77% dư nợ nền kinh tế đến cuối tháng 5/2026 phục vụ sản xuất kinh doanh.

Nới dư địa tín dụng, không đồng nghĩa nới lỏng điều kiện cho vay

“Chúng tôi đã có sự cân chỉnh để đảm bảo hệ thống có dư địa tăng trưởng tín dụng, nhưng điều đó không có nghĩa các yêu cầu về quản lý chất lượng tín dụng thay đổi. Trong mọi điều kiện, việc thẩm định và quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại, của các tổ chức tín dụng do họ chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng, không đồng nghĩa với chuyện nới lỏng điều kiện tín dụng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng như Ngân hàng Nhà nước đã đề ra”.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, tín dụng đóng vai trò quan trọng với tăng trưởng kinh tế, cho nên khi nhu cầu tín dụng rất lớn, Ngân hàng Nhà nước cũng phải cân nhắc, tính toán để đưa tín dụng đi đúng vào các lĩnh vực mục tiêu.

Vì vậy, điểm mới của chính sách tín dụng năm nay là Ngân hàng Nhà nước chuyển sang điều hành linh hoạt hơn, không kiểm soát room tín dụng một số lĩnh vực ưu tiên như: nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất... như bất động sản thông thường; cũng không tính dư nợ của các dự án trọng điểm quốc gia vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng chủ động cấp vốn cho các công trình có sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế.

Nhà điều hành linh hoạt sử dụng các công cụ điều hành để ổn định thanh khoản và mở rộng dư địa tín dụng, qua đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Điển hình là nâng trần tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%; định hướng mở rộng quy mô tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Đồng thời, tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và hoán đổi ngoại tệ để ổn định thanh khoản.

Theo đánh giá của chuyên gia phân tích Chứng khoán VNDIRECT, các giải pháp này góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản trị rủi ro kỳ hạn của các tổ chức tín dụng.

Cũng theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế đối với hệ thống ngân hàng vẫn còn lớn, tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức cao.

Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia rất lớn, tạo áp lực lên các tổ chức tín dụng trong việc cung ứng vốn, đồng thời làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, do nguồn vốn cho vay chủ yếu vẫn được huy động từ tiền gửi ngắn hạn.

Kiểm soát tín dụng tập trung, ngăn ngừa rủi ro nợ xấu

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh các quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Tuy nhiên, điều này cũng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn trong an toàn hoạt động ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng nâng cao công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỷ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng thường xuyên theo dõi, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng, đặc biệt đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như: bất động sản, chứng khoán…

Đồng thời, quan tâm rà soát, giám sát, đánh giá mức độ tập trung tín dụng, trong đó lưu ý các khoản cấp tín dụng lớn, xu hướng gia tăng mạnh đối với khách hàng lớn, các dự án có quy mô lớn, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, ngành, lĩnh vực... Cùng với đó, kết hợp đánh giá các chỉ báo liên quan như diễn biến giá bất động sản, thanh khoản thị trường, tồn kho dự án và tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Từ đó, kịp thời nhận diện các tồn tại, vi phạm có giải pháp phòng ngừa, xử lý, hạn chế rủi ro tập trung tín dụng.

Các tổ chức tín dụng cũng cần theo dõi sát chất lượng tín dụng, diễn biến các nhóm nợ, nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu nhằm kịp thời xử lý, thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn ngăn ngừa tối đa nợ xấu phát sinh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18135 18410 18993
CAD 18375 18651 19272
CHF 31690 32070 32716
CNY 0 3830 3940
EUR 29741 29963 31050
GBP 34717 35110 36060
HKD 0 3209 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15205 15798
SGD 19991 20273 20849
THB 709 772 826
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 18325 18425 19347
CAD 18562 18662 19676
CHF 31962 31992 33582
CNY 3829.7 3854.7 3989.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29943 29973 31696
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3330 0
JPY 161.16 161.66 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20158 20288 21011
THB 0 738.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14120000 14120000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80