Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
aa

Nguồn vốn đã mở rộng, nhưng “nút thắt” nằm ở điều kiện tiếp cận

Nếu nhìn vào các chương trình tín dụng đang được triển khai, có thể thấy quy mô hỗ trợ dành cho doanh nghiệp chưa bao giờ lớn như hiện nay.

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 2, bên cạnh việc điều hành chính sách tiền tệ, ngành ngân hàng đang đồng thời triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn nhằm hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế.

Đáng chú ý là gói tín dụng 185.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản với lãi suất thấp hơn từ 1-2%/năm so với lãi suất cho vay thông thường của chính ngân hàng. Chương trình có sự tham gia của 18 ngân hàng thương mại.

Song song đó là chương trình tín dụng 145.000 tỷ đồng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo chung cư cũ. Từ ngày 1/5/2026, người mua nhà được vay với lãi suất 6,5%/năm, chủ đầu tư vay với lãi suất 7%/năm. Thời gian ưu đãi kéo dài từ 3 đến 15 năm tùy đối tượng.

Ngoài các chương trình quy mô quốc gia, TP. Hồ Chí Minh cũng tiếp tục triển khai chương trình bình ổn thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thiết yếu tiếp cận nguồn vốn với lãi suất ưu đãi.

Một chương trình khác cũng nhận được nhiều sự quan tâm là gói tín dụng 500.000 tỷ đồng phục vụ phát triển hạ tầng chiến lược và công nghệ số. Nguồn vốn hoàn toàn do các ngân hàng thương mại tự huy động, không sử dụng ngân sách nhà nước và được ưu đãi lãi suất thấp hơn từ 1 - 1,5%/năm trong tối thiểu hai năm.

Song song với tín dụng, ngành ngân hàng cũng thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính. NHNN Chi nhánh Khu vực 2 đã triển khai 24/32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cho phép doanh nghiệp nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả hoàn toàn trên môi trường điện tử. Các lĩnh vực như quản lý ngoại hối, thanh toán hay thành lập, hoạt động ngân hàng đều đã được số hóa.

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay
Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng diễn ra ngày 10/7. Ảnh: Lạc Nguyên

Tuy nhiên, thực tế điều doanh nghiệp quan tâm không chỉ là quy mô các gói tín dụng mà là khả năng tiếp cận nguồn vốn. Nhiều ý kiến cho rằng, những rào cản về tài sản bảo đảm, lịch sử tài chính hay yêu cầu đối với các dự án chuyển đổi xanh vẫn là trở ngại khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các khoản vay ưu đãi.

Cụ thể, đại diện Công ty Đông Nam phản ánh việc nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu định giá tài sản bảo đảm theo bảng giá đất của Nhà nước, khiến giá trị tài sản thế chấp thấp hơn giá trị thực tế và ảnh hưởng đến hạn mức vay. Đại diện Công ty TNHH Phát triển Hạ tầng Khu công nghiệp Tân Tạo đề nghị có các chính sách tín dụng chuyên biệt hỗ trợ đầu tư khu công nghiệp xanh; đại diện một doanh nghiệp chế biến nông sản cũng cho biết dù công ty hoạt động có lãi và có đơn hàng xuất khẩu nhưng vẫn gặp khó khi vay vốn do mới thành lập, chưa có đủ lịch sử báo cáo tài chính theo yêu cầu của nhiều ngân hàng.

Có thể thấy, bên cạnh việc mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi, bài toán đặt ra hiện nay là làm thế nào để các điều kiện thẩm định theo kịp thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt với doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp đang đầu tư theo hướng xanh.

Tư duy cho vay đang dịch chuyển

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên, pháp luật hiện hành không quy định mọi khoản vay đều phải có tài sản bảo đảm. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay. Quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn, đặc biệt là phương án sử dụng vốn khả thi và khả năng trả nợ.

Bà Liên cho biết, trong quý II/2026, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển mạnh sang mô hình thẩm định dựa trên uy tín và hiệu quả của phương án kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp, nhất là đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và xuất khẩu.

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay
Trong quý II/2026, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển mạnh sang mô hình thẩm định dựa trên uy tín và hiệu quả của phương án kinh doanh. Ảnh minh hoạ.

Đại diện HDBank cho biết báo cáo tài chính chỉ là một trong nhiều yếu tố để thẩm định tín dụng, không phải điều kiện duy nhất. Với doanh nghiệp mới thành lập hoặc startup, ngân hàng quan tâm nhiều hơn đến thị trường đầu ra, hợp đồng tiêu thụ, dòng tiền, năng lực quản trị và tỷ lệ vốn tự có.

Đáng chú ý, HDBank đang triển khai mô hình tài trợ chuỗi cung ứng. Theo đó, nếu doanh nghiệp là nhà cung ứng cho các doanh nghiệp lớn, có dòng tiền ổn định và được ngân hàng đánh giá tích cực, doanh nghiệp có thể được cấp tín dụng mà không cần tài sản bảo đảm hoặc giảm đáng kể yêu cầu về tài sản thế chấp.

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên, doanh nghiệp có dự án thuộc Danh mục phân loại xanh có thể được xem xét tiếp cận tín dụng xanh. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách ưu đãi, dự án phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và được xác nhận theo quy định.

Đối với xu hướng chuyển đổi xanh, NHNN Chi nhánh Khu vực 2 cho biết, các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg có thể được tiếp cận các chương trình tín dụng xanh theo hướng dẫn của NHNN.

Danh mục này bao gồm nhiều hạng mục như đầu tư năng lượng tái tạo, xử lý nước thải, quản lý chất thải, công trình xanh hay hạ tầng giao thông xanh. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, dự án phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật và được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền xác nhận theo quy định.

Thực tế, nhiều ngân hàng đã chủ động xây dựng các chương trình tài chính dành riêng cho lĩnh vực này.

Đại diện Vietcombank chia sẻ, danh mục tín dụng xanh của ngân hàng đã tăng gần bốn lần trong giai đoạn 2020-2025, đạt khoảng 43.000 tỷ đồng và hiện đã tiến gần mức 50.000 tỷ đồng. Sau khi Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg được ban hành, ngân hàng đã xây dựng hướng dẫn nội bộ để thống nhất tiêu chí xác định các dự án đủ điều kiện tiếp cận tín dụng xanh.

Trong khi đó, BIDV cho biết ngân hàng đang triển khai các gói tín dụng xanh với lãi suất thấp hơn từ 1-2%/năm so với thông thường, đồng thời phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và phát triển các sản phẩm tiền gửi xanh nhằm tạo nguồn vốn dài hạn cho các dự án phát triển bền vững.

Không chỉ cung cấp vốn, BIDV còn tư vấn doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển xanh, hoàn thiện hồ sơ dự án, phát hành trái phiếu xanh và kết nối với các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao khả năng thu hút dòng vốn FDI./.

Lạc Nguyên

Đọc thêm

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Kim TT/AVPL 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,130 ▲90K 14,830 ▲90K
Trang sức 99.99 14,140 ▲90K 14,840 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 ▲1323K 14,992 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 ▲1323K 14,993 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 ▲7K 1,494 ▲7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 ▲7K 1,495 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 ▲7K 1,474 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 ▲693K 145,941 ▲693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲525K 110,711 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 ▲476K 100,392 ▲476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 ▲427K 90,073 ▲427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 ▲408K 86,093 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 ▲46669K 61,622 ▲55489K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cập nhật: 10/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17726 17999 18574
CAD 18023 18298 18910
CHF 31978 32360 33001
CNY 0 3835 3927
EUR 29426 29647 30721
GBP 34479 34871 35801
HKD 0 3221 3423
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14851 15435
SGD 19812 20094 20664
THB 704 767 820
USD (1,2) 26013 0 0
USD (5,10,20) 26054 0 0
USD (50,100) 26083 26097 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,104 26,104 26,474
USD(1-2-5) 25,060 - -
USD(10-20) 25,060 - -
EUR 29,580 29,604 31,002
JPY 158.31 158.6 168.13
GBP 34,687 34,781 35,960
AUD 17,945 18,010 18,683
CAD 18,228 18,287 18,949
CHF 32,271 32,371 33,310
SGD 19,951 20,013 20,790
CNY - 3,804 3,948
HKD 3,287 3,297 3,433
KRW 16.12 16.81 18.28
THB 752.43 761.72 815.15
NZD 14,849 14,987 15,426
SEK - 2,682 2,775
DKK - 3,957 4,095
NOK - 2,657 2,750
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,044.91 - 6,821.01
TWD 739.75 - 895.75
SAR - 6,884.25 7,247.71
KWD - 83,145 88,426
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26474
AUD 17908 18008 18934
CAD 18218 18318 19329
CHF 32238 32268 33854
CNY 3809.8 3834.8 3970.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29628 29658 31386
GBP 34792 34842 36602
HKD 0 3355 0
JPY 158.88 159.38 169.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20834
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80