Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
aa

Nguồn vốn đã mở rộng, nhưng “nút thắt” nằm ở điều kiện tiếp cận

Nếu nhìn vào các chương trình tín dụng đang được triển khai, có thể thấy quy mô hỗ trợ dành cho doanh nghiệp chưa bao giờ lớn như hiện nay.

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 2, bên cạnh việc điều hành chính sách tiền tệ, ngành ngân hàng đang đồng thời triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn nhằm hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế.

Đáng chú ý là gói tín dụng 185.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản với lãi suất thấp hơn từ 1-2%/năm so với lãi suất cho vay thông thường của chính ngân hàng. Chương trình có sự tham gia của 18 ngân hàng thương mại.

Song song đó là chương trình tín dụng 145.000 tỷ đồng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo chung cư cũ. Từ ngày 1/5/2026, người mua nhà được vay với lãi suất 6,5%/năm, chủ đầu tư vay với lãi suất 7%/năm. Thời gian ưu đãi kéo dài từ 3 đến 15 năm tùy đối tượng.

Ngoài các chương trình quy mô quốc gia, TP. Hồ Chí Minh cũng tiếp tục triển khai chương trình bình ổn thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thiết yếu tiếp cận nguồn vốn với lãi suất ưu đãi.

Một chương trình khác cũng nhận được nhiều sự quan tâm là gói tín dụng 500.000 tỷ đồng phục vụ phát triển hạ tầng chiến lược và công nghệ số. Nguồn vốn hoàn toàn do các ngân hàng thương mại tự huy động, không sử dụng ngân sách nhà nước và được ưu đãi lãi suất thấp hơn từ 1 - 1,5%/năm trong tối thiểu hai năm.

Song song với tín dụng, ngành ngân hàng cũng thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính. NHNN Chi nhánh Khu vực 2 đã triển khai 24/32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cho phép doanh nghiệp nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả hoàn toàn trên môi trường điện tử. Các lĩnh vực như quản lý ngoại hối, thanh toán hay thành lập, hoạt động ngân hàng đều đã được số hóa.

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay
Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng diễn ra ngày 10/7. Ảnh: Lạc Nguyên

Tuy nhiên, thực tế điều doanh nghiệp quan tâm không chỉ là quy mô các gói tín dụng mà là khả năng tiếp cận nguồn vốn. Nhiều ý kiến cho rằng, những rào cản về tài sản bảo đảm, lịch sử tài chính hay yêu cầu đối với các dự án chuyển đổi xanh vẫn là trở ngại khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các khoản vay ưu đãi.

Cụ thể, đại diện Công ty Đông Nam phản ánh việc nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu định giá tài sản bảo đảm theo bảng giá đất của Nhà nước, khiến giá trị tài sản thế chấp thấp hơn giá trị thực tế và ảnh hưởng đến hạn mức vay. Đại diện Công ty TNHH Phát triển Hạ tầng Khu công nghiệp Tân Tạo đề nghị có các chính sách tín dụng chuyên biệt hỗ trợ đầu tư khu công nghiệp xanh; đại diện một doanh nghiệp chế biến nông sản cũng cho biết dù công ty hoạt động có lãi và có đơn hàng xuất khẩu nhưng vẫn gặp khó khi vay vốn do mới thành lập, chưa có đủ lịch sử báo cáo tài chính theo yêu cầu của nhiều ngân hàng.

Có thể thấy, bên cạnh việc mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi, bài toán đặt ra hiện nay là làm thế nào để các điều kiện thẩm định theo kịp thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt với doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp đang đầu tư theo hướng xanh.

Tư duy cho vay đang dịch chuyển

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên, pháp luật hiện hành không quy định mọi khoản vay đều phải có tài sản bảo đảm. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay. Quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn, đặc biệt là phương án sử dụng vốn khả thi và khả năng trả nợ.

Bà Liên cho biết, trong quý II/2026, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển mạnh sang mô hình thẩm định dựa trên uy tín và hiệu quả của phương án kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp, nhất là đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và xuất khẩu.

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay
Trong quý II/2026, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển mạnh sang mô hình thẩm định dựa trên uy tín và hiệu quả của phương án kinh doanh. Ảnh minh hoạ.

Đại diện HDBank cho biết báo cáo tài chính chỉ là một trong nhiều yếu tố để thẩm định tín dụng, không phải điều kiện duy nhất. Với doanh nghiệp mới thành lập hoặc startup, ngân hàng quan tâm nhiều hơn đến thị trường đầu ra, hợp đồng tiêu thụ, dòng tiền, năng lực quản trị và tỷ lệ vốn tự có.

Đáng chú ý, HDBank đang triển khai mô hình tài trợ chuỗi cung ứng. Theo đó, nếu doanh nghiệp là nhà cung ứng cho các doanh nghiệp lớn, có dòng tiền ổn định và được ngân hàng đánh giá tích cực, doanh nghiệp có thể được cấp tín dụng mà không cần tài sản bảo đảm hoặc giảm đáng kể yêu cầu về tài sản thế chấp.

Theo bà Trần Thị Ngọc Liên, doanh nghiệp có dự án thuộc Danh mục phân loại xanh có thể được xem xét tiếp cận tín dụng xanh. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách ưu đãi, dự án phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và được xác nhận theo quy định.

Đối với xu hướng chuyển đổi xanh, NHNN Chi nhánh Khu vực 2 cho biết, các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg có thể được tiếp cận các chương trình tín dụng xanh theo hướng dẫn của NHNN.

Danh mục này bao gồm nhiều hạng mục như đầu tư năng lượng tái tạo, xử lý nước thải, quản lý chất thải, công trình xanh hay hạ tầng giao thông xanh. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, dự án phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật và được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền xác nhận theo quy định.

Thực tế, nhiều ngân hàng đã chủ động xây dựng các chương trình tài chính dành riêng cho lĩnh vực này.

Đại diện Vietcombank chia sẻ, danh mục tín dụng xanh của ngân hàng đã tăng gần bốn lần trong giai đoạn 2020-2025, đạt khoảng 43.000 tỷ đồng và hiện đã tiến gần mức 50.000 tỷ đồng. Sau khi Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg được ban hành, ngân hàng đã xây dựng hướng dẫn nội bộ để thống nhất tiêu chí xác định các dự án đủ điều kiện tiếp cận tín dụng xanh.

Trong khi đó, BIDV cho biết ngân hàng đang triển khai các gói tín dụng xanh với lãi suất thấp hơn từ 1-2%/năm so với thông thường, đồng thời phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và phát triển các sản phẩm tiền gửi xanh nhằm tạo nguồn vốn dài hạn cho các dự án phát triển bền vững.

Không chỉ cung cấp vốn, BIDV còn tư vấn doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển xanh, hoàn thiện hồ sơ dự án, phát hành trái phiếu xanh và kết nối với các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao khả năng thu hút dòng vốn FDI./.

Lạc Nguyên

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 16/08/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 16/08/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80