Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để "xanh hóa" hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
aa
Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững Tài chính bán lẻ xanh: Dư địa lớn chờ khai mở Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Doanh nghiệp trước “bài toán xanh”

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ tín dụng xanh tính đến quý I/2026 đạt 828.000 tỷ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với năm 2017 - thời điểm bắt đầu triển khai. Tuy tăng trưởng đều, nhưng tín dụng xanh mới chỉ chiếm 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, cho thấy tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn.

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Theo đánh giá của bà Hoàng Thị Diệu Thúy - Giám đốc quan hệ khách hàng cấp cao, Khối Khách hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính (HSBC Việt Nam), thị trường tài chính bền vững sẽ còn tiếp tục mở rộng bởi nhu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp Việt Nam không hề nhỏ.

Có rất nhiều lý do thúc đẩy doanh nghiệp Việt hướng đến “xanh hóa” hoạt động. Đại diện HSBC chỉ rõ, trước hết, tình hình biến đổi khí hậu ngày càng để lại nhiều tác động trực tiếp lên tài sản và dòng tiền của doanh nghiệp, từ bão lũ, ngập lụt, nắng nóng kéo dài, hạn hán đến xâm nhập mặn.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh giá năng lượng biến động mạnh như hiện nay, mục tiêu tiết kiệm điện, tối ưu hóa vận hành đã trở nên thiết yếu và “đánh thẳng” vào kinh tế, chứ không chỉ đơn thuần là câu chuyện về trách nhiệm. Xét tổng thể, “xanh hóa” thường đi cùng với ứng dụng công nghệ hiện đại hóa, giảm hao hụt và tăng hiệu suất.

Kỳ vọng của nhà đầu tư, đối tác, nhân viên và người tiêu dùng cũng là động lực khiến doanh nghiệp cần phải xanh hóa. Nếu họ muốn tham gia vào chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường xuất khẩu, yêu cầu về sự minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải trở thành yếu tố không thể xem nhẹ.

“Điểm đáng chú ý là các yếu tố này không chỉ tác động lên một nhóm doanh nghiệp. Từ doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp sản xuất nội địa, đến doanh nghiệp dịch vụ và logistics, ai cũng sẽ gặp một phiên bản nào đó của “bài toán xanh”, hoặc để giảm chi phí, hoặc để giữ thị trường, hoặc để quản trị rủi ro, cho tới tính trách nhiệm lớn hơn đối với xã hội và nền kinh tế” - đại diện HSBC nêu góc nhìn.

Đa dạng công cụ tài chính, khoản vay

Điểm then chốt là vốn cho chuyển đổi xanh không chỉ là một khoản vay dài hạn cho một dự án lớn. Doanh nghiệp cần một loạt công cụ tài chính đa dạng, phù hợp cả nhu cầu vốn lưu động, lẫn đầu tư cho tài sản cố định như: thiết bị, dây chuyền, hạ tầng năng lượng, xử lý nước… Khi nhìn theo nhu cầu sử dụng vốn như vậy, tài chính bền vững sẽ bớt “xa vời” và trở thành một phần của kế hoạch kinh doanh.

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải bài toán xanh
Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải “bài toán xanh”. Ảnh minh họa.

Bà Hoàng Thị Diệu Thúy nêu rõ, với nhóm công cụ nợ, doanh nghiệp thường có nhiều cách tiếp cận. Nếu có hạng mục đầu tư cụ thể và chứng minh được tác động ví dụ như: thay máy móc tiết kiệm điện, lắp điện mặt trời mái nhà, nâng cấp hệ thống xử lý nước..., khoản vay xanh là lựa chọn phù hợp vì vốn được “đóng khung” cho mục đích rõ ràng.

Nếu doanh nghiệp muốn linh hoạt hơn, vốn có thể dùng cho nhiều nhu cầu, nhưng vẫn cam kết cải thiện hiệu quả bền vững thì khoản vay liên kết bền vững là lựa chọn tối ưu, vì điều kiện vay như lãi suất có thể gắn với một vài chỉ tiêu đo được, chẳng hạn như: giảm tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị sản phẩm hoặc tăng tỷ lệ nguyên liệu đạt chuẩn...

Nếu năng lực báo cáo đáp ứng yêu cầu thị trường, trái phiếu xanh có thể là kênh bổ sung để đa dạng hoá nguồn vốn trung dài hạn.

Tuy nhiên, để tài chính bền vững thực sự đi vào nền kinh tế, chúng ta không thể chỉ nói về vốn đầu tư.

Bởi theo bà Thúy, nhiều doanh nghiệp vướng nhất ở vốn lưu động: mua nguyên liệu, đáp ứng đơn hàng, kéo dài kỳ thanh toán, hoặc cần vốn để cải thiện quy trình theo yêu cầu của khách hàng... Đây là lúc tài trợ thương mại trở thành “mảnh ghép” quan trọng.

Các công cụ như: tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng thư/bảo lãnh, tài trợ khoản phải thu, hay tài trợ chuỗi cung ứng bám sát dòng hàng và dòng tiền, nên phù hợp với doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu vốn quay vòng.

Khi các giải pháp được thiết kế để khuyến khích tiêu chí bền vững, ví dụ ưu tiên nhà cung cấp đáp ứng tiêu chuẩn, hoặc gắn điều kiện với minh bạch dữ liệu..., doanh nghiệp có thể “xanh hoá” hoạt động thường nhật, mà không phải chờ một dự án lớn mới tiếp cận được vốn.

Chọn đúng hạng mục chuyển đổi để mở “cánh cửa” vốn xanh

Theo đại diện HSBC, để tiếp cận tài chính bền vững, doanh nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng một bộ báo cáo dày hàng trăm trang. Điều quan trọng hơn là chọn đúng “điểm rơi”, những hạng mục chuyển đổi vừa tạo tác động môi trường, vừa có hiệu quả tài chính đủ rõ để ngân hàng và nhà đầu tư “đọc” được.

“Thay vì dàn trải, doanh nghiệp nên ưu tiên 2 - 3 hạng mục có thể chứng minh lợi ích nhanh như tiết kiệm điện/nhiên liệu, giảm hao hụt nguyên vật liệu, tối ưu logistics, hoặc cải thiện quy trình để giảm lỗi và giảm phế phẩm. Đây là cách biến chuyển đổi xanh từ khẩu hiệu thành bài toán năng suất” - bà Thúy khuyến nghị.

Bước tiếp theo là đóng gói các hạng mục đó thành một kế hoạch chuyển đổi trong vòng 12 - 24 tháng chẳng hạn, có mục tiêu và chỉ tiêu đo được. Tiếp đó là yếu tố thường bị xem nhẹ, nhưng lại quyết định khả năng được duyệt vốn về dữ liệu tối thiểu. Điểm mấu chốt không phải là dữ liệu “hoàn hảo”, mà là dữ liệu nhất quán và có thể đối soát theo thời gian.

Song song, doanh nghiệp cần thiết lập một mức quản trị nội bộ đủ để triển khai và báo cáo. Doanh nghiệp cũng cần chủ động quản trị rủi ro “greenwashing” (tẩy xanh) theo cách đơn giản: chỉ cam kết những gì đo được, lưu bằng chứng (hoá đơn, hợp đồng, biên bản nghiệm thu, dữ liệu vận hành) và sẵn sàng đối soát.

Cách làm này không chỉ để “đúng chuẩn”, mà còn bảo vệ chính doanh nghiệp trước rủi ro uy tín và rủi ro pháp lý khi thị trường ngày càng coi trọng tính minh bạch. Khi doanh nghiệp làm tốt các bước trên, tài chính bền vững sẽ không còn là một cánh cửa khó mở mà trở thành một lựa chọn vốn hợp lý cho tăng trưởng dài hạn.

Bên cạnh đó, Chính phủ đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển tài chính bền vững.

“Các tiêu chuẩn xanh và cơ chế chứng nhận nằm trong nhóm chính sách ESG mà 56% doanh nghiệp tại Việt Nam mong muốn Chính phủ triển khai trong tương lai” - đại diện HSBC cho biết.

Khi những mảnh ghép được triển khai đồng bộ, tài chính bền vững sẽ trở thành đòn bẩy để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp, bền bỉ và cạnh tranh hơn trong một thế giới đang xanh hoá rất nhanh./.

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải
Bà Hoàng Thị Diệu Thúy - Khối Khách hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính (HSBC Việt Nam).

Công cụ nợ là “đòn bẩy”, tài trợ thương mại là “dầu bôi trơn”

“Công cụ nợ thường là “đòn bẩy” cho các khoản đầu tư tạo thay đổi mang tính cấu trúc như: thiết bị, công nghệ, hạ tầng...; còn tài trợ thương mại là “dầu bôi trơn” giúp chuyển đổi xanh chạy được trong guồng máy kinh doanh hằng ngày. Khi hai nhóm công cụ này được dùng đúng chỗ, doanh nghiệp sẽ có lộ trình vốn liền mạch, đầu tư để giảm tiêu hao và rủi ro, đồng thời có vốn lưu động để duy trì đơn hàng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường”.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

(TBTCO) - Việc nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% và miễn trừ một số khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm khỏi room được kỳ vọng thúc đẩy tín dụng, nhất là dự án hạ tầng và bất động sản. Tuy nhiên, VIS Rating lưu ý, động thái này làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn, rủi ro thanh khoản hệ thống và tạo áp lực huy động nhiều ngân hàng.
"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▼50K 13,600 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▼50K 13,550 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼50K 14,300 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼50K 14,230 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,600 14,900 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,600 14,900 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,600 14,900 ▼50K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,090 ▼50K 14,790 ▼50K
Trang sức 99.99 14,100 ▼50K 14,800 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,465 ▲1318K 14,952 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,465 ▲1318K 14,953 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,462 ▼5K 1,492 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,462 ▼5K 1,493 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,437 ▼5K 1,472 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 ▼495K 145,743 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▼675K 110,561 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 ▼640K 100,256 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 ▼605K 89,951 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 ▼592K 85,976 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 ▼508K 61,539 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Cập nhật: 08/07/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17670 17944 18521
CAD 18023 18298 18915
CHF 31909 32290 32931
CNY 0 3826 3918
EUR 29373 29593 30670
GBP 34308 34699 35635
HKD 0 3223 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14686 15276
SGD 19788 20069 20649
THB 701 764 818
USD (1,2) 26028 0 0
USD (5,10,20) 26069 0 0
USD (50,100) 26098 26112 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,487 29,511 30,896
JPY 157.57 157.85 167.23
GBP 34,483 34,576 35,739
AUD 17,898 17,963 18,625
CAD 18,170 18,228 18,886
CHF 32,115 32,215 33,130
SGD 19,911 19,973 20,738
CNY - 3,796 3,939
HKD 3,286 3,296 3,431
KRW 15.98 16.66 18.11
THB 750.6 759.87 812.86
NZD 14,626 14,762 15,184
SEK - 2,666 2,759
DKK - 3,945 4,080
NOK - 2,638 2,729
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,019.89 - 6,790.15
TWD 738.34 - 893.69
SAR - 6,885.36 7,246.7
KWD - 83,195 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,086 26,106 26,466
EUR 29,442 29,560 30,752
GBP 34,488 34,627 35,656
HKD 3,285 3,298 3,415
CHF 31,961 32,089 33,019
JPY 157.91 158.54 166.44
AUD 17,893 17,965 18,559
SGD 19,981 20,061 20,649
THB 768 771 807
CAD 18,185 18,258 18,828
NZD 14,707 15,246
KRW 16.60 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26466
AUD 17874 17974 18899
CAD 18190 18290 19304
CHF 32153 32183 33765
CNY 3806.8 3831.8 3967.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29573 29603 31326
GBP 34618 34668 36426
HKD 0 3355 0
JPY 158.5 159 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14801 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19962 20092 20818
THB 0 731.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14650000 14650000 14950000
SBJ 13000000 13000000 14950000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,466
USD20 26,121 26,171 26,466
USD1 26,121 26,171 26,466
AUD 17,954 18,054 19,159
EUR 29,361 29,461 31,117
CAD 18,121 18,221 19,525
SGD 20,040 20,190 20,745
JPY 158.98 160.48 166.01
GBP 34,506 34,656 35,731
XAU 14,648,000 0 14,952,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/07/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80