Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
aa

Tín dụng xanh gặp khó từ thẩm định đến giám sát

Chia sẻ mới đây tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế” do Báo Lao Động phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) dẫn ví dụ về một số doanh nghiệp nuôi biển ở Quảng Ninh có mô hình sản xuất rất tiềm năng.

Tuy nhiên theo ông Minh, khi tiếp cận vốn ngân hàng, các doanh nghiệp này vẫn vướng ở câu hỏi then chốt là có tài sản thế chấp hay không. Trong khi đó, tài sản của họ chủ yếu nằm trên biển, quyền sử dụng mặt biển và không gian biển chưa thực sự rõ ràng; mô hình kinh doanh lại tiềm ẩn rủi ro thiên tai, bão lũ.

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Ánh Tuyết

Câu chuyện cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu thúc đẩy tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện chính sách và cơ chế tín dụng phù hợp với các mô hình kinh doanh mới.

Ông Nguyễn Hồng Quang - Phó Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thừa nhận, dù đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và hoàn thiện khung chính sách, pháp luật, song tín dụng xanh vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

“Hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ hoạt động tín dụng xanh còn thiếu và phân tán. Trên thực tế, tín dụng xanh không chỉ đòi hỏi đánh giá khả năng trả nợ của dự án, mà còn yêu cầu xác định được mức độ giảm phát thải khí nhà kính, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các lợi ích môi trường khác” - ông Quang nêu rõ.

“Với các tổ chức tín dụng, cần tích hợp tiêu chí tín dụng xanh và ESG vào chiến lược kinh doanh; đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn như: tiền gửi xanh, trái phiếu xanh và trái phiếu bền vững; phát triển các sản phẩm tín dụng chuyên biệt cho từng ngành, lĩnh vực; chủ động tư vấn, hỗ trợ khách hàng chuẩn hóa hồ sơ theo các tiêu chuẩn xanh; đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính xanh và quản trị rủi ro môi trường”.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước.

Bên cạnh đó, cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả môi trường sau khi giải ngân còn hạn chế. “Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm nguồn vốn tín dụng xanh thực sự được sử dụng đúng mục đích và tạo ra các lợi ích môi trường như đã cam kết” - Phó Cục trưởng Cục Môi trường nhấn mạnh.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho rằng, khuôn khổ pháp lý về hệ thống tiêu chí nhận diện, xác định các dự án tuần hoàn và việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG hiện chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho cả tổ chức tín dụng và khách hàng trong quá trình thẩm định, triển khai và tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh.

Hơn nữa, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi xanh là rất lớn, trong khi khả năng cân đối nguồn lực của hệ thống ngân hàng còn nhiều thách thức. Chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn tiếp tục tạo áp lực lên khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng. Nguồn vốn quốc tế có chi phí cao, tiềm ẩn rủi ro tỉ giá và quy trình tiếp cận còn phức tạp.

Chuẩn hóa danh mục xanh, mở đường cho dòng vốn bền vững

Ở góc độ các định chế tài chính lớn, theo đại diện ACB, việc hoàn thiện khung pháp lý về tài chính xanh và tín dụng xanh mở ra cơ hội để ACB chuẩn hóa hoạt động cấp tín dụng xanh, mở rộng danh mục tài chính bền vững, gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn quốc tế và các nhà đầu tư ưu tiên tiêu chí ESG, đồng thời nâng cao uy tín và vị thế trong lĩnh vực tài chính bền vững.

Tuy nhiên, ACB cũng đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về năng lực thẩm định dự án xanh, chuẩn hóa dữ liệu, hạn chế rủi ro “tẩy xanh” và đáp ứng các tiêu chuẩn tuân thủ, báo cáo ESG ngày càng khắt khe.

Chỉ rõ một số khó khăn, vướng mắc trong triển khai tín dụng xanh, ông Nguyễn Quang Ngọc - Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank cho rằng, từ góc độ cơ chế, chính sách, vẫn chưa có hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia và danh mục dự án xanh được chuẩn hóa và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để làm cơ sở thu thập dữ liệu, đánh giá dự án theo chuẩn ESG.

Từ góc độ khách hàng, phần lớn khách hàng chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, năng lực lập báo cáo ESG còn yếu, quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm.

“Khó khăn trong công tác cân đối nguồn vốn do dự án xanh thường cần các nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp” - ông Ngọc đánh giá.

Trước những khó khăn, vướng mắc này, bà Hà Thu Giang khẳng định, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm thúc đẩy tín dụng xanh và tài chính bền vững.

Trước hết, chỉ đạo toàn hệ thống tập trung nguồn vốn tín dụng vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh; chủ động thiết kế, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng đặc thù, nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về dự án xanh, tuần hoàn và khung tiêu chuẩn ESG.

Đồng thời, ban hành Thông tư hướng dẫn triển khai đối với các ngân hàng thương mại sau khi Nghị định được Chính phủ ban hành.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

(TBTCO) - Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, cộng đồng doanh nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp hỗ trợ tăng trưởng, trong đó nổi bật là cơ chế sandbox liên kết với doanh nghiệp FDI và mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 15,140
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 15,030
Trang sức 99.99 14,340 15,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 05/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80