Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Ánh Tuyết
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
aa

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Đổi “thước đo” sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Thanh khoản VND khan hiếm, tiền gửi Kho bạc thêm quan trọng

Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa có báo cáo đánh giá về tiền gửi Kho bạc và thanh khoản hệ thống.

Theo đánh giá của nhóm phân tích VDSC, nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với thanh khoản hệ thống ngân hàng trên cả thị trường 1 (tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế) và thị trường 2 (liên ngân hàng), đặc biệt trong giai đoạn 2023 - 2025.

Từ năm 2023, khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 26/2022/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN về việc cho phép tính phần tiền gửi Kho bạc vào mẫu số của LDR (tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi). Nói cách khác, một phần lượng tiền gửi Kho bạc được “đi thẳng” xuống thị trường 1, mà không cần chuyển hóa thành tiền gửi liên ngân hàng.

Khi đó, khung điều hành chính sách tiền tệ có sự thay đổi lớn, tăng cường vai trò chính sách tài khóa trong chính sách tiền tệ.

Tiền gửi Kho bạc thành “phao thanh khoản”, lãi suất chưa dễ hạ

Vậy tại sao lại cần đến nguồn tiền gửi Kho bạc này để hỗ trợ chính sách tiền tệ?

Hơn 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi Kho bạc, tập trung ở Big 4

Dữ liệu VDSC cho thấy, đến cuối tháng 3/2026, tổng số dư tiền gửi Kho bạc tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 626,7 nghìn tỷ đồng, trong đó nhóm “big 4” nắm giữ khoảng 624,2 nghìn tỷ đồng. Điều này ngụ ý rằng, thanh khoản hệ thống ngày càng phụ thuộc vào nguồn tiền gửi Kho bạc.

Theo góc nhìn của VDSC, vì tăng trưởng tín dụng mạnh và dòng tiền cho vay tìm tới các tài sản tài chính, vàng và bất động sản, cũng như các tài sản có vòng quay tín dụng thấp.

Những yếu tố này góp phần tạo ra chênh lệch kỳ hạn và thanh khoản trên bảng cân đối của các ngân hàng, đẩy các tỷ lệ lên cực hạn, có giai đoạn tỷ lệ LDR tăng mạnh.

“Chính sự mất cân đối này dẫn tới việc hệ thống lấy nguồn huy động thị trường thị trường 2 để tài trợ phần nào cho thị trường 1, cũng như để giải quyết vấn đề về tỷ lệ như: tỷ lệ LDR, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, đảm bảo cho tỷ lệ không vượt quá quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tiền trong hệ thống phải quay vòng liên tục tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống” - nhóm phân tích VDSC nêu quan điểm.

Hệ quả của việc hệ thống ngân hàng bị mất cân đối là không thể tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp, cả thị trường 1 lẫn thị trường 2 được nữa. Đặc biệt là khi nguồn huy động thị trường 2 cũng khan hiếm và phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tiền gửi Kho bạc.

Ngoài ra, so với năm 2022, bản chất căng thẳng thanh khoản trong năm 2026 có sự khác biệt. Năm 2022, áp lực chủ yếu đến từ dòng USD rút khỏi hệ thống, buộc các ngân hàng sử dụng nguồn VND trên thị trường 1 để hoán đổi lấy USD và quay vòng trên thị trường 2.

"Năm 2026, vấn đề nằm nhiều hơn ở cấu trúc bảng cân đối và tình trạng thiếu thanh khoản VND cả hai thị trường. Do đó, vai trò của nguồn vốn bổ sung như tiền gửi Kho bạc trong cân đối thanh khoản hệ thống trở nên quan trọng” - VDSC nhấn mạnh.

Theo đó, khi nguồn thu ngân sách chảy vào tài khoản Kho bạc thì một lượng tiền được “rút” khỏi nguồn huy động thị trường 1, qua đó, tác động đến lãi suất huy động thị trường 1.

Ngược lại, khi Kho bạc Nhà nước gửi tiền trở lại các nhóm “big 4”, nguồn vốn này có thể nhanh chóng bổ sung thanh khoản và tác động đến lãi suất thị trường 2.

“Lãi suất thị trường 2 không chỉ chịu ảnh hưởng từ hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước thông qua OMO (thị trường mở), mà còn phụ thuộc đáng kể vào lượng tiền gửi Kho bạc” - nhóm phân tích đánh giá.

Vì vậy, tiền gửi Kho bạc trở thành một trong những nguồn lực mà nhà điều hành kỳ vọng sẽ giúp hỗ trợ thanh khoản và góp phần hạ nhiệt lãi suất trên cả thị trường 1 và thị trường 2.

Cần thêm các giải pháp hỗ trợ thanh khoản

Vấn đề cốt lõi hiện nay vẫn là chênh lệch huy động - tín dụng ngày càng nới rộng, trong khi vòng quay tín dụng chậm và nhu cầu vốn vẫn cao.

Điều này buộc các ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức cao để thu hút tiền gửi trên thị trường 1 và chênh lệch lãi suất VND - USD neo ở mức cao. Điểm tích cực của trạng thái này là góp phần ổn định tỷ giá VND/USD trong nửa đầu năm.

Tiền gửi Kho bạc thành “phao thanh khoản”, lãi suất chưa dễ hạ

Đến tháng 5/2026, Ngân hàng Nhà nước ban thành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN cho phép tính lại 20% tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn vào mẫu số LDR và đến tháng 6/2026, tiếp tục nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SFL) lên mức 40% tại Thông tư số 25/2026/TT - NHNN.

Đây được đánh giá là bước đi cần thiết, nhằm “cơi nới” về mặt cấu trúc cho hệ thống và khai thác nguồn vốn ngắn hạn từ tiền gửi Kho bạc cho việc ổn định cân đối huy động - tín dụng.

"Các tỷ lệ LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn sau khi sửa đổi (cơi nới về mặt cấu trúc cho hệ thống) vẫn cần thời gian để hệ thống ngân hàng cân đối, điều chỉnh và phát huy hiệu lực, đặc biệt đối với tỷ lệ SFL” - VDSC nêu rõ.

Dù việc nới hai tỷ lệ LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là cần thiết, nhưng chưa đủ.

Hiện thanh khoản VND vẫn khan hiếm và mặt bằng lãi suất vẫn neo cao. Ngoài ra, tiền gửi Kho bạc chỉ hỗ trợ ngắn hạn, kém ổn định và đòi hỏi thêm bộ đệm thanh khoản, nên khó phụ thuộc lâu dài, nhất là khi hiệu quả công cụ này giảm dần trong bối cảnh tăng thu ngân sách.

Đánh giá triển vọng hạ nhiệt lãi suất, VDSC cho rằng trong bối cảnh các ngân hàng vẫn phải duy trì lãi suất huy động cao để hút tiền gửi và tăng phát hành giấy tờ có giá, dư địa giảm lãi suất còn hạn chế, nên cần thêm các giải pháp hỗ trợ thanh khoản.

Một là, bên cạnh OMO, có thể tận dụng nguồn USD có trong hệ thống thông qua mở rộng kênh hoán đổi (swap USD-VND). Điều này sẽ giúp bổ sung nguồn thanh khoản trong ngắn hạn, tạo thêm không gian cho hệ thống “tự ổn định” và tự cân đối lại cấu trúc qua thời gian.

“Chúng tôi cho rằng giải pháp này vừa không ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối, vừa không ảnh hưởng trực tiếp lên tỷ giá trong ngắn hạn” - VDSC đánh giá.

Hai là, tiếp tục “cơi nới” ở mức cao hơn cho tỷ lệ tiền gửi Kho bạc gửi tại ngân hàng từ nguồn ngân sách nhàn rỗi đang ở mức 50%. Tuy nhiên công cụ này sẽ bị giảm hiệu lực trong bối cảnh tăng thu ngân sách và đòi hỏi có sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Ba là, can thiệp ngoại sinh bơm tiền, vốn có thể giải quyết vấn đề trên cân đối, nhưng ảnh hưởng trực tiếp lên tỷ giá, dự trữ ngoại hối./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 22:00
Ngân hàng