Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Ánh Tuyết
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
aa

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Đổi “thước đo” sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Thanh khoản VND khan hiếm, tiền gửi Kho bạc thêm quan trọng

Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa có báo cáo đánh giá về tiền gửi Kho bạc và thanh khoản hệ thống.

Theo đánh giá của nhóm phân tích VDSC, nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với thanh khoản hệ thống ngân hàng trên cả thị trường 1 (tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế) và thị trường 2 (liên ngân hàng), đặc biệt trong giai đoạn 2023 - 2025.

Từ năm 2023, khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 26/2022/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN về việc cho phép tính phần tiền gửi Kho bạc vào mẫu số của LDR (tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi). Nói cách khác, một phần lượng tiền gửi Kho bạc được “đi thẳng” xuống thị trường 1, mà không cần chuyển hóa thành tiền gửi liên ngân hàng.

Khi đó, khung điều hành chính sách tiền tệ có sự thay đổi lớn, tăng cường vai trò chính sách tài khóa trong chính sách tiền tệ.

Tiền gửi Kho bạc thành “phao thanh khoản”, lãi suất chưa dễ hạ

Vậy tại sao lại cần đến nguồn tiền gửi Kho bạc này để hỗ trợ chính sách tiền tệ?

Hơn 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi Kho bạc, tập trung ở Big 4

Dữ liệu VDSC cho thấy, đến cuối tháng 3/2026, tổng số dư tiền gửi Kho bạc tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 626,7 nghìn tỷ đồng, trong đó nhóm “big 4” nắm giữ khoảng 624,2 nghìn tỷ đồng. Điều này ngụ ý rằng, thanh khoản hệ thống ngày càng phụ thuộc vào nguồn tiền gửi Kho bạc.

Theo góc nhìn của VDSC, vì tăng trưởng tín dụng mạnh và dòng tiền cho vay tìm tới các tài sản tài chính, vàng và bất động sản, cũng như các tài sản có vòng quay tín dụng thấp.

Những yếu tố này góp phần tạo ra chênh lệch kỳ hạn và thanh khoản trên bảng cân đối của các ngân hàng, đẩy các tỷ lệ lên cực hạn, có giai đoạn tỷ lệ LDR tăng mạnh.

“Chính sự mất cân đối này dẫn tới việc hệ thống lấy nguồn huy động thị trường thị trường 2 để tài trợ phần nào cho thị trường 1, cũng như để giải quyết vấn đề về tỷ lệ như: tỷ lệ LDR, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, đảm bảo cho tỷ lệ không vượt quá quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tiền trong hệ thống phải quay vòng liên tục tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống” - nhóm phân tích VDSC nêu quan điểm.

Hệ quả của việc hệ thống ngân hàng bị mất cân đối là không thể tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp, cả thị trường 1 lẫn thị trường 2 được nữa. Đặc biệt là khi nguồn huy động thị trường 2 cũng khan hiếm và phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tiền gửi Kho bạc.

Ngoài ra, so với năm 2022, bản chất căng thẳng thanh khoản trong năm 2026 có sự khác biệt. Năm 2022, áp lực chủ yếu đến từ dòng USD rút khỏi hệ thống, buộc các ngân hàng sử dụng nguồn VND trên thị trường 1 để hoán đổi lấy USD và quay vòng trên thị trường 2.

"Năm 2026, vấn đề nằm nhiều hơn ở cấu trúc bảng cân đối và tình trạng thiếu thanh khoản VND cả hai thị trường. Do đó, vai trò của nguồn vốn bổ sung như tiền gửi Kho bạc trong cân đối thanh khoản hệ thống trở nên quan trọng” - VDSC nhấn mạnh.

Theo đó, khi nguồn thu ngân sách chảy vào tài khoản Kho bạc thì một lượng tiền được “rút” khỏi nguồn huy động thị trường 1, qua đó, tác động đến lãi suất huy động thị trường 1.

Ngược lại, khi Kho bạc Nhà nước gửi tiền trở lại các nhóm “big 4”, nguồn vốn này có thể nhanh chóng bổ sung thanh khoản và tác động đến lãi suất thị trường 2.

“Lãi suất thị trường 2 không chỉ chịu ảnh hưởng từ hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước thông qua OMO (thị trường mở), mà còn phụ thuộc đáng kể vào lượng tiền gửi Kho bạc” - nhóm phân tích đánh giá.

Vì vậy, tiền gửi Kho bạc trở thành một trong những nguồn lực mà nhà điều hành kỳ vọng sẽ giúp hỗ trợ thanh khoản và góp phần hạ nhiệt lãi suất trên cả thị trường 1 và thị trường 2.

Cần thêm các giải pháp hỗ trợ thanh khoản

Vấn đề cốt lõi hiện nay vẫn là chênh lệch huy động - tín dụng ngày càng nới rộng, trong khi vòng quay tín dụng chậm và nhu cầu vốn vẫn cao.

Điều này buộc các ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức cao để thu hút tiền gửi trên thị trường 1 và chênh lệch lãi suất VND - USD neo ở mức cao. Điểm tích cực của trạng thái này là góp phần ổn định tỷ giá VND/USD trong nửa đầu năm.

Tiền gửi Kho bạc thành “phao thanh khoản”, lãi suất chưa dễ hạ

Đến tháng 5/2026, Ngân hàng Nhà nước ban thành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN cho phép tính lại 20% tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn vào mẫu số LDR và đến tháng 6/2026, tiếp tục nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SFL) lên mức 40% tại Thông tư số 25/2026/TT - NHNN.

Đây được đánh giá là bước đi cần thiết, nhằm “cơi nới” về mặt cấu trúc cho hệ thống và khai thác nguồn vốn ngắn hạn từ tiền gửi Kho bạc cho việc ổn định cân đối huy động - tín dụng.

"Các tỷ lệ LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn sau khi sửa đổi (cơi nới về mặt cấu trúc cho hệ thống) vẫn cần thời gian để hệ thống ngân hàng cân đối, điều chỉnh và phát huy hiệu lực, đặc biệt đối với tỷ lệ SFL” - VDSC nêu rõ.

Dù việc nới hai tỷ lệ LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là cần thiết, nhưng chưa đủ.

Hiện thanh khoản VND vẫn khan hiếm và mặt bằng lãi suất vẫn neo cao. Ngoài ra, tiền gửi Kho bạc chỉ hỗ trợ ngắn hạn, kém ổn định và đòi hỏi thêm bộ đệm thanh khoản, nên khó phụ thuộc lâu dài, nhất là khi hiệu quả công cụ này giảm dần trong bối cảnh tăng thu ngân sách.

Đánh giá triển vọng hạ nhiệt lãi suất, VDSC cho rằng trong bối cảnh các ngân hàng vẫn phải duy trì lãi suất huy động cao để hút tiền gửi và tăng phát hành giấy tờ có giá, dư địa giảm lãi suất còn hạn chế, nên cần thêm các giải pháp hỗ trợ thanh khoản.

Một là, bên cạnh OMO, có thể tận dụng nguồn USD có trong hệ thống thông qua mở rộng kênh hoán đổi (swap USD-VND). Điều này sẽ giúp bổ sung nguồn thanh khoản trong ngắn hạn, tạo thêm không gian cho hệ thống “tự ổn định” và tự cân đối lại cấu trúc qua thời gian.

“Chúng tôi cho rằng giải pháp này vừa không ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối, vừa không ảnh hưởng trực tiếp lên tỷ giá trong ngắn hạn” - VDSC đánh giá.

Hai là, tiếp tục “cơi nới” ở mức cao hơn cho tỷ lệ tiền gửi Kho bạc gửi tại ngân hàng từ nguồn ngân sách nhàn rỗi đang ở mức 50%. Tuy nhiên công cụ này sẽ bị giảm hiệu lực trong bối cảnh tăng thu ngân sách và đòi hỏi có sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Ba là, can thiệp ngoại sinh bơm tiền, vốn có thể giải quyết vấn đề trên cân đối, nhưng ảnh hưởng trực tiếp lên tỷ giá, dự trữ ngoại hối./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép về niềm tin và khai thác mới, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ra mắt sản phẩm mới theo hướng đơn giản hơn, thiết thực hơn và sát nhu cầu bảo vệ tài chính của khách hàng, qua đó kỳ vọng mở rộng tệp khách hàng và hỗ trợ thị trường phục hồi bền vững trong thời gian tới.
Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Theo tổng hợp từ bảo hiểm xã hội các địa phương, chỉ trong ngày cao điểm kỷ niệm Ngày Bảo hiểm y tế (1/7), toàn hệ thống đã huy động nhiều nguồn lực xã hội để trao tặng hàng nghìn sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám, chữa bệnh ngoại trú tại 518 cơ sở y tế cấp cơ bản và chuyên sâu, trong đó có nhiều bệnh viện trước đây là tuyến trung ương và tuyến tỉnh sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng, góp phần giảm gánh nặng chi phí và tạo thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Kim TT/AVPL 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲300K 13,800 ▲300K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲300K 13,750 ▲300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▲300K 14,600 ▲300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▲300K 14,550 ▲300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▲300K 14,530 ▲300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
NL 99.90 13,050 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲100K
Trang sức 99.9 14,290 ▲300K 14,990 ▲300K
Trang sức 99.99 14,300 ▲300K 15,000 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 ▲30K 15,142 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 ▲30K 15,143 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 ▲30K 1,513 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 ▲30K 1,498 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 ▲2970K 148,317 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 ▲2250K 112,511 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 ▲2040K 102,024 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 ▲1830K 91,537 ▲1830K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 ▲1749K 87,492 ▲1749K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 ▲1251K 62,623 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cập nhật: 03/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17979 18558
CAD 18000 18275 18895
CHF 32079 32461 33110
CNY 0 3836 3929
EUR 29462 29683 30764
GBP 34303 34694 35635
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14703 15288
SGD 19832 20114 20685
THB 708 771 826
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80