Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Đề xuất nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước từ 20% lên 50%, thậm chí 100%

Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo tổng hợp ý kiến góp ý đối với dự thảo Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự thảo này được xây dựng để thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 và đã được lấy ý kiến rộng rãi từ các tổ chức tín dụng.

Đáng chú ý, dự thảo Thông tư đề xuất thay tỷ lệ LDR bởi tỷ lệ CDR và được tính trên thị trường 1. Theo đó, tỷ lệ này phản ánh quy mô tổng dư nợ cấp tín dụng trên thị trường 1 so với huy động vốn trên thị trường 1. Các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ CDR tối đa 85%.

Đổi
Nguồn: Dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước.

Góp ý về dự thảo này, MSB đánh giá rất cao và đồng thuận với định hướng sửa đổi theo hướng ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, đặc biệt là Basel III, qua đó góp phần nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính Việt Nam

“Việc nghiên cứu điều chỉnh tỷ lệ CDR theo hướng phản ánh đầy đủ hơn bản chất cấp tín dụng và cấu trúc nguồn vốn của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng thể hiện định hướng quản lý ngày càng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động ngân hàng hiện đại” - đại diện MSB nhận định.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu triển khai thử nghiệm và đánh giá tác động thực tế, các ngân hàng nhận thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục xem xét nhằm bảo đảm tính khả thi trong triển khai.

Về cấu phần D - huy động vốn, đại diện BIDV đề nghị không loại trừ tiền gửi của tổ chức tín dụng và tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Trường hợp vẫn loại trừ các khoản mục trên, đề xuất tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tăng mức hỗ trợ tỷ lệ tối thiểu 50%.

“Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, cần tận dụng, huy động tối đa các nguồn lực từ nền kinh tế, trong đó nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước là nguồn vốn rất quan trọng, tương đối ổn định và quy mô dồi dào sẽ hỗ trợ, bổ sung nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng theo chủ trương của Chính phủ và hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo an toàn tỷ lệ LDR theo quy định” - đại diện BIDV nêu góc nhìn.

“Việc giới hạn loại trừ 80% tiền gửi của Kho bạc Nhà nước khi tính cấu phần huy động vốn tạo áp lực lớn cho các ngân hàng phải tăng huy động trên thị trường (90 - 100 nghìn tỷ đồng) để đảm bảo tuân thủ CDR. Như vậy, phát sinh chi phí huy động vốn và cầu nguồn rất lớn cho hệ thống” - Vietcombank đánh giá.

Thậm chí, Vietcombank đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép tính 100% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động thay vì loại trừ 80% như tại dự thảo.

Agribank cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ loại trừ tiền gửi Nostro (tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác để phục vụ thanh toán quốc tế) và tiền gửi qua đêm, đồng thời tiếp tục cho phép tính các khoản tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR.

“Thực tế, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm (chiếm trên 90% tổng khối lượng giao dịch) cho thấy rủi ro biến động thanh khoản chủ yếu phát sinh từ các nguồn vốn này” - Agribank nêu rõ.

Đồng loạt đề xuất nới trần CDR

Bên cạnh các cấu phần tính CDR, mức trần tối đa 85% trong dự thảo cũng nhận được nhiều góp ý từ các ngân hàng.

Đại diện MB cho rằng, dự thảo đã chuyển từ cách tiếp cận LDR truyền thống sang CDR với phạm vi bao quát rộng hơn đáng kể. Theo đó, tử số bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, trong khi mẫu số lại thu hẹp khi loại trừ một số cấu phần huy động vốn đang được ghi nhận trong LDR hiện hành.

“Việc giữ nguyên trần 85% trong bối cảnh tử số mở rộng và mẫu số thu hẹp có thể tạo ra tác động thắt chặt kép, làm hạn chế khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và buộc các ngân hàng phải tăng huy động đột biến trong thời gian ngắn, kéo theo chi phí vốn cao hơn” - đại diện MB đặt vấn đề.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

SACOMBANK đề xuất bổ sung điều khoản chuyển tiếp CDR, vì định nghĩa thay đổi làm nhiều ngân hàng “đột ngột vi phạm”. Theo đại diện ngân hàng này, việc đưa CDR từ 90 - 95% về 85% đòi hỏi tăng huy động vốn hoặc giảm tín dụng, cả hai đều không thể thực hiện trong ngắn hạn mà không gây tác động tiêu cực.

Theo khảo sát sơ bộ của VIB, 10 ngân hàng lớn đã tính toán tỷ lệ CDR, đại đa số đều đang ở mức 95 - 98%. Dự kiến, nếu thực hiện theo quy định tại dự thảo Thông tư, lượng tiền huy động cần phải tăng 1.031 nghìn tỷ đồng.

Ước tính áp lực CDR khiến hệ thống đua huy động 2,6 triệu tỷ đồng

Theo tính toán của VPBank, để đáp ứng tỷ lệ CDR của toàn hệ thống, giả định các ngân hàng duy trì tỷ lệ ở mức 80% so với hạn mức 85% của Ngân hàng Nhà nước, thì huy động thị trường 1 phải tăng thêm 2,6 triệu tỷ đồng. Đồng thời, do tỷ lệ CDR tối đa là 85%, toàn hệ thống sẽ bị dư 1,6 triệu tỷ đồng và tất cả ngân hàng sẽ phải duy trì trạng thái thừa nguồn huy động, để đáp ứng tỷ lệ CDR.

VPBank cũng đề xuất điều chỉnh hạn mức CDR lên mức 100%, thay vì 85% như dự thảo. Bên cạnh đó, VPBank đề xuất Ngân hàng Nhà nước ghi nhận các khoản vay tổ chức tín dụng khác (loại trừ nguồn vốn vay nước ngoài đã giảm trừ khỏi tổng dư nợ cấp tín dụng) vào nguồn huy động với tỷ lệ phù hợp, có thể thấp hơn nguồn thị trường 1, nhưng cũng là nguồn luân chuyển tái tục thường xuyên.

“Những yếu tố này sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất huy động thị trường 1 tăng cao, qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất cho vay thị trường 1 và chưa phù hợp với định hướng bình ổn lãi suất của Ngân hàng Nhà nước” - đại diện VPBank dự báo.

Với bối cảnh hiện tại, theo ước tính của Techcombank, gần như toàn bộ các ngân hàng đều không thỏa mãn ngưỡng tỷ lệ CDR. Việc mở rộng phạm vi định nghĩa về tổng tín dụng so với tổng cho vay, thu hẹp phạm vi huy động vốn, sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng đều đang tồn tại các khoản phát hành, cho vay còn hiệu lực, và sẽ không thể tất toán, thay thế ngay lập tức.

“Việc áp dụng ngưỡng 85% sẽ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất huy động cũng như cho vay của hệ thống ngân hàng” - Techcombank nhìn nhận.

Vì vậy, các ngân hàng đề nghị Ngân hàng Nhà nước cân nhắc xem xét điều chỉnh ngưỡng cần duy trì tỷ lệ CDR và có lộ trình giảm dần cụ thể thay vì áp dụng ngay khi thông tư mới có hiệu lực. Lộ trình kiến nghị áp dụng CDR đối với các ngân hàng lựa chọn chưa áp dụng sớm LCR, NSFR, bắt đầu với mức tối đa 120% trước ngày 1/1/2028 và giảm dần, còn 90% từ ngày 1/1/2030./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

(TBTCO) - Năm 2026, Vietnam Airlines đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Dù dự kiến lãi khoảng 2.000 tỷ đồng nửa đầu năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm khoảng 510 tỷ đồng do áp lực từ giá nhiên liệu bay. Hãng tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn, tăng vốn để trả nợ, đầu tư dài hạn và chủ động ứng phó biến động thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,250 ▼50K 13,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,200 ▼50K 13,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 ▼50K 14,200 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 ▼50K 14,180 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼100K 14,590 ▼100K
Trang sức 99.99 13,900 ▼100K 14,600 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1310K 14,802 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1310K 14,803 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼5K 1,479 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼5K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▼5K 1,464 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼124651K 14,495 ▼130951K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▼375K 109,961 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▼340K 99,712 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▼305K 89,463 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼68700K 8,551 ▼77250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▼208K 61,205 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cập nhật: 29/06/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18455
CAD 17989 18264 18881
CHF 31868 32249 32897
CNY 0 3828 3921
EUR 29347 29567 30648
GBP 33956 34346 35284
HKD 0 3221 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15138
SGD 19779 20061 20642
THB 705 769 822
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26461
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,121 26,121 26,461
USD(1-2-5) 25,077 - -
USD(10-20) 25,077 - -
EUR 29,614 29,638 31,000
JPY 158.78 159.07 168.4
GBP 34,293 34,386 35,514
AUD 17,890 17,955 18,609
CAD 18,275 18,334 18,975
CHF 32,249 32,349 33,241
SGD 20,003 20,065 20,820
CNY - 3,814 3,954
HKD 3,300 3,310 3,442
KRW 15.79 16.47 17.89
THB 756.99 766.34 819.12
NZD 14,612 14,748 15,159
SEK - 2,673 2,763
DKK - 3,962 4,095
NOK - 2,618 2,706
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,070.98 - 6,843.95
TWD 748.51 - 905.28
SAR - 6,913.42 7,269.75
KWD - 83,470 88,665
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,101 26,121 26,461
EUR 29,401 29,519 30,699
GBP 34,102 34,239 35,249
HKD 3,286 3,299 3,415
CHF 31,936 32,064 32,976
JPY 158.57 159.21 166.99
AUD 17,767 17,838 18,423
SGD 19,977 20,057 20,635
THB 768 771 806
CAD 18,206 18,279 18,840
NZD 14,581 15,109
KRW 16.38 18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26097 26097 26461
AUD 17779 17879 18801
CAD 18170 18270 19284
CHF 32091 32121 33703
CNY 3808.5 3833.5 3968.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29518 29548 31270
GBP 34236 34286 36038
HKD 0 3355 0
JPY 158.84 159.34 169.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14648 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19933 20063 20789
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,461
USD20 26,135 26,185 26,461
USD1 26,135 26,185 26,461
AUD 17,824 17,924 19,037
EUR 29,656 29,656 31,380
CAD 18,136 18,236 19,545
SGD 20,022 20,172 20,732
JPY 159.57 161.07 165.63
GBP 34,125 34,475 35,598
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/06/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80