Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Đề xuất nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước từ 20% lên 50%, thậm chí 100%

Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo tổng hợp ý kiến góp ý đối với dự thảo Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự thảo này được xây dựng để thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 và đã được lấy ý kiến rộng rãi từ các tổ chức tín dụng.

Đáng chú ý, dự thảo Thông tư đề xuất thay tỷ lệ LDR bởi tỷ lệ CDR và được tính trên thị trường 1. Theo đó, tỷ lệ này phản ánh quy mô tổng dư nợ cấp tín dụng trên thị trường 1 so với huy động vốn trên thị trường 1. Các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ CDR tối đa 85%.

Đổi
Nguồn: Dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước.

Góp ý về dự thảo này, MSB đánh giá rất cao và đồng thuận với định hướng sửa đổi theo hướng ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, đặc biệt là Basel III, qua đó góp phần nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính Việt Nam

“Việc nghiên cứu điều chỉnh tỷ lệ CDR theo hướng phản ánh đầy đủ hơn bản chất cấp tín dụng và cấu trúc nguồn vốn của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng thể hiện định hướng quản lý ngày càng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động ngân hàng hiện đại” - đại diện MSB nhận định.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu triển khai thử nghiệm và đánh giá tác động thực tế, các ngân hàng nhận thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục xem xét nhằm bảo đảm tính khả thi trong triển khai.

Về cấu phần D - huy động vốn, đại diện BIDV đề nghị không loại trừ tiền gửi của tổ chức tín dụng và tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Trường hợp vẫn loại trừ các khoản mục trên, đề xuất tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tăng mức hỗ trợ tỷ lệ tối thiểu 50%.

“Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, cần tận dụng, huy động tối đa các nguồn lực từ nền kinh tế, trong đó nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước là nguồn vốn rất quan trọng, tương đối ổn định và quy mô dồi dào sẽ hỗ trợ, bổ sung nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng theo chủ trương của Chính phủ và hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo an toàn tỷ lệ LDR theo quy định” - đại diện BIDV nêu góc nhìn.

“Việc giới hạn loại trừ 80% tiền gửi của Kho bạc Nhà nước khi tính cấu phần huy động vốn tạo áp lực lớn cho các ngân hàng phải tăng huy động trên thị trường (90 - 100 nghìn tỷ đồng) để đảm bảo tuân thủ CDR. Như vậy, phát sinh chi phí huy động vốn và cầu nguồn rất lớn cho hệ thống” - Vietcombank đánh giá.

Thậm chí, Vietcombank đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép tính 100% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động thay vì loại trừ 80% như tại dự thảo.

Agribank cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ loại trừ tiền gửi Nostro (tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác để phục vụ thanh toán quốc tế) và tiền gửi qua đêm, đồng thời tiếp tục cho phép tính các khoản tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR.

“Thực tế, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm (chiếm trên 90% tổng khối lượng giao dịch) cho thấy rủi ro biến động thanh khoản chủ yếu phát sinh từ các nguồn vốn này” - Agribank nêu rõ.

Đồng loạt đề xuất nới trần CDR

Bên cạnh các cấu phần tính CDR, mức trần tối đa 85% trong dự thảo cũng nhận được nhiều góp ý từ các ngân hàng.

Đại diện MB cho rằng, dự thảo đã chuyển từ cách tiếp cận LDR truyền thống sang CDR với phạm vi bao quát rộng hơn đáng kể. Theo đó, tử số bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, trong khi mẫu số lại thu hẹp khi loại trừ một số cấu phần huy động vốn đang được ghi nhận trong LDR hiện hành.

“Việc giữ nguyên trần 85% trong bối cảnh tử số mở rộng và mẫu số thu hẹp có thể tạo ra tác động thắt chặt kép, làm hạn chế khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và buộc các ngân hàng phải tăng huy động đột biến trong thời gian ngắn, kéo theo chi phí vốn cao hơn” - đại diện MB đặt vấn đề.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

SACOMBANK đề xuất bổ sung điều khoản chuyển tiếp CDR, vì định nghĩa thay đổi làm nhiều ngân hàng “đột ngột vi phạm”. Theo đại diện ngân hàng này, việc đưa CDR từ 90 - 95% về 85% đòi hỏi tăng huy động vốn hoặc giảm tín dụng, cả hai đều không thể thực hiện trong ngắn hạn mà không gây tác động tiêu cực.

Theo khảo sát sơ bộ của VIB, 10 ngân hàng lớn đã tính toán tỷ lệ CDR, đại đa số đều đang ở mức 95 - 98%. Dự kiến, nếu thực hiện theo quy định tại dự thảo Thông tư, lượng tiền huy động cần phải tăng 1.031 nghìn tỷ đồng.

Ước tính áp lực CDR khiến hệ thống đua huy động 2,6 triệu tỷ đồng

Theo tính toán của VPBank, để đáp ứng tỷ lệ CDR của toàn hệ thống, giả định các ngân hàng duy trì tỷ lệ ở mức 80% so với hạn mức 85% của Ngân hàng Nhà nước, thì huy động thị trường 1 phải tăng thêm 2,6 triệu tỷ đồng. Đồng thời, do tỷ lệ CDR tối đa là 85%, toàn hệ thống sẽ bị dư 1,6 triệu tỷ đồng và tất cả ngân hàng sẽ phải duy trì trạng thái thừa nguồn huy động, để đáp ứng tỷ lệ CDR.

VPBank cũng đề xuất điều chỉnh hạn mức CDR lên mức 100%, thay vì 85% như dự thảo. Bên cạnh đó, VPBank đề xuất Ngân hàng Nhà nước ghi nhận các khoản vay tổ chức tín dụng khác (loại trừ nguồn vốn vay nước ngoài đã giảm trừ khỏi tổng dư nợ cấp tín dụng) vào nguồn huy động với tỷ lệ phù hợp, có thể thấp hơn nguồn thị trường 1, nhưng cũng là nguồn luân chuyển tái tục thường xuyên.

“Những yếu tố này sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất huy động thị trường 1 tăng cao, qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất cho vay thị trường 1 và chưa phù hợp với định hướng bình ổn lãi suất của Ngân hàng Nhà nước” - đại diện VPBank dự báo.

Với bối cảnh hiện tại, theo ước tính của Techcombank, gần như toàn bộ các ngân hàng đều không thỏa mãn ngưỡng tỷ lệ CDR. Việc mở rộng phạm vi định nghĩa về tổng tín dụng so với tổng cho vay, thu hẹp phạm vi huy động vốn, sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng đều đang tồn tại các khoản phát hành, cho vay còn hiệu lực, và sẽ không thể tất toán, thay thế ngay lập tức.

“Việc áp dụng ngưỡng 85% sẽ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất huy động cũng như cho vay của hệ thống ngân hàng” - Techcombank nhìn nhận.

Vì vậy, các ngân hàng đề nghị Ngân hàng Nhà nước cân nhắc xem xét điều chỉnh ngưỡng cần duy trì tỷ lệ CDR và có lộ trình giảm dần cụ thể thay vì áp dụng ngay khi thông tư mới có hiệu lực. Lộ trình kiến nghị áp dụng CDR đối với các ngân hàng lựa chọn chưa áp dụng sớm LCR, NSFR, bắt đầu với mức tối đa 120% trước ngày 1/1/2028 và giảm dần, còn 90% từ ngày 1/1/2030./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

(TBTCO) - Ngày 29/9/2026 vừa qua, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Tổng công ty Truyền thông - Chi nhánh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tổng công ty VNPT-Media) đã chính thức tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Sự kiện mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa hai đơn vị, kết nối năng lực bảo hiểm của MIC với thế mạnh về công nghệ, nền tảng và hệ sinh thái khách hàng của VNPT, hướng tới nâng cao giá trị và trải nghiệm cho khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30