Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Đề xuất nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước từ 20% lên 50%, thậm chí 100%

Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo tổng hợp ý kiến góp ý đối với dự thảo Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự thảo này được xây dựng để thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 và đã được lấy ý kiến rộng rãi từ các tổ chức tín dụng.

Đáng chú ý, dự thảo Thông tư đề xuất thay tỷ lệ LDR bởi tỷ lệ CDR và được tính trên thị trường 1. Theo đó, tỷ lệ này phản ánh quy mô tổng dư nợ cấp tín dụng trên thị trường 1 so với huy động vốn trên thị trường 1. Các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ CDR tối đa 85%.

Đổi
Nguồn: Dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước.

Góp ý về dự thảo này, MSB đánh giá rất cao và đồng thuận với định hướng sửa đổi theo hướng ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, đặc biệt là Basel III, qua đó góp phần nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính Việt Nam

“Việc nghiên cứu điều chỉnh tỷ lệ CDR theo hướng phản ánh đầy đủ hơn bản chất cấp tín dụng và cấu trúc nguồn vốn của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng thể hiện định hướng quản lý ngày càng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động ngân hàng hiện đại” - đại diện MSB nhận định.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu triển khai thử nghiệm và đánh giá tác động thực tế, các ngân hàng nhận thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục xem xét nhằm bảo đảm tính khả thi trong triển khai.

Về cấu phần D - huy động vốn, đại diện BIDV đề nghị không loại trừ tiền gửi của tổ chức tín dụng và tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Trường hợp vẫn loại trừ các khoản mục trên, đề xuất tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tăng mức hỗ trợ tỷ lệ tối thiểu 50%.

“Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, cần tận dụng, huy động tối đa các nguồn lực từ nền kinh tế, trong đó nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước là nguồn vốn rất quan trọng, tương đối ổn định và quy mô dồi dào sẽ hỗ trợ, bổ sung nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng theo chủ trương của Chính phủ và hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo an toàn tỷ lệ LDR theo quy định” - đại diện BIDV nêu góc nhìn.

“Việc giới hạn loại trừ 80% tiền gửi của Kho bạc Nhà nước khi tính cấu phần huy động vốn tạo áp lực lớn cho các ngân hàng phải tăng huy động trên thị trường (90 - 100 nghìn tỷ đồng) để đảm bảo tuân thủ CDR. Như vậy, phát sinh chi phí huy động vốn và cầu nguồn rất lớn cho hệ thống” - Vietcombank đánh giá.

Thậm chí, Vietcombank đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép tính 100% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động thay vì loại trừ 80% như tại dự thảo.

Agribank cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ loại trừ tiền gửi Nostro (tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác để phục vụ thanh toán quốc tế) và tiền gửi qua đêm, đồng thời tiếp tục cho phép tính các khoản tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ CDR.

“Thực tế, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm (chiếm trên 90% tổng khối lượng giao dịch) cho thấy rủi ro biến động thanh khoản chủ yếu phát sinh từ các nguồn vốn này” - Agribank nêu rõ.

Đồng loạt đề xuất nới trần CDR

Bên cạnh các cấu phần tính CDR, mức trần tối đa 85% trong dự thảo cũng nhận được nhiều góp ý từ các ngân hàng.

Đại diện MB cho rằng, dự thảo đã chuyển từ cách tiếp cận LDR truyền thống sang CDR với phạm vi bao quát rộng hơn đáng kể. Theo đó, tử số bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, trong khi mẫu số lại thu hẹp khi loại trừ một số cấu phần huy động vốn đang được ghi nhận trong LDR hiện hành.

“Việc giữ nguyên trần 85% trong bối cảnh tử số mở rộng và mẫu số thu hẹp có thể tạo ra tác động thắt chặt kép, làm hạn chế khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và buộc các ngân hàng phải tăng huy động đột biến trong thời gian ngắn, kéo theo chi phí vốn cao hơn” - đại diện MB đặt vấn đề.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Nâng cao năng lực quản trị thanh khoản, tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

SACOMBANK đề xuất bổ sung điều khoản chuyển tiếp CDR, vì định nghĩa thay đổi làm nhiều ngân hàng “đột ngột vi phạm”. Theo đại diện ngân hàng này, việc đưa CDR từ 90 - 95% về 85% đòi hỏi tăng huy động vốn hoặc giảm tín dụng, cả hai đều không thể thực hiện trong ngắn hạn mà không gây tác động tiêu cực.

Theo khảo sát sơ bộ của VIB, 10 ngân hàng lớn đã tính toán tỷ lệ CDR, đại đa số đều đang ở mức 95 - 98%. Dự kiến, nếu thực hiện theo quy định tại dự thảo Thông tư, lượng tiền huy động cần phải tăng 1.031 nghìn tỷ đồng.

Ước tính áp lực CDR khiến hệ thống đua huy động 2,6 triệu tỷ đồng

Theo tính toán của VPBank, để đáp ứng tỷ lệ CDR của toàn hệ thống, giả định các ngân hàng duy trì tỷ lệ ở mức 80% so với hạn mức 85% của Ngân hàng Nhà nước, thì huy động thị trường 1 phải tăng thêm 2,6 triệu tỷ đồng. Đồng thời, do tỷ lệ CDR tối đa là 85%, toàn hệ thống sẽ bị dư 1,6 triệu tỷ đồng và tất cả ngân hàng sẽ phải duy trì trạng thái thừa nguồn huy động, để đáp ứng tỷ lệ CDR.

VPBank cũng đề xuất điều chỉnh hạn mức CDR lên mức 100%, thay vì 85% như dự thảo. Bên cạnh đó, VPBank đề xuất Ngân hàng Nhà nước ghi nhận các khoản vay tổ chức tín dụng khác (loại trừ nguồn vốn vay nước ngoài đã giảm trừ khỏi tổng dư nợ cấp tín dụng) vào nguồn huy động với tỷ lệ phù hợp, có thể thấp hơn nguồn thị trường 1, nhưng cũng là nguồn luân chuyển tái tục thường xuyên.

“Những yếu tố này sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất huy động thị trường 1 tăng cao, qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất cho vay thị trường 1 và chưa phù hợp với định hướng bình ổn lãi suất của Ngân hàng Nhà nước” - đại diện VPBank dự báo.

Với bối cảnh hiện tại, theo ước tính của Techcombank, gần như toàn bộ các ngân hàng đều không thỏa mãn ngưỡng tỷ lệ CDR. Việc mở rộng phạm vi định nghĩa về tổng tín dụng so với tổng cho vay, thu hẹp phạm vi huy động vốn, sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng đều đang tồn tại các khoản phát hành, cho vay còn hiệu lực, và sẽ không thể tất toán, thay thế ngay lập tức.

“Việc áp dụng ngưỡng 85% sẽ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất huy động cũng như cho vay của hệ thống ngân hàng” - Techcombank nhìn nhận.

Vì vậy, các ngân hàng đề nghị Ngân hàng Nhà nước cân nhắc xem xét điều chỉnh ngưỡng cần duy trì tỷ lệ CDR và có lộ trình giảm dần cụ thể thay vì áp dụng ngay khi thông tư mới có hiệu lực. Lộ trình kiến nghị áp dụng CDR đối với các ngân hàng lựa chọn chưa áp dụng sớm LCR, NSFR, bắt đầu với mức tối đa 120% trước ngày 1/1/2028 và giảm dần, còn 90% từ ngày 1/1/2030./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng, đưa vàng miếng lên 144,4 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn cao nhất đạt 144,7 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18913
CAD 18344 18620 19238
CHF 31601 31981 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29671 29893 30970
GBP 34618 35010 35945
HKD 0 3207 3409
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15074 15665
SGD 19946 20228 20798
THB 706 769 823
USD (1,2) 25915 0 0
USD (5,10,20) 25955 0 0
USD (50,100) 25984 25998 26365
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,410
USD20 25,990 26,090 26,809
USD1 24,301 26,090 26,859
AUD 18,335 18,435 19,562
EUR 29,706 29,806 31,494
CAD 18,494 18,594 19,921
SGD 20,212 20,362 20,947
JPY 161.36 162.86 168.59
GBP 34,909 35,059 36,160
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80