Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
aa

Lãi vay phát tín hiệu giảm rõ nét

Sau cuộc làm việc tuần qua do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng, động thái giảm lãi suất cho vay đã xuất hiện tại nhiều ngân hàng. Tuy nhiên, ở chiều huy động, khảo sát mặt bằng lãi suất ngay sau cuộc họp cho thấy chưa xuất hiện “làn sóng” điều chỉnh giảm đồng loạt như sau cuộc họp ngày 9/4 trước đó.

Ở phía cho vay, Sacombank là một trong những ngân hàng sớm đưa ra phương án cụ thể. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng triển khai ngay từ ngày 13/8 gói tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng xuất nhập khẩu, trên nền danh mục gần 100.000 tỷ đồng của phân khúc này. Theo đó, Sacombank giảm 2% lãi suất cho khách hàng mới và hiện hữu đến hết năm 2026, đồng thời chủ động thu hẹp biên lợi nhuận từ 2,79% xuống 0,79% để hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vốn.

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn
Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Ảnh: An Thư

Ngân hàng Sacombank cũng dành 10.000 - 15.000 tỷ đồng vốn ưu đãi cho các lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với lãi suất dự kiến 8,5 - 9%/năm.

Triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa, với vai trò tiên phong của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, nhóm “big 4” đã đồng loạt triển khai chương trình, với quy mô khoảng 220.000 tỷ đồng, triển khai từ tháng 8/2026 đến hết năm 2028 hoặc đến khi giải ngân hết hạn mức.

Trong đó, Agribank dành 70.000 tỷ đồng, với lãi suất giảm 1 - 2%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn; BIDV triển khai 50.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Vietcombank cũng dành 50.000 tỷ đồng hỗ trợ; tương tự, VietinBank triển khai gói 50.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn 1%/năm so với mức cho vay thông thường cùng kỳ hạn.

Cùng xu hướng giảm chi phí vốn cho khu vực sản xuất kinh doanh, KienlongBank triển khai chương trình “Đồng hành vốn vay - Chung tay gắn kết”, tập trung tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh. Mức giảm lãi suất lên tới 2,5%/năm, áp dụng linh hoạt tùy nhóm khách hàng và kỳ hạn khoản vay.

Trong khi đó, từ ngày 11/8/2026, NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với các gói tín dụng dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Đáng chú ý, dòng vốn ưu đãi của NCB được ưu tiên cho các dự án xanh, kinh tế số, doanh nghiệp xây lắp và cung ứng vật liệu xây dựng, đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia chuỗi dự án, công trình trọng điểm quốc gia.

Bài toán hạ lãi suất trước sức ép cuối năm

Thực tế, mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng rõ rệt từ cuối năm 2025 và tiếp tục tăng đáng kể những tháng đầu năm 2026, qua đó, thiết lập một mặt bằng mới.

Những tháng cuối năm, áp lực lên mặt bằng lãi suất có thể còn gia tăng, khi nhu cầu tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tiếp tục mở rộng nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, trong khi huy động vốn của toàn hệ thống tổ chức tín dụng vẫn tăng chậm hơn tín dụng.

Bên cạnh sức ép cung - cầu vốn trong nước, lạm phát có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới tăng hoặc duy trì lãi suất ở mức cao. Những yếu tố này khiến bài toán giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới phụ thuộc không nhỏ vào khả năng tiết giảm chi phí, chấp nhận thu hẹp biên lợi nhuận và cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng.

Kỳ vọng thanh khoản ngân hàng tiếp tục cải thiện

Ông Vũ Minh Trường - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Nguồn vốn và Thị trường Tài chính VPBank kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có những chính sách đảm bảo thanh khoản cho thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng), để hệ thống ngân hàng yên tâm hơn và không phải quá căng thẳng về thanh khoản.

Theo PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng), tăng trưởng tín dụng đến giữa tháng 7/2026 đã đạt 7,86% so với cuối năm 2025, trong khi mục tiêu cả năm là 15%, đặt trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế năm 2026 từ 10% trở lên theo Nghị quyết 168/NQ-CP. Nghĩa là nửa cuối năm, hệ thống ngân hàng phải đưa ra nền kinh tế một lượng vốn rất lớn. Đây chính là áp lực khiến lãi suất khó giảm sâu.

Bên cạnh đó, áp lực lên VND không chỉ đến từ đồng USD quốc tế, mà còn từ cầu ngoại tệ trong nước, nhập siêu hàng hóa và trạng thái điều hành tỷ giá.

“Ngay cả khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất và tỷ giá đồng USD quốc tế hạ nhiệt, VND vẫn có thể chịu áp lực riêng từ chính ”sức khỏe“ cán cân thương mại và dòng vốn nội địa. Đây là điểm mà các nhà chính sách cần lưu tâm” - PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân lưu ý.

Chia sẻ gần đây về diễn biến lãi suất cuối năm, Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh nhận định, mặt bằng lãi suất sẽ đi ngang từ nay đến cuối năm, vì Ngân hàng Nhà nước đang yêu cầu giữ ổn định. Nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất có thể tăng cao hơn, do thanh khoản chưa cải thiện nhiều, trong khi nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế và các dự án trọng điểm là rất lớn.

Ông Vũ Minh Trường - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Nguồn vốn và Thị trường Tài chính VPBank cũng kỳ vọng với diễn biến tích cực trên thị trường 2, ông Trường kỳ vọng mặt bằng lãi suất có thể bắt đầu hạ nhiệt từ cuối quý III - đầu quý IV/2026.

Cũng theo ông Trường, trong hai năm gần đây, khi Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ nền kinh tế, các ngân hàng tăng trưởng tín dụng lớn, trong khi tăng trưởng huy động không theo kịp. Vì vậy, gần đây các ngân hàng có xu hướng củng cố lại huy động trên thị trường 1 (thị trường dân cư - doanh nghiệp) để củng cố các chỉ số về thanh khoản. Do đó, lãi suất thị trường 1 vẫn khá nóng thời gian qua.

Cân bằng lãi suất giữa thu hút tiền gửi và giảm chi phí vay

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong định hướng điều hành chính sách lãi suất thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, vừa đảm bảo khả năng thu hút vốn huy động, vừa có lãi suất cho vay hợp lý; khuyến khích tổ chức tín dụng chia sẻ lợi ích, giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng.

Đồng thời, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát lãi suất huy động, cho vay, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm liên quan đến lãi suất, các hành vi cạnh tranh huy động vốn không lành mạnh.

Căn cứ việc tuân thủ nghiêm túc của tổ chức tín dụng đối với chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước sẽ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027 cho các tổ chức tín dụng theo hướng giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với tổ chức tín dụng không thực hiện đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước.

Room tín dụng, dù từng được đặt trong lộ trình từng bước gỡ bỏ, vẫn đang được nhà điều hành gắn với các mục tiêu cụ thể, như một cơ chế “thưởng - phạt”, qua đó, phân bổ dư địa tăng trưởng dựa trên mức độ tuân thủ định hướng chính sách của từng ngân hàng.

Trước đây, các ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém được “nới” thêm hạn mức tăng trưởng tín dụng, như một cơ chế khuyến khích.

Đầu năm nay, việc phân bổ room được gắn với mức độ kiểm soát tín dụng bất động sản, trong đó ngân hàng có tín dụng bất động sản tăng nhanh hơn tín dụng chung sẽ bị giảm hạn mức. Đến nay, cơ chế “thưởng - phạt” tiếp tục gắn với yêu cầu giảm lãi suất, khi tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo có thể bị giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm tới.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18134 18409 18986
CAD 18384 18661 19278
CHF 31682 32062 32707
CNY 0 3830 3940
EUR 29766 29988 31069
GBP 34736 35129 36067
HKD 0 3211 3413
JPY 158 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15216 15804
SGD 20005 20288 20858
THB 710 773 826
USD (1,2) 25952 0 0
USD (5,10,20) 25992 0 0
USD (50,100) 26021 26035 26405
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26400
AUD 18246 18346 19268
CAD 18548 18648 19663
CHF 31878 31908 33490
CNY 3826.4 3851.4 3986.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29899 29929 31655
GBP 35006 35056 36816
HKD 0 3330 0
JPY 161.21 161.71 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15271 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20128 20258 20981
THB 0 737.4 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80