Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
aa

Quy mô bảo vệ mở rộng, độ phủ còn khiêm tốn

Đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò trung tâm về chăn nuôi, thủy sản nước ngọt và kinh tế nông thôn của cả nước. Dù chỉ chiếm chưa đầy 12% diện tích tự nhiên và khoảng 18% dân số cả nước, khu vực này đóng góp hơn một nửa sản lượng lúa, gần hai phần ba sản lượng thủy sản nuôi trồng, khoảng 70% sản lượng trái cây và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Đáng chú ý, cơ cấu sản xuất của vùng đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản - những lĩnh vực có giá trị kinh tế cao, nhưng cũng nhạy cảm trước rủi ro thiên tai, dịch bệnh.

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng
Chế biến cá ngừ xuất khẩu tại nhà máy thuỷ sản Hồng Ngọc. Ảnh: Đức Thanh

Khác với bảo hiểm khoản vay, bảo hiểm nông nghiệp hướng tới bảo vệ cây trồng, vật nuôi và hoạt động sản xuất trước các rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Dưới sự định hướng của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, nhiều địa phương trong vùng đã từng bước mở rộng thí điểm các sản phẩm bảo hiểm đối với cây lúa, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản. Những nỗ lực này đã mang lại một số kết quả bước đầu mang tính định lượng.

Xét về doanh thu phí, số liệu từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, bảo hiểm nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng, đạt hơn 18 tỷ đồng trong 5 tháng đầu năm 2026. Trong khi đó, xét về quy mô bảo vệ, tổng giá trị được bảo hiểm của các chương trình bảo hiểm nông nghiệp trên cả nước năm vừa qua lên tới 7.800 tỷ đồng, với hơn 19.000 hộ sản xuất và tổ chức tham gia.

Cùng với đó, số tiền chi trả bồi thường tập trung chủ yếu ở lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản. Điều này minh chứng cho nhu cầu bảo vệ trước rủi ro của người dân là rất lớn và có thật.

Tuy nhiên, nếu đặt những con số này bên cạnh quy mô sản xuất hàng hóa khổng lồ của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, độ bao phủ của bảo hiểm nông nghiệp vẫn còn thấp.

Phần lớn hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, mức độ liên kết theo chuỗi còn hạn chế. Bên cạnh đó, bảo hiểm nông nghiệp chưa trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro phổ biến đối với người sản xuất. Nhận thức và mức độ tiếp cận bảo hiểm còn hạn chế, trong khi chi phí tham gia đối với một số loại cây trồng, vật nuôi vẫn tương đối cao so với thu nhập và hiệu quả sản xuất.

Giảm nỗi lo thiên tai, dịch bệnh, khơi dòng tín dụng nông nghiệp

Phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu trước rủi ro biến đổi khí hậu. Hoàn thiện chính sách, tăng hỗ trợ phí và xây dựng hệ thống dữ liệu số đồng bộ sẽ giúp mở rộng độ phủ bảo hiểm, bảo vệ sinh kế người dân. Khi “lá chắn” bảo hiểm đủ vững chắc, dòng vốn vay ngân hàng sẽ được giải phóng khỏi nỗi lo rủi ro thiên tai, dịch bệnh, thúc đẩy nền nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh bền vững.

ThS. Trần Trọng Triết

Không chỉ người nông dân gặp khó, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đang đối mặt với bài toán kinh doanh không hề dễ dàng. Sự phức tạp, khó lường của thiên tai, dịch bệnh và biến động giá cả thị trường khiến việc định phí bảo hiểm và kiểm soát tỷ lệ bồi thường trở thành áp lực lớn.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng này là do hệ thống dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro ở các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long hiện vẫn chưa được số hóa đồng bộ. Khi thiếu một “bản đồ rủi ro” chi tiết và minh bạch, các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải áp dụng mức phí cao để phòng ngừa tổn thất, vô hình trung lại đẩy sản phẩm này ra xa tầm tay của người nông dân.

Khi biến đổi khí hậu lấn sâu, một đợt thiên tai hay dịch bệnh có thể xóa sạch toàn bộ thành quả sản xuất của cả một vùng chỉ sau một đêm. Khi thiếu công cụ chia sẻ rủi ro, những tổn thất này có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, từ đó, làm gia tăng rủi ro tín dụng đối với ngân hàng. Đây cũng là một trong những yếu tố khiến các tổ chức tín dụng thận trọng hơn khi mở rộng vốn vào nông nghiệp, nhất là các khoản vay dài hạn phục vụ nông nghiệp xanh và ứng dụng công nghệ cao.

Mở rộng đối tượng, số hóa dữ liệu, nâng độ phủ bảo hiểm

Để bảo hiểm nông nghiệp thực sự trở thành công cụ thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ dòng vốn tín dụng, việc thay đổi căn bản cơ chế triển khai là yêu cầu cấp bách. Trong dài hạn, bảo hiểm nông nghiệp cần được gắn với Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đến năm 2030 cũng như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, qua đó tạo nền tảng mở rộng độ bao phủ và nâng cao khả năng ứng phó rủi ro cho người sản xuất.

Trước hết, chính sách hỗ trợ tài chính cần đi cùng với việc đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng nhóm đối tượng tham gia. Theo dự thảo sửa đổi Nghị định số 58/2018/NĐ-CP do Bộ Tài chính xây dựng, mức hỗ trợ phí bảo hiểm đối với hộ nghèo dự kiến được nâng lên tối đa 95%, đồng thời mở rộng phạm vi hỗ trợ tới các hộ sản xuất quy mô lớn, tổ chức và hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp.

Những thay đổi này, nếu được triển khai, sẽ góp phần giảm gánh nặng chi phí, mở rộng khả năng tiếp cận bảo hiểm và từng bước thu hẹp “khoảng trống” bảo vệ trong sản xuất nông nghiệp.

Song song đó, các sản phẩm bảo hiểm mới cần được thiết kế riêng cho đặc thù sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung ưu tiên vào các nhóm ngành có giá trị kinh tế cao và thâm dụng vốn lớn như: thủy sản nước ngọt, chăn nuôi tập trung, cây ăn quả và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Việc triển khai bảo hiểm theo chuỗi giá trị, từ liên kết đầu vào, sản xuất đến bao tiêu đầu ra, sẽ giúp giảm thiểu đáng kể chi phí quản lý và tối ưu hóa hiệu quả vận hành cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, số hóa toàn diện hệ thống quản trị rủi ro. Xu hướng toàn cầu cho thấy, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) là chìa khóa để nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí vận hành và tăng tốc độ xử lý bồi thường.

Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất về sản xuất nông nghiệp, dịch bệnh và thiên tai trên phạm vi lớn. Cơ sở dữ liệu này phải là kết quả của sự kết nối liên thông chặt chẽ giữa 4 nhà: ngành nông nghiệp, ngành tài chính, các doanh nghiệp bảo hiểm và chính quyền địa phương. Đây chính là hạ tầng mềm quyết định sự thành bại của quá trình chuyển đổi số thị trường bảo hiểm.

Ngoài ra, kinh nghiệm từ các nước phát triển (Mỹ, liên minh Châu Âu) và các nước tương đồng nông nghiệp (Ấn Độ, Thái Lan) cho thấy, tại các quốc gia này, bảo hiểm nông nghiệp thường được triển khai gắn với các chương trình tín dụng và chính sách hỗ trợ nông nghiệp, thay vì hoạt động riêng lẻ.

Chính phủ hỗ trợ một phần phí bảo hiểm, ngân hàng cấp vốn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời khuyến khích người vay tham gia bảo hiểm đối với cây trồng, vật nuôi. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể đẩy nhanh tiến độ xử lý bồi thường dựa trên dữ liệu, số hóa.

Khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh hoặc sự kiện thuộc phạm vi bảo hiểm, người sản xuất được bồi thường theo điều kiện hợp đồng, qua đó, bù đắp một phần thiệt hại, hỗ trợ khôi phục sản xuất và duy trì dòng tiền. Theo thỏa thuận giữa các bên, khoản bồi thường có thể được chuyển trực tiếp cho ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay; phần còn lại, nếu có, được chi trả cho người sản xuất để phục hồi hoạt động, tái sản xuất.

Qua đó, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh từ thiên tai, dịch bệnh cho ngân hàng. Đồng thời, nông dân được bảo vệ sinh kế, không bị chuyển nhóm nợ xấu khi gặp rủi ro bất khả kháng, dễ dàng tiếp cận các khoản vay mới để phục hồi sản xuất.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 17/08/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 17/08/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80