Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
aa

Tăng trưởng đi cùng củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm vốn

Trong 9 tháng năm 2026, Nam A Bank tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng và tăng cường các nền tảng an toàn. Lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ; ROE đạt gần 20%, tiếp tục đưa Nam A Bank vào nhóm các ngân hàng có tỷ suất sinh lời trên vốn top đầu thị trường, đảm bảo tối đa hóa lợi ích cho cổ đông và gia tăng tích lũy nội lực tài chính. Thu nhập ngoài lãi tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng khi đóng góp 26% vào tổng thu nhập hoạt động. Đặc biệt, mảng kinh doanh giấy tờ có giá bứt phá mạnh mẽ với mức tăng trưởng 30% so với cùng kỳ, đóng góp 5% vào lợi nhuận trước thuế.

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng
9 tháng năm 2026, Nam A Bank tăng trưởng ấn tượng và toàn diện

Song song với việc mở rộng quy mô kinh doanh, Nam A Bank đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng tài sản và gia tăng bộ đệm an toàn vốn.

Tỷ lệ nợ xấu (trước CIC) tính đến ngày 30/9/2026 giảm xuống quanh mức 1,5%, giảm mạnh 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng được kiểm soát ở mức rất thấp là 0,6%, phản ánh chất lượng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ từ khâu thẩm định, quản lý sau cho vay đến công tác xử lý nợ hiệu quả. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng 12,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, qua đó tăng cường nguồn lực dự phòng và khả năng chủ động xử lý các rủi ro tín dụng.

Cùng với việc nâng cao năng lực dự phòng, Nam A Bank tiếp tục củng cố nền tảng vốn. Ngân hàng đã hoàn tất chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 20%, hoàn thành phát hành 100 triệu cổ phiếu theo chương trình ESOP và hoàn tất chương trình phát hành gần 4.150 tỷ đồng trái phiếu vốn cấp 2 (bao gồm phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng), qua đó bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, tăng cường vốn cấp 2 và hỗ trợ duy trì các chỉ tiêu an toàn vốn.

Đáng chú ý, Nam A Bank đã hoàn thành đánh giá tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Thông tư số 14/2025/TT-NHNN, tạo nền tảng để tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ quản trị an toàn vốn theo định hướng Basel III. Đến cuối tháng 9, CAR đạt 11,3%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với cuối năm 2025 và vượt xa mức tối thiểu 8%.

Huy động vốn tăng mạnh, mở rộng nền tảng cho tăng trưởng tín dụng

Đến ngày 30/9/2026, huy động từ tổ chức kinh tế, dân cư và phát hành giấy tờ có giá của Nam A Bank đạt gần 254.000 tỷ đồng, tăng gần 20% so với cuối năm 2025.

Đồng thời, Nam A Bank tiếp tục chủ động phân bổ nguồn lực vào các tài sản có tính thanh khoản cao. Danh mục chứng khoán đầu tư đạt gần 48.700 tỷ đồng, tăng 21,5%, trong đó trái phiếu chính phủ đạt gần 32.600 tỷ đồng, tăng hơn 31% so với đầu năm. Danh mục này góp phần nâng cao tính linh hoạt trong quản trị nguồn vốn, đồng thời tạo thêm dư địa cho Nam A Bank chủ động cân đối thanh khoản và đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng.

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng
Nam A Bank đẩy mạnh hợp tác với các định chế tài chính quốc tế.

Trên nền tảng nguồn vốn được củng cố, tổng dư nợ tín dụng tăng 10,8% so với đầu năm. Tăng trưởng tín dụng tiếp tục được định hướng gắn với nhu cầu vốn của nền kinh tế, đảm bảo cân đối giữa mở rộng quy mô, chất lượng tài sản và các chỉ tiêu an toàn. Tín dụng đi vào các lĩnh vực có chuỗi giá trị khép kín (trà, thủy sản, cà phê, cao su...) với giá trị xuất khẩu cao, các ngành mang đến dòng tiền ổn định như giáo dục, y tế; giảm sâu tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực bất động sản.

Từ đầu năm 2026, Nam A Bank đẩy mạnh hợp tác với các định chế tài chính quốc tế như IFC, ADB, BlueOrchard, SIFEM, responsAbility, Proparco, FMO, Symbiotics và nhiều định chế tài chính khác, qua đó đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn, đồng thời tăng cường nguồn lực cho các lĩnh vực tài trợ thương mại, chuỗi cung ứng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài chính xanh và tài chính toàn diện. Tổng quy mô nguồn vốn quốc tế Nam A Bank đã huy động thành công từ đầu năm đến tháng 6/2026 đạt gần 350 triệu USD.

Trong thời gian còn lại của năm 2026, Nam A Bank tiếp tục nhận thêm các khoản vay hợp vốn quy mô lớn, đánh dấu bước chuyển từ mô hình vay song phương sang huy động vốn đa phương. Đồng thời, sau khi hoàn tất tăng hơn 3.400 tỷ đồng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu và 1.000 tỷ đồng từ ESOP, Ngân hàng tiếp tục thực hiện kế hoạch chào bán riêng lẻ 100 triệu cổ phiếu cho nhà đầu tư chuyên nghiệp theo chủ trương được Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 thông qua.

Việc liên tục mở rộng hợp tác và thu hút nguồn vốn quốc tế không chỉ bổ sung nguồn lực trung và dài hạn cho hoạt động kinh doanh, mà còn góp phần mở rộng hệ sinh thái đối tác, tăng cường năng lực quản trị theo các chuẩn mực quốc tế và tạo thêm dư địa để Nam A Bank đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Với kết quả 9 tháng, Nam A Bank đã đạt gần 80% kế hoạch lợi nhuận trước thuế và hơn 95% mục tiêu về tăng trưởng quy mô. Trong quý IV, Nam A Bank sẽ tiếp tục tập trung hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh doanh năm 2026 trên cơ sở cân đối giữa tăng trưởng tín dụng, huy động vốn, hiệu quả hoạt động và kiểm soát chất lượng tài sản./.

Ánh Hồng

Đọc thêm

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼50K
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17530 17802 18378
CAD 17701 17975 18590
CHF 30691 31067 31707
CNY 0 3837 3932
EUR 28476 28693 29771
GBP 33567 33955 34886
HKD 0 3184 3386
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14815
SGD 19764 20045 20613
THB 687 751 803
USD (1,2) 25748 0 0
USD (5,10,20) 25787 0 0
USD (50,100) 25815 25829 26194
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25830 26190
AUD 17709 17809 18731
CAD 17880 17980 18993
CHF 30911 30941 32515
CNY 3819.4 3844.4 3979.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28650 28680 30403
GBP 33862 33912 35670
HKD 0 3315 0
JPY 161.35 161.85 172.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14337 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19921 20051 20774
THB 0 716.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,170
USD20 25,662 25,812 26,170
USD1 25,642 25,812 26,925
AUD 17,739 17,839 18,947
EUR 28,465 28,565 30,221
CAD 17,800 17,900 19,206
SGD 19,986 20,136 20,690
JPY 161.61 163.11 168.65
GBP 33,740 33,890 35,220
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/10/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30